Tác giả |
|
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
Msg 541 of 2534: Đă gửi: 29 July 2008 lúc 8:05pm | Đă lưu IP
|
|
|
NHỮNG CÂU CHUYỆN KỲ BÍ
CHƯA CÓ LỜI GIẢI
không thể ngờ là vào khoảng trên 33 thế kỷ trước, một đứa bé chỉ ngồi trên ngai vàng, cai trị được vài năm th́ bệnh chết. Cậu bé con lên ngôi vua này, ngồi ngai vàng quá ngắn hạn, nên không tạo được lịch sử nào quan trọng cho Ai Cập được hết và cùng là lịch sử loài người luôn.
Mọi chuyện đó, chuyện vừa nói trên của ông vua con... tất cả thay đổi hết khi vào năm 1923. Năm 1923 Thế giới lấy làm kinh ngạc khi toán khảo cổ người Anh, đào xới từ ngôi mộ của Pharaoh (Vua) Tutankhamen, mà chúng ta gọi là King Tut. Rồi nhiều chuyện kỳ dị xảy ra.
Những người đào mồ lần lần chết trong vài tháng sau, với nhiều chứng bệnh không hiểu nổi. Thân thể nóng cao độ, lảm nhảm và chết vài giờ sau đó. Y khoa bó tay... nên người ta mới có lời nói như sau: "Đó là lời nguyền của Pharaoh".
Như cô thư kư ghi chép những tư trang của King Tut, cô có đứa con trai dễ thương đang học mẫu giáo trong trường th́nh ĺnh té xuống chết trong lớp học, giữa sự kinh hoàng của cô giáo và bạn học.
Tại bảo tàng viện Cairo, một người lao công ráng dời cái ḥm đựng King Tut cho ngay ngắn mà chùi những vết ố gần đó th́ sau ngày làm ông bị chiếc xe buưt Cairo chạy ngang đụng ông chết, lúc ông băng ngang đường.
Sau đó độ hai năm, khảo cổ người Anh cũng đào được trong ngôi mộ Luxor tại Aicập. Một cái ḥm rất đẹp, trong đó đựng xác một công chúa mà người ta đọc được tên là Amen-Ra (Princess of Amen-Ra). Nhưng lúc đó người ta chỉ chú trọng đến Vua Tut mà thôi, c̣n ḥm nhỏ công chúa Amen-Ra th́ người ta không để ư lắm.
Tại Ai Cập có một người Anh làm Trưởng pḥng bảo hiểm cho công ty Bảo hiểm Llyod Ltm, một người Anh làm Giám đốc Ngân Hàng London Banks Ltm, một người kia th́ con quận công tại York Shire Anh quốc, c̣n người chót th́ con của vua trường đua ngựa tại London. Có nghĩa là bốn người Anh này rất giàu. Họ nghe bảo tàng viện Ai Cập có bán đấu giá một số cổ vật, mà chánh phủ Ai Cập xem không quan trọng cho công chúng.
Lúc đó tại Ai cập, người Anh đang kiểm soát, cầm quyền nước Ai cập, y như tại Việt Nam người Pháp đang cai trị chúng ta vậy. Bốn người Anh trẻ này bỏ một số tiền mua được cái quan tài có được xác công chúa Amen-ra. Th́ trong ṿng hai tuần lễ tai nạn xảy ra lập tức.
Người làm tại bảo hiểm Llyod Ltm bị một con rắn hổ cắn vào tay khi anh vào thăm sở thú Ai Cập. Không hiểu tại sao trong bụi rậm kế nơi ghế anh ngồi, một con rắn hổ thật to ḅ đến cắn một phát vào bàn tay. Anh chết sau đó vài phút.
Nhân viên sở thú Ai Cập rất ngạc nhiên tại sao con rắn hổ từ trong chuồng nuôi rắn nơi xa mà ḅ ra được? Nó vượt qua nhiều pḥng kính rồi leo ra vách tường cao? Không ai giải thích được chuyện con rắn hổ ḅ ra khỏi chuồng nuôi rắn cho dân chúng xem? Nhưng anh này chết v́ rắn hổ là chuyện có thực.
C̣n một người Anh kia th́ ngân hàng anh đang làm bị phá sản vào vài tháng sau, v́ hăng anh cho mượn tiền rất nhiều cho một hăng tàu buôn bán từ London sang Ai cập. Hăng tàu này bị phá sản kéo theo ngân hàng của anh. Anh này tự vận v́ nợ quá nhiều.
C̣n chủ trường đua ngựa th́ trận hỏa hoạn lớn nhất thời đó, tiêu hủy toản bộ gia sản, chuồng ngựa quư của gia đ́nh này đều ra tro. Nhưng người chót, họ biết câu chuyện nguyền rủa này bèn chở quan tài công chúa Pricess Amen-ra tặng bảo tàng viện Anh quốc (British Museum).
Và câu chuyện cũng theo sau đó. Chiếc xe chuyên chở quan tài công chúa từ nhà kho của người Anh, người mà cho bảo tàng viện Anh. Chiếc xe này có chở quan tài công chúa trên đó, th́ một nhân viên trong hai nhân viên khiêng quan tài vấp bậc thềm, quan tài công chúa đập mạnh vào xương ống quyển nhân viên, làm găy chân tên này tại chổ.
C̣n người khiêng kia, sau đó ba hôm người ta thấy chết tại góc đường thủ đô London, ngực bị đâm bởi một con dao. Cảnh sát London cho rằng anh bị ăn cướp chận đường và đâm chết khi anh không móc bóp đưa cho tên cướp. C̣n nữa...
Người lính gác bảo tàng viện Anh quốc, đêm khuya nghe trên lầu có tiếng động khả nghi th́ anh rọi đèn bước lên, anh vào căn pḥng có chứa quan tài công chúa th́ anh thấy cửa sổ mở ra, anh nghi kẻ gian mở cửa leo vào pḥng. Anh thận trọng bước đến và rọi đèn ra ngoài khung cửa và anh té lọt ra ngoài khung cửa... té xuống đường nhựa từ trên lầu bảo tàng viện. Anh chết sau đó khi đến nhà thương. Anh lẩm bẩm: "người ta xô tôi, người ta xô tôi..." rồi anh chết trong nổi kinh hoàng đọng trên gương mặt.
Năm 1912 bảo tàng viện Anh quốc thấy quan tài nhỏ công chúa Amen-ra này không hấp dẫn du khách hay công chúng đến xem nên họ cất vào pḥng sau. Rồi sau đó người ta rao bán quan tài này trên báo Telegraph-London hàng tháng trời. Không người nào mua quan tài này làm chi.
Một quan tài, trong đó có xác ướp khô đét mà đầy lời nguyền. Trong khi đó báo chí Anh quốc đăng tải nhiều chuyện kinh sợ có liên quan đến quan tài King Tut nhiều hơn mọi chuyện khác. Nhiều nhà báo không việc ǵ làm, họ cố gắng nặn thêm nhiều tin ma quái... và không ăn nhập t́nh tiết liên quan đến King Tut.
Năm 1912 bảo tàng viện Anh bán quan tài Princess Amen-ra. Có người mua. Một người Mỹ, gia đ́nh rất giàu chuyên về nghề đầu tư chứng khoán tại New York. Anh cho chở quan tài này xuyên Đại tây Dương (Alantic Ocean), dĩ nhiên bằng Tàu biển.
Anh cùng đi chúng chuyến hàng đó với anh cùng 1500 người đó. Chuyến tàu đó mang tên là Titanic. Titanic không bao giờ tới New York mà giao quan tài Princess Amen-ra và người chủ qua tài cũng vậy. Tất cả chôn vùi dưới đáy đại dương sâu thẳm.
Sưu Tầm
|
Quay trở về đầu |
|
|
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
Msg 542 of 2534: Đă gửi: 29 July 2008 lúc 8:42pm | Đă lưu IP
|
|
|
TỪ NGOẠI CẢM TỚI TRAI ĐÀN
GIẢI OAN
Nhu cầu tâm linh của dân tộc Việt Nam
Nhiều nghệ sĩ lớn của Việt Nam từ xưa đến nay khi cảm nhận về lịch sử thường không quên “cơi bên kia” như đó là phần không thể thiếu được để làm nên lịch sử. Lịch sử, nhất là lịch sử Việt Nam, là một chuỗi đấu tranh, trong đó chiến tranh đóng một vai tṛ lớn, và phần quan trọng để làm nên các trang lịch sử đó là những người đă ngă xuống trên trận mạc và các biến động tranh chấp.
Người nghệ sĩ thay mặt cho tâm thức của cộng đồng ḿnh nhắc nhở về những người đă chết, tâm hồn mẫn cảm của họ thao thức nhiều với những người đă đem mạng sống của ḿnh để tạo thành một bức tranh mới cho lịch sử.
Sự cảm thông ấy từ lâu đă thành truyền thống trong đời sống tinh thần của người Việt Nam, có khi thô thiển trong đại đa số dân giă để sau này bị xem là mê tín dị đoan, hoặc có thể kết tinh thành những áng văn thơ bất hủ của các bậc nghệ sĩ trí thức, trải từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đặng Trần Côn trong bản chữ Hán, rồi Đoàn Thị Điểm trong bản dịch Chinh Phụ Ngâm, khi viết về chiến trận, bên cạnh khí thế oai hùng của “chàng tuổi trẻ vốn gịng hào kiệt,” vẫn không quên h́nh ảnh:
Hồn tử sĩ gió ù ù thổi Mặt chinh phu trăng dơi dơi soi Chinh phu tử sĩ mấy người Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn...
Một cảnh buồn thảm thiết. Người nghệ sĩ lớn của dân tộc, khi mở ḷng nh́n vào mặt trái của lịch sử, th́ bỗng bỏ hết chính kiến, bỏ hết phe phái, để chỉ nh́n thấy sự mất mát đau thương dằng dặc của chính đồng bào, đồng loại ḿnh.
Nguyễn Du, với bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh nổi tiếng, bày tỏ tấm ḷng bi mẫn của ḿnh đối với hàng loạt cái chết thảm thương khiến hồn người chết sau đó không siêu thoát được. Tác giả tuồng như đă “thấy” được nỗi bơ vơ, lạc lơng, lang thang tội nghiệp của hàng đàn hàng lũ oan hồn, và đặt lương tâm người sống một trách nhiệm làm sao giải thoát cho họ. Một vài h́nh ảnh oan hồn liên quan đến chiến tranh trong Văn Tế Thập Loại chúng sinh:
Nào những kẻ bài binh bố trận Vâng mệnh sai lĩnh ấn nguyên nhung Gió mưa thét rống đùng đùng Phơi thây trăm họ làm công một người
Khi thất thế cung rơi tên lạc Băi sa trường thịt nát máu trôi Bơ vơ góc bể chân trời Nắm xương vô chủ biết vùi vào đâu
Trời xâm xẩm mưa gào gió thét Khí âm ngưng mù mịt trước sau Năm năm sương nắng dăi dầu C̣n đâu tế tự, c̣n đâu chưng thường.
Trong thế kỷ 20, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước khi viết những bản nhạc lịch sử thời gian trước 1945 cũng trải qua nhiều giây phút sống với các oan hồn tử sĩ của những trang sử mà ḿnh đang hồi nhớ. Với Hát Giang Trường Hận th́:
Đêm khuya âm u ai khóc than trong gió ngàn Xác quân Trưng Nữ Vương rơi ngổn ngang bên nước tràn
Hồn ai đang thổn thức trên sông Hồn quân Nam đang khóc trên sông...
Sát khí ngất đất bao lớp thây vương bóng huyền Không gian như lắng nghe bao oan hồn đang xao xuyến
Xót thương ôi Nữ Hoàng trẫm thân Dù mạng vong lửa hờn chưa tan...
Với Ải Chi Lăng th́:
Hồi nhớ tới vó câu tập tễnh lướt qua làn khói–Giáp chiến!
Hồi nhớ tới bóng muôn cờ xí phất qua hùng vĩ–Cố tiến! ...
Lời ai nỉ non trong mây Hồn ai thở than nơi này? Lời gió hay lời muôn ngàn quân sĩ đă chết Hồn gió hay hồn ai c̣n thương tiếc?...
Phạm Duy th́ ngay khi cuộc chiến tranh sắp bắt đầu, đă nh́n thấy cái kết quả không tránh được của can qua. Ngay từ năm 1945 ông đă viết:
Mờ trong bóng chiều Một đoàn quân thấp thoáng
Quân này là quân ma, họ đă ra đi chiến đấu và đă ra người thiên cổ, ông dùng ngay h́nh ảnh ấy để lay động ḷng người đang đứng trước cuộc chiến giữ nước:
Ra biên khu trong một chiều sương âm u Âm thầm chen khói mù Bao oan khiên đang về đây hú với gió Là hồn người Nam nhớ thù.
Một thanh niên đang ở độ tuổi ngoài hai mươi, mang bầu máu nóng phụng sự cho đất nước mà đă sớm nh́n ra những h́nh ảnh của “cơi bên kia” như thế th́ cũng là chuyện lạ. Bài Nợ Máu Xương lại càng lạ hơn nữa, vừa hiện thực vừa siêu thực, tả toàn cảnh chết chóc v́ chém giết:
Ai nghe không sa trường lên tiếng hú? Tiếng lầm than, những tiếng người đời quên. Đi lang thang tiếng cười vang tiếng hú Xác không đầu nào kia?
Ông đă dùng những h́nh ảnh cổ điển của thi ca để vẽ nên sự chết chóc, sau đây vẫn là một đoàn quân ma đang tiến... về trời:
Lá rụng tơi bời Đoàn quân tiến qua làng. Từng thanh kiếm đứt ngang, Từng lớp áo rách mướp, Từng cánh tay rụng rời! Qua làn mây trắng Đoàn quân tiến về trời Ầm rung tiếng sa trường...
Đến trận chiến tranh Nam Bắc 1954-1975 th́ sự tàn phá và chết chóc đă vượt tất cả các trận chiến khác trong lịch sử Việt Nam trước đây, nhưng có cái lạ là ngay trong thời gian đánh nhau trong Nam cũng như ngoài Bắc không có tác phẩm văn nghệ nào đề cập đến “cơi bên kia” như ta đă thấy trong các thời kỳ trước qua các ví dụ trên đây.
Có thể giải thích: phía miền Nam vẫn duy tŕ đời sống tâm linh nên cả thể xác lẫn linh hồn người chết trong cuộc chiến đă được kính cẩn đón nhận bởi gia đ́nh, bởi tôn giáo và tín ngưỡng nên coi như phần lớn đă được an ủi, siêu thoát, “không có vấn đề” một cách trầm trọng; phía miền Bắc bị áp đặt chủ thuyết duy vật và vô thần, coi con người chết là hết nên trong cuộc chiến dù chết chóc đau thương đến mấy người ta vẫn lờ đi, xác chết th́ gặp đâu vùi đấy, và vấn đề tâm linh th́ chẳng bao giờ được nói tới.
Kết quả là ǵ? Sau khi cuộc chiến chấm dứt, trên đất Bắc bắt đầu rộ lên phong trào đi t́m mồ mả của những kẻ chết trong chiến tranh, đặc biệt những người “sinh Bắc tử Nam” và như một hệ quả tất nhiên, một số tác phẩm văn chương, dù là ít oi, đă bắt đầu nói đến các hiện tượng ma quái của các nơi chiến trường xưa (Bảo Ninh, Nỗi Buồn Chiến Tranh, Dương Thu Hương...) và đặc biệt nhất là sự xuất hiện các nhà ngoại cảm để giúp đỡ, hướng dẫn công việc đi t́m mồ mả
Phong trào t́m mộ nhờ ngoại cảm
Trong nước Việt, từ đầu thập niên 1990, hiện tượng Ngoại Cảm nổi bật lên từ Bắc vô Nam, v́ nhờ các nhà ngoại cảm mà rất nhiều người t́m ra mộ phần của thân nhân đă chết, mất xác trong chiến tranh. Có hàng trăm nhà ngoại cảm khắp ba miền đất nước, trong đó nổi tiếng nhất là cô Phan Thị Bích Hằng, các ông Nguyễn Văn Nhă, Nguyễn Văn Liên, Dương Mạnh Hùng, Nguyễn Khắc Bảy v.v… Sau ba Đại Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan tại Sài G̣n, Huế và Sóc Sơn (Hà Nội), do tăng đoàn Làng Mai chủ xướng, phong trào ngoại cảm lại được dân chúng bàn tới nhiều hơn.
Theo báo chí Hà Nội, hàng chục ngàn ngôi mộ các quân nhân chết trong chiến tranh được các nhà ngoại cảm t́m ra, do thân nhân họ yêu cầu, hoặc do những lời nhắn gửi của người từ cơi âm. Người Cộng Sản duy vật vốn tin rằng Chết là Hết; nhưng trước phong trào đi t́m mộ tử sĩ của dân chúng, nay họ đă lập ra bộ môn Cận Tâm Lư chuyên khảo sát về hiện tượng Ngoại Cảm. Bộ phận này thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Tiềm Năng Con Người, do tổ chức các hội khoa học tại Hà Nội thành lập.
Theo ông Vũ Thế Khanh, tổng giám đốc một công ty tin học ứng dụng, ở Việt Nam có gần 100 nhà ngoại cảm có khả năng đặc biệt, trong đó chỉ chừng mươi người có thể t́m mộ một cách xuất sắc. C̣n số người lừa bịp, tự phong cho ḿnh khả năng ngoại cảm, th́ phải hàng ngàn. Theo các nghiên cứu sơ khởi, các nhà khoa học VN nhận biết có bốn con đường dẫn tới khả năng ngoại cảm: do bẩm sinh, sau các trận ốm hoặc bị chấn thương nặng (điện giật, chó dại cắn…); do thiền định hoặc do huấn luyện (?).
Theo ông Khanh, các thiền sư đắc đạo có khả năng ngoại cảm nhưng các vị không màng tới chuyện thi triển các thần thông như thiên nhăn thông, thiên nhĩ thông v.v… nên chúng ta không được biết họ. Ngoài đời, cũng theo ông Khanh, nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhă hiện đang sống tại Sài G̣n, là người nhờ thiền định mà có được tầm nh́n rất xa, giúp được nhiều người t́m ra mộ thân nhân ở măi các vùng quê xa xôi Bắc Việt. Ông thường giúp người, không nhận thù lao, và nhiều khi không cho các thân chủ gặp mặt… Ngày nay, ông Nhă đă bỏ nghề ngoại cảm, chuyên lo tu tập và ấn hành kinh sách của ḥa thượng Thanh Từ.
Nhà ngoại cảm nổi tiếng nhất trong nước hiện nay là cô Phan Thị Bích Hằng, sanh năm 1973 tại một làng quê nghèo tỉnh Ninh B́nh. Năm 1990 cô và một người bạn gái cùng bị chó dại cắn, cô bạn chết nhưng cô thoát hiểm nhờ gia đ́nh hết ḷng cứu chữa. Sau đó, cô bắt đầu nh́n thấy những người đă chết từ lâu (như bà nội, bà ngoại của cô v.v…); rồi cô có khả năng nh́n thấy cái chết gần kề của người sống trong làng…
Bị gia đ́nh và dân làng coi như người điên, cô đă chứng tỏ được sự lành mạnh tinh thần của ḿnh bằng cách thi được vào đại học Kinh Tế. Càng ngày cô càng có nhiều khả năng ngoại cảm nhiều hơn: cô nh́n thấy người chôn trong mộ dưới ḷng đất sâu, nhận biết h́nh dáng và nghe được tiếng nói của các nhân vật quá cố. Cô tiếp xúc được với “linh hồn” c̣n ở trong các ngôi mộ đó, dù thân xác đă rữa nát hết… Trong ngày giỗ tổ, cô Bích Hằng t́m ra được mộ ông tổ bốn đời mà gia đ́nh thất lạc từ lâu.
Từ đó, cô đi sâu vào việc đi t́m mộ giúp những gia đ́nh có con chết trận, mất xác. Trong hàng ngàn câu chuyện đi t́m mộ, ly kỳ và khó tin như truyện Phong Thần đời xưa; chuyện mà nhiều người biết nhất, là trường hợp Giáo sư, cựu phó thủ tướng Trần Phương t́m ra mộ cô em gái: Cô Khang bị Tây giết rồi quăng xác xuống sông Luộc từ đầu thập niên 1950. Sau đó là chuyện ông Toàn Thắng, (con trai tướng Trần Độ, tức Tạ Ngọc Pháp), đă t́m được mộ bà cô ruột là Tạ Thị Câu (chị gái của ông tướng, hoạt động cho Việt Minh trước ông em, từ năm 1939). Bà bị Tây bắt năm 1941, và gia đ́nh chỉ được tin là bà đă chết ngày 29/9/1944, mà không biết xác bà ở đâu.
Cựu phó thủ tướng Trần Phương là một người Mác–xít, chỉ tin ở khoa học, không bao giờ cúng lễ trong gia đ́nh. Nhưng sau khi nhờ ông Nguyễn Văn Nhă và cô Bích Hằng t́m được mộ em (cách năm bà từ trần cả nửa thế kỷ), với nhiều chứng cớ kỳ lạ, ông đă phát biểu: “Hài cốt em tôi th́ tôi đă t́m thấy, nhưng những con đường bí ẩn dẫn đến kết quả ấy th́ vẫn là bí ẩn. Khám phá ra những bí ẩn ấy không phải là điều dễ dàng. Tôi chỉ từ kinh nghiệm ḿnh mà nêu lên vài vấn đề để các chuyên gia về lĩnh vực này xem xét…”
Ông Trần Phương cho rằng ông có căn cứ để tin là ḿnh “đă gặp linh hồn của em tôi, anh tôi và chị tôi, cả linh hồn cụ Giám là người chôn cất em tôi, cụ An là người chứng kiến… Cháu Bích Hằng đă nhận diện được linh hồn, thậm chí nhận diện được linh hồn qua tấm ảnh; đă nghe được tiếng nói của linh hồn. Như vậy linh hồn phải tồn tại dưới một dạng vật chất nào đó, có h́nh thù, có tiếng nói. Đă là một dạng vật chất th́ vật lư học, hóa học, y học, sinh học, với những phương tiện quang học và điện tử tinh vi, hẳn sẽ có ngày t́m ra.”
Ông Trần Phương rất thắc mắc về thế giới của những linh hồn người chết, không biết họ ảnh huởng thế nào tới thế giới người sống và họ tồn tại như thế vĩnh viễn hay chỉ một thời gian? Khả năng ngoại cảm là do đâu mà có?...
Cô Phan Thị Bích Hằng đă tự thuật ngày 25 tháng 3, 2007, trước hàng ngàn người tại chùa Hoằng Pháp (Hóc Môn), về công việc t́m mộ mà cô làm từ khi có khả năng ngoại cảm, trước mặt quư sư Giác Ngộ trụ tŕ chùa Hoằng Pháp, và thượng tọa Nhật Từ.
Cô cho biết từ năm 1996 tới nay, cô đă giúp thân nhân người chết t́m được 2.567 ngôi mộ, trong số đó chỉ có 17 trường hợp không thành công. Các ngôi mộ này ở nhiều vị trí rất phức tạp: trên núi cao, trong rừng sâu, dưới ḷng sông rạch… Cô cho biết, người t́m mộ thân nhân phải có ḷng thành, tha thiết tới việc này, th́ cô sẽ thành công nhanh.
Sống cuộc đời b́nh thường của một phụ nữ có gia đ́nh, cô Bích Hằng có khả năng nh́n được người nằm trong mộ, và nghe được họ nói chuyện. Lần đầu tiên nghe được tiếng người cơi âm, là khi cô nghe thấy tiếng nói của bà cụ mẹ Giáo sư Mai Hữu Khuê. Do đó, cô là nhà ngoại cảm t́m được nhiều mộ nhất, v́ ngoài yêu cầu của người sống, cô c̣n đưa tin tức dùm một số các người cơi âm tới cho gia đ́nh họ. Các âm hồn, qua cô, c̣n mách bảo cho biết vị trí một số mộ của những người lân bang với họ; như trường hợp mộ của nhà cách mạng Lương Ngọc Quyến (khởi nghĩa tại Thái Nguyên 1917).
Chính v́ có các khả năng này mà cô đă chứng minh được để mọi người tin rằng thế giới cơi âm là một hiện thực, tồn tại dưới các tần số sóng âm, từ trường khác với chúng ta (cơi dương).
Ngoại cảm trong ánh sáng của đạo Phật
Theo thượng tọa Nhật Từ, khả năng ngoại cảm tương đương với các thần thông như thiên nhăn thông, thiên nhĩ thông của chư Phật, của chư Bồ tát và các thiền sư chứng đạo. Quư ngài có thể nh́n và nghe rất xa, xuyên thấu mọi vật chất như đất, đá, núi sông v.v… Thời gian và không gian không c̣n giới hạn được quư ngài.
Hơn nữa, quư ngài c̣n hiểu được tâm ư đối tượng (tha tâm thông). Chúng ta ai cũng có những khả năng tâm linh này nhưng chưa khai mở được ra đó thôi. Con người b́nh thường, khi có một tai nạn lớn, th́ tâm thức họ có thể bật ra được các khả năng kỳ diệu – như cô Bích Hằng do vết thương chó cắn, ông Nguyễn Văn Chiếu, do bị điện cao thế giật suưt chết.
Các nhà ngoại cảm khi mô tả sắc tướng và phiên dịch các lời nói của người âm, họ đều ở trong t́nh trạng tỉnh táo: tiếng nói không thay đổi, khuôn mặt và h́nh sắc không khác. Họ hoàn toàn không giống các đồng cô bóng cậu… họ chỉ có khả năng nh́n và nghe hơn người thường mà thôi.
Thượng tọa Nhật Từ cho rằng vấn đề thông tin được với cơi âm qua các nhà ngoại cảm, là một tiếng chuông cảnh tỉnh rất lớn, khiến cho những người hoàn toàn theo duy vật chủ nghĩa phải giật ḿnh: sau khi chết, không phải là hết chuyện! Thân thể con người sau khi chết sẽ biến đổi, tan ră và trở về với tứ đại: đất, nước, gió, lửa. Tâm thức chúng ta cũng sẽ tan biến vào gịng sống của vũ trụ, để rồi khi hợp đủ duyên, sẽ biểu hiện ra một thân mạng mới hay dở tùy theo nghiệp lực ḿnh đă tạo ra trong suốt cuộc đời ḿnh.
Nhưng khi bị gục ngă bất ngờ trong chiến trường, chết v́ bom đạn trong chiến tranh, đa số người ta không được siêu thoát và với ảo tưởng sâu dày về cái Ngă trường tồn, những người đó bám víu vào h́nh tướng cũ của ḿnh; đau khổ triền miên v́ có nhiều ray rứt, nhiều chuyện dở dang, chưa giải quyết. Cảm giác mất mát, tiếc nuối hay ân hận của người chết khiến cho tâm thức họ không bước được vào cảnh giới tốt đẹp hơn. Chết rồi mà không siêu thoát, không được đầu thai vào kiếp khác, các người âm đó vẫn tưởng như ḿnh c̣n sống, tiếp tục tham sân si và bị vướng mắc, đau khổ, y như khi c̣n sống vậy.
Trong bài giảng tại chùa Ấn Quang ngày 8 tháng 4, 2007, thượng tọa Nhật Từ đă phân tích các nguyên nhân đưa tới hiện tượng bùng phát của Ngoại cảm. Theo ông: các nhà ngoại cảm xuất hiện tại nước Việt nhiều nhất, so với các xứ khác trên thế giới, v́ nhiều lư do, nhất là :
Chiến tranh quá lâu trên đất nước Việt Nam với người Trung Hoa (một ngàn năm), người Pháp (100 năm); và cuộc nội chiến (21 năm) giữa hai miền Nam Bắc gây ra bao cảnh tương tàn, khổ hận. Các nhà ngoại cảm thông tin được dùm người cơi âm, để cảnh tỉnh người sống biết quay về con đường đạo đức, sống thiện lành hơn.
T́nh trạng tiến bộ vật chất trong khung cảnh toàn cầu hóa khiến cho người dân Việt dễ bị tha hóa, cho việc mưu toan làm giàu là quan trọng nhất thỏa măn cuộc sống vật chất là mục tiêu của cuộc sống. Các nhà ngoại cảm nhắc nhở chúng ta về nghiệp dĩ, luân hồi, về tái sanh v.v… để biết đường mà sám hối, cảnh tỉnh.
Thượng tọa Nhật Từ cũng giải thích các hiện tượng Ngoại Cảm như sau:
Cơi âm của các linh hồn chưa siêu thoát, chính là cảnh giới Ngă quỷ một trong sáu cơi mà kinh Phật thường nói tới: Trời Người Atula Ngạ Quỷ Súc sanh. Ngạ quỷ là cơi của những người chết mà chưa thoát được cái Ngă chấp về ḿnh. Thân chết nhưng tâm c̣n vướng mắc, c̣n chấp vào xác thân cũ, nên không siêu thoát sang các cảnh giới khác được.
Đối với cái nh́n Phật giáo: “thân này không phải là tôi,” khi chết đi, xác thân ḿnh sẽ bị hủy hoại, mục nát, biến đổi v́ tứ đại tan ră… nhưng tâm thức chúng ta sẽ được chuyển đổi, biểu hiện ra trong những thân mạng mới , tức là đầu thai sang kiếp khác. Nếu nghiệp dĩ đă nhẹ nhàng, ta sẽ được siêu thoát, vượt qua được ṿng sinh tử của cơi luân hồi, nhập vào cơi Phật.
Phật giáo cũng nói tới các thần thông mà chư Phật cùng các Bồ Tát, các Thiền sư cao cấp đă chứng nghiệm được. Theo thượng tọa Nhật Từ, các nhà ngoại cảm là những con người bẩm sinh hay v́ một tai nạn, một biến động đặc biệt, đă khai mở được vài ba loại thần thông đó. Họ có thiên nhăn thông, thiên nhĩ thông và tha tâm thông: nh́n thấu qua đất đai, rừng núi, nh́n từ nơi rất xa, nghe được những âm thanh mà người thường không nghe nổi và đọc được tâm t́nh của người khác, dù ngừơi đó sống hay đă chết.
Thượng tọa cũng cho rằng hiện tượng ngoại cảm không phải là chuyện mê tín dị đoan. Các nhà ngoại cảm thứ thiệt không như các cô đồng cậu bóng, khi tiếp xúc với người cơi âm, họ vẫn tỉnh táo và nói tiếng của họ không đổi giọng. Họ chỉ diễn tả những ǵ nh́n thấy và nhắc lại những ǵ người âm muốn thông tin qua họ mà thôi.
Oán cừu tồn tại dai dẳng giữa những người đang sống ở cơi dương cũng như các mối oan khiên của người cơi âm chưa giải được, sẽ gây ra thêm nhiều khổ năo cho dân tộc. Trong văn hóa Phật giáo mọi người đều tin vào thuyết “âm siêu dương thái” người chết siêu thoát, th́ người sống mới thái b́nh.
Thượng tọa Nhật Từ cũng cho rằng các nhà ngoại cảm đă vén lên bức màn của cơi âm mà Phật đă đề cập tới trong giáo lư luân hồi, tái sinh. Với những thông tin từ các nhà ngoại cảm, người ta hiểu được v́ sao các chùa vẫn cúng tế cô hồn, hướng dẫn cho họ dễ siêu thoát. Các trai đàn giải oan là đàn tràng tập thể do nhiều tu sĩ đạo hạnh thực hiện, đem nghiệp lực thanh tịnh ra giúp cho các oan hồn được giải nghiệp, nhẹ nhàng.
Cô Phan Thị Bích Hằng cùng nhiều đồng bạn đă tham dự một trai đàn bạt độ tại chùa Linh Thắng tỉnh Di Linh vào cuối tháng Ba 2007, sau đại trai đàn giải oan tại chùa Vĩnh Nghiêm do tăng đoàn Làng Mai tổ chức cùng chư tăng miền Nam. Cô Bích Hằng cho biết, cô đă nh́n thấy rất nhiều hương linh trẻ có già có, lành có, khuyết tật cũng nhiều…
Họ dắt díu nhau t́m vào cửa Phật để được nghe kinh, được siêu độ. Cô cảm nhận được năng lượng thanh tịnh và thánh thiện của quư vị tu sĩ khi họ tụng kinh, cầu nguyện, và cô rất xúc động. Cô Bích Hằng : “rất tin vào sự siêu độ của nhà Phật. Bằng sự thanh tịnh và cả tấm ḷng từ bi của quư thầy qua lời kinh Phật dạy, các hương linh nghe hiểu và sẽ xả bỏ được oan nghiệt, từ đó họ mới mong được sám hối và siêu thoát.
Đó cũng là điều mà các hương linh thường nhờ tôi nhắn với gia đ́nh họ: nên cầu siêu cho họ. Tôi mong sao một số tỉnh thành trên cả nước, tại những nơi mà chiến tranh xảy ra ác liệt nhất như Quảng Trị, Quảng Nam, Điện Biên Phủ, và các tỉnh Tây Nguyên…
những nơi chưa có chùa th́ nên lập chùa và có nhiều trai đàn chẩn tế như thế này để mà cầu nguyện cho các oan hồn được mau siêu thoát. Thú thật, thầy cúng th́ rất nhiều nhưng tôi vẫn cứ tin vào nhà chùa v́ tôi tin vào đức độ, ḷng từ bi và cái tâm trong sáng của quư thầy…”
Dương an, âm siêu?
Thế giới người âm có ảnh hưởng hay không trên dương thế là chuyện nhiều người thắc mắc. Nhưng, khi tâm an, người sống chắc cũng sẽ ảnh hưởng không ít trên người thân đă khuất bóng. Nếu có sự kiện “âm siêu dương thái” th́ cũng có chuyện “dương b́nh an, âm siêu thoát”. Khoa học ngày nay cũng chia sẻ cái nh́n “tương tức” của đạo Phật.
Đạo Phật và cách thực hành, theo cách giảng dạy của các thiền sư hiện đại, là một lối sống tích cực, giúp cho mọi người chuyển đổi cái tâm để sống một cuộc đời b́nh an, hạnh phúc hơn rất nhiều. Người Âu Mỹ vốn tin vào khoa học thực nghiệm, hiện nay cũng đang đổ xô đi t́m thiền. Và giới khoa học gia về thần kinh năo bộ đang làm nhiều cuộc thử nghiệm quan trọng về ảnh hưởng của thiền tập trên năo bộ.
Đại sư trẻ tuổi Tây Tạng Yongey Mingyur (sinh 1975), trong cuốn sách mới (The Joy of Living), đă dùng các thông tin về khoa học thần kinh mới nhất để lư giải về những ích lợi thực tiễn của Thiền quán.
Theo đại sư Yongey và theo những thử nghiệm mới đây trong khoa thần kinh năo bộ, th́ sự thực tập thiền định (tinh chuyên) có thể làm gia tăng hoạt động tại các trung khu năo bộ liên quan tới hạnh phúc và ḷng từ bi.
Thiền không chỉ giúp cho con người có sự chú tâm, b́nh thản để vượt qua các khó khăn tâm lư, mà thiền c̣n là phương pháp giúp họ trở về với ḷng Từ Bi, sự Hiểu Biết chân thật những bản tánh vốn có sẵn trong tâm mỗi người…
Những con người có khả năng sống với sự b́nh an nội tại, họ có nhiều hấp lực và ảnh hưởng thiện lành trên người khác, trên môi trường. Người xưa có câu “Người quân tử ở đâu th́ nước ở đó trong hơn, cỏ xanh hơn…”.
Sự an b́nh của người sống có ảnh hưởng không ít trên người chết. V́ vậy mà đạo lực và tâm thanh tịnh của các vị tu sĩ có thể giúp cho người cơi âm được siêu thóat, khi họ lập ra các đàn tràng để cầu nguyện, siêu độ cho các oan hồn?
Cam Vũ
|
Quay trở về đầu |
|
|
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
Msg 543 of 2534: Đă gửi: 29 July 2008 lúc 9:53pm | Đă lưu IP
|
|
|
THUYẾT NHÂN QUẢ
Xin chào mọi người. Câu chuyện này là câu chuyện xảy ra với chính gia đ́nh nhà tôi và đương nhiên vào thời gian đó tôi là người chứng kiến rơ nhất. Trước tiên nếu như bạn hay gia đ́nh nhà bạn theo Đạo Phật th́ sẽ hiểu hơn thế nào là Thuyết Nhân Quả.
Tức là đời này chúng ta làm ác th́ một là sẽ gặp báo ứng ngay hậu vận đời này, hoặc sẽ chịu quả báo vào kiếp sau. Vậy nên mới có những câu chuyện trớ trêu về Nghiệp chướng của kiếp trước kéo về kiếp này để báo chướng (báo oán).
Hơn nữa các bạn cũng cần hiểu thêm là tất cả các tội ác, nghiệp chướng mà con người mắc phải đều do Tham (tham lam) Sân (nóng giận) Si (không hiểu biết) gây ra. Vậy nên trong Kinh nhà Phật khi chúng ta tụng Kinh đều có bài Sám Hối... Văng tích sở tạo chư ác nghiệp, Giai do vô thủy Tham Sân Si....
Đạo Phật th́ dạy con người ta sống tốt, tạo nghiệp duyên cho kiếp sau. Đạo Giáo cũng vậy nhưng đạo Giáo coi trọng Nhân Hiếu Tiết Lễ Nghĩa hơn. Tuy nhiên nhiều người và nhất là hiện nay đánh đồng đạo Giáo và đạo Mẫu.
Và cũng không ít người đă khẳng định đạo Giáo là từ Trung Quốc sang. Đương nhiên chúng ta cần phải rạch ṛi rằng đạo Giáo Việt Nam không phải là đạo Giáo Trung Hoa với Lăo Tử mà đạo Giáo Việt Nam chính là đạo Thờ Thần (các quan).
Tại sao tôi phải khẳng định nhiều về các Đạo nhiều thế v́ nó liên quan rất nhiều tới câu chuyện của nhà tôi.
Đương nhiên sinh ra và lớn lên trong gia đ́nh mà 5 đời làm thầy, th́ chưa có câu chuyện kỳ bí ǵ tôi chưa được nghe và chưa được chứng kiến. Nhưng cái chuyện này nó lại nằm ngoài sự tưởng tượng của tôi và gia đ́nh tôi
Bà ngoại tôi (bà là thầy học theo thuật Khổng Minh va Quỷ Cốc Tử) được bảy người con gái, mẹ tôi là thứ hai. Nhưng cũng thật trớ trêu và thảm họa gia đinh tôi đó là ông ngoại mất năm 37 tuổi, (khi đó mẹ tôi mới 13 tuổi).
Được hơn ba tháng sau th́ chị gái Mẹ tôi cũng qua đời (bác bị chết đuối). Lạ thay là trước khi Bác mất th́ có con chó trắng chạy quanh nhà và khi vớt bác lên th́ trong phổi không có nước.
Thấm thoát hơn hai mươi năm sau th́ trong một đêm tầm 12 giờ, bác tôi về nhà nhập vào bà ngoại tôi và đ̣i gọi ngay mẹ tôi xuống nhà bà ngoại để nói chuyện (lúc đó tôi 12 tuổi).
Khi mẹ tôi và tôi xuống nhà bà ngoại để gặp bác, th́ bác lao ra túm lấy mẹ tôi khóc (lúc đó bác nhập vào bà ngoại tôi):
- Em ơi! em sắp chết rồi!
Nghe được những lời đó mẹ tôi sởn gáy ốc và không biết làm thế nào. Bác kéo mẹ tôi vào pḥng trong và dặn ḍ :
- Nhà thàng A (bố tôi) có người nhà làm to ở dưới âm, em kêu nhiều đến người ta, người ta đổi mạng cho.
Thế là từ hôm đó về, mẹ tôi kêu khấn trung thiên. Ông nội tôi, lúc đó đang tu ở chùa Giám Hải Dương , ngày nào cũng tung kinh Thủy Sám cho mẹ tôi. May mắn nhờ trời nhờ Phật mà mẹ tôi qua tuổi 37 an toàn.
Câu chuyện bặt đi được hơn chục năm th́ lần này lại một chuyện khác xảy ra. Bà d́ (tức là mẹ tôi gọi là cô) bị bệnh tim và mất năm 49 tuổi. Khi bà d́ mất ở bệnh viện th́ có bà ngoại tôi ở đó. Bà d́ cứ ôm chặt lấy bà ngoại tôi và nói :
- Chị ơi! Chị cứu em, chị đừng để người ta bắt em đi. Nói rồi bà d́ chết trên tay bà ngoại tôi. Cái đó làm bà ngoại tôi băn khoăn rất nhiều về cái chết kỳ lạ này.
Được khoảng hơn một tháng sau th́ nhà tôi Hầu đồng. Lại nói thêm rằng Hầu Đồng ở nhà tôi là Hầu Đồng phán (các quan ứng đồng phán cho biết tai ách vận hạn). Tức là chỉ có nhà tôi tổ chức và không có con nhang đệ tử hay người ngoài.
Nó cũng không phải là Hầu Đồng theo kiểu kinh doanh nhảy chồm chồm rồi múa kiếm múa cờ phát lộc. Lần đó là tôi ngồi, đột nhiên người tôi nặng trịch và không điều khiển được ḿnh nữa. Người tôi cao lớn hơn và vai cứng hơn, đầu và cổ cứng ngắc.
Vị quan tát mẹ tôi một cái như trời giáng, làm mẹ tôi tóe cả máu mồm (tôi th́ ko thể tát mẹ như thế được rồi):
- Ta đổi số cho ngươi mà ngươi không thèm cảm ơn ta một câu.
Vị quan đó nói như vậy. Mẹ tôi cầu khẩn xin tha tội và hỏi ra th́ mới biết đó là cụ nhà tôi, làm Giám sát tuần quan Ty ngục ở dưới âm, người đă cứu mẹ tôi khỏi cái nạn 37.
Thế rồi cụ nói thêm rằng nhà ngoại tôi có cái Tiền Oan Nghiệp Chướng nặng, nó sẽ theo và bắt người trong họ chết trẻ. Muốn giải tiền oan nghiệp chướng này chỉ có thể nhờ phép Phật, phép Thánh mà thôi.
Nói xong cụ thăng mất. Mẹ tôi rất hoang mang không biết là Tiền Oan nghiệp chướng ǵ. Tiếp theo th́ quan Đệ ngũ tuần tranh ngài về (Đặc trưng giá ngài về như thế nào th́ xin phép được kể cho mọi người sau, nó không phải về như kiểu Đồng kinh doanh mặc áo xanh và múa thanh long đao).
Ngài kể lại cho mẹ tôi và gia đ́nh tôi về cái tiền oan nghiệp chướng nhà tôi, mà chính câu chuyện ngài kể bà ngoại tôi cũng biết, và chứng kiến năm bà về làm dâu nhà ông ngoại tôi.
- Nhà con có một Tiền oan nghiệp chướng rất nặng. Đó là vào đời thứ ba nhà con (tức là mẹ tôi gọi là ông nội, tôi gọi là cụ ngoại) đă giết người rồi vùi xác người ta xuống ruộng. Giờ người ta t́m để báo oán. Ḍng họ nhà con sẽ chỉ có toàn người chết trẻ mà thôi.
Ta thấy oan t́nh, oan mạng, oan trần là ta phải ra tay cứu giúp nhưng án oan này quá lớn, e sức ta khó hóa giải. Ta mách cho con nhờ cậy đức Trần Triều ngài giải hộ cho kiếp oan này.
Nói rồi ngài chảy hai hàng lệ và xa giá hồi cung. Nhà tôi rất hoang mang không biết nên làm thế nào. Bà ngoại tôi lúc đó mới kể lại câu chuyện của gần 70 năm về trước, mà những người trong đó giờ đă thành người thiên cổ.
- Cụ B (ông nội mẹ tôi) ngày xưa cùng với bốn ông khác ở làng này, mang thằng địa chủ và mấy thằng tây ra chặt đầu rồi vùi xác nó xuống ruộng. Ngày đó cả làng cả xă biết, ai cũng muốn giết bọn địa chủ cường hào ấy nhưng mà không dám. Chỉ có bốn ông là dám thôi. Không ngờ giờ lại thành họa
Thế rồi bà ngoại tôi lập đàn và làm sớ dâng trung thiên tấu Thiên đ́nh cầu giải oan nghiệp (bố tôi và bà ngoại đều làm thầy, bố tôi là nhà nho). Thỉnh được đức Trần Triều hạ phàm vào bà tôi giải oan.
Không ngờ rằng đâu chỉ dừng lại ở ruộng kia mà c̣n một vong hồn nữa tôi sẽ kể sau. Đức Trần triều ngài triệu vong hồn, thi hương khoán trói và làm theo đúng yêu cầu của hai vong hồn bị chặt đầu vùi ruộng kia.
Vong hồn Tây nhờ Đức trần triều giải oan và cho xin một cỗ thuyền buồm để về quê hương và không đi báo oán nữa. Ngài phê chuẩn và khoán hương cho vong Tây.
Vong địa chủ cứng đầu hơn và không đ̣i ǵ cả, chỉ đ̣i báo oán. Cuối cùng Đức Trần triều ngài dùng biện pháp mạnh, trói vong và thi triển phép th́ vong địa chủ mới chịu nhận lời.
Nhà tôi hứa sẽ lập đàn giải oan và cung phụng đầy đủ những ǵ vong địa chủ yêu cầu. Sau khi ngài giải oan xong ngài xa giá hồi cung ngay, v́ chắc ngài c̣n bận chuyện thiên đ́nh. Thế là cả nhà tôi thở phào nhẹ nhơm v́ đă giải được tiền oan nghiệp chướng.
Bà ngoại tôi thở dài. Tôi biết rằng bà không ngờ tới rằng Tiền oan nghiệp chướng lại rơi vào nhà bà, vị thầy mà bao nhiêu người nhờ vả, bắt ma chữa điên cho bao nhiêu người ở vùng đất đô hội này. Có lẽ chính v́ bà chủ quan nên không ngờ ra được. Các bạn đă nghe câu này bao giờ chưa
NHẤT BẦN NHỊ YỂU TAM VÔ TỰ
Thế nhưng, vậy vẫn chưa yên. Trong một lần ngồi Hầu Đồng th́ đức Hoàng Bảy Bảo Hà giáng vào tôi và nói rằng, vẫn c̣n một vong chết oan nữa bám gấu áo của ngài kêu oan. Nói đến đó th́ giot nước mắt ngài tuôn rơi.
Không phải thương cho gia d́nh tôi mà thương cho vong kia đáng thương quá và ngài hết sức giận cụ ngoại tôi (tức ông nội mẹ tôi, người đă cùng với bốn người chặt đầu địa chủ vùi xuống ruông). Cái chuyện giết địa chủ thời trước đó th́ bà ngoại tôi biết, nhưng chuyện này th́ đúng thật là ko ai biết.
Tại sao lại c̣n một vong nữa kêu oan với quan Hoàng Bảy, và ngài lại rủ ḷng thương xót đến vậy, và tại sao vong đó lại lên tận Bảo Hà kêu oan.
Quan Hoàng Bảy rưng rưng thuât lại cho gia d́nh tôi: Vong này là cậu thanh niên 18 tuổi làm ở đồn điền cao su. V́ xích mích với B (ông nội mẹ tôi) mà hai người đánh nhau. Đêm đó B dùng liềm giết chết người thanh niên và chặt đứt tay chân đem vất xuống vực.
Cho đến giờ vong này vẫn c̣n hồn phách tiêu tán, mà chưa t́m đủ để đầu thai chuyển giới. Quan Hoàng Bảy ngài phẩy tay một cái, tức th́ người Mẹ tôi co rúm lại và cứ nằm dưới sàn chiếu co quắp tay chân đờ ra.
Ngài nói rằng :
- Ta cho vong đó nhập hồn để nói lên nỗi oan. Vong thanh niên (lúc đó nhập vào mẹ tôi) khóc lóc như chưa bao giờ tôi nghe thấy ai khóc thảm thương hơn và thương hơn nữa là tay chân không cử động được và cứ nằm trườn như con lươn.
Nhà tôi từ trên xuống dưới chứng kiến cảnh đó đều không cầm được nước mắt. Bà ngoại tôi nói rằng :
- Sao lại có người độc ác hại người ta đến mức này cơ chứ.
Phải những hơn một tiếng đồng hồ vong thanh niên đó cứ kêu xin quan Hoàng Bảy cho đi báo oán chứ nhất định ko chịu đầu thai.
Và quả thật, tôi lúc đó trong bụng vẫn tỉnh táo nhưng lời nói và cử chỉ th́ lại không điều khiển được, v́ Quan Hoàng Bảy đang giáng tôi. Ngài xử vụ án oan này thật là có t́nh có lư, và đúng thật là tôi chưa thấy ai lại đưa ra một kết cục hợp lư hợp t́nh đến vậy.
Ngài quỳ xin đức Quan Thế Âm Bồ Tát hoàn hồn cho vong kia khỏi phải cái cảnh không chân, không tay lê lết. Và quá hiệu nghiệm khi ngài vừa kêu Bồ Tát xong th́ vong kia (lúc đó đang nhập mẹ tôi) quỳ gối khoanh tay lạy ngài rất nhiều. Vong đó đói, d́ J (em mẹ tôi) bổ xoài đưa cho vong đó ăn mà vong đó như nuốt chửng quả xoài, nh́n thực sự là ko cầm được nước mắt.
Quan Hoàng Bảy sai gia đ́nh tôi phải sắm đủ thứ để đền bù cho vong kia. Nhưng vong đó nhất định không cần :
- Con không cần thưa quan, con ko cần một hào một cắc của họ, con không thèm không thèm, không thèm. Con chỉ cần trả lại công bằng cho con.
Vong đó gào lên khóc. Tiếng khóc làm cả gia đ́nh tôi như lịm đi v́ thương xót cho số phận người thanh niên ấy. Quan Ḥang Bảy ngài cười thật hiền dịu, ngài nắm bàn tay vong đó mà nói:
- Ta đă xin Bồ Tát cho con hoàn hồn để con khỏi phải chịu cảnh lẩn trốn nữa. Ta cũng đem lại công bằng và đạo lư cho con. Giờ con đă được hoàn hồn để đi chuyển thế đầu thai, con hăy diệt bỏ ḷng Hận để đón nhận ḷng Từ như vậy mới là thuận theo ư thiên đ́nh. Giờ ta thương xót cho hoàn cảnh của con, ta cũng không nỡ để con đi xuống âm luận tội. Ta sẽ xin thiên đ́nh cho con đi theo hầu ta, như vậy con có bằng ḷng?
Vong thanh niên lê đến gần ngài vội vàng như sợ ngài đổi ư. Anh ta túm lấy gấu áo ngài rồi nói như sợ ngài sẽ không cho anh ta theo hầu :
- Con.. đồng ư.. con đồng ư..con đồng ư.
Quan Hoàng Bảy dặn người nhà tôi may cho anh ta một bộ quần áo màu xanh lá cây, để anh ta mặc đi theo hầu ngài. Làm sớ giải oan cho anh ta và làm một cánh sớ tấu thiên đ́nh, cho anh ta theo hầu Hoàng Bảy Vương Quan. Nói dặn ḍ kỹ lưỡng rồi ngài cho vong thanh niên thoát ra khỏi người mẹ tôi, và ngài cũng xa giá hồi cung.
Ngày hôm sau gia đ́nh tôi chuẩn bị cỗ bàn hẳn hoi để cúng cho vong thanh niên và làm thủ tục đầy đủ cho anh ta đi theo hầu quan Hoàng Bảy.
Lại nói thêm cụ nội tôi, phạm tôi tày đ́nh nên bị đầy vào địa ngục U Linh (không có ngày được nh́n thấy ánh sáng, giam cầm vạn kiếp) mà không thể nào cứu thoát ra được.
Thế mới biết rằng cái ǵ cũng có nhân quả của nó. Ở hiền, ḷng dạ ngay thẳng không lọc lừa sẽ luôn gặp được cái tốt. Như anh thanh niên kia vậy mà lại gặp được cái tốt phúc. Và câu chuyện này, bản thân tôi đă thấm nhuần đạo lư nhà Phật. Các bạn hăy cùng tôi chia sẻ nhé. Thân.
huykokuyo
|
Quay trở về đầu |
|
|
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
Msg 544 of 2534: Đă gửi: 29 July 2008 lúc 10:16pm | Đă lưu IP
|
|
|
CƠI ÂM LÀ CÓ THẬT?
Các nhà khoa học Nga cho biết họ đă liên lạc được với thế giới của người chết và đang dần đi đến một khẳng định rằng cơi âm là có thật…
Một vụ tai nạn kinh hoàng xảy ra tại Nga vào tháng 8-2004, hai chiếc máy bay đă rơi cùng một lúc tại hai địa điểm cách nhau khoảng 720km, cướp đi mạng sống của 90 người gồm cả phi hành đoàn và hành khách.
Trong khi cơ quan điều tra liên bang Nga đang có mặt tại hiện trường ở khu vực Rostov và Tula để điều tra, phân tích nguyên nhân gây ra tai nạn th́ các nhà khoa học tại thành phố Saint Peterburg đă biết được rằng đó là một vụ khủng bố.
Họ đă thu được những âm thanh lạ phát đi ở dạng sóng cực ngắn; sau khi giải mă, họ đă vô cùng bàng hoàng khi nghe được giọng nói:
- "Đó là một tên khủng bố".
Đây thực sự là một tin gây chấn động đối với người dân, và những lời nói kể trên đă được chính thức phát lại trên đài phát thanh Saint Petersburg. Những người vốn trước đây không tin, cuối cùng đă phải công nhận rằng thế giới âm thực sự tồn tại.
Từ thời xa xưa, người ta đă có ư thức và cố gắng liên lạc với thế giới âm bằng cách này hay cách khác. Các thầy tế và pháp sư đă dùng biện pháp thôi miên để có thể nghe được những giọng nói phát đi từ những hành tinh khác.
Rồi đến những nhà thần linh học (spiritists) cũng đă nỗ lực không ngừng để đọc được những thông điệp từ âm ty bằng cách quay tṛn một chiếc đĩa nhỏ. Tất cả họ đều nhận thấy rằng thỉnh thoảng những linh hồn có thể tiết lộ những thông tin bí mật về một số người, nơi chốn nào đó hoặc thậm chí có thể dự đoán trước được những sự kiện sắp xảy ra.
Vyachelsav Mesherakov, một chuyên gia nghiên cứu về lịch sử của thuyết duy linh, tuyên bố rằng, một số thầy phù thủy c̣n có khả năng làm cho những người đă chết sống lại trong một thời gian ngắn. Những thây ma được làm cho sống lại này có những hành động ma quái, mặc dù h́nh dạng vẫn giống như khi c̣n sống. Những người phản đối thuyết duy linh th́ cho rằng những bức tranh về những thây ma bị phù phép là giả mạo.
Từ khi phát minh về sóng vô tuyến ra đời, người ta đă thấy những tiếng nói lạ xuất hiện trên nền sóng phát thanh. Vào năm 1949, một người Ư có tên Marcelo Becky đă thu lại những tiếng nói đó, và phát hiện ra rằng người ta có thể hồi đáp lại chúng.
Giáo sư Artem Mikheev thuộc Đại học kỹ thuật vô tuyến đă quan tâm đến vấn đề này. Ông đă thành lập ra tổ chức “Russian Instrumental Transcommunication (Tổ chức linh thông học phương tiện Nga tạm dịch) với mục tiêu hợp tác với thế giới âm.
Những thí nghiệm của các đồng nghiệp nước ngoài đă thôi thúc Artem Mikheev tự tiến hành những thí nghiệm của riêng ḿnh vào năm 2002. Ông phát hiện ra rằng ḿnh vẫn có thể nhận được những câu trả lời của các hồn ma ngay cả khi micro đă được tắt đi.
Mikheev kể lại rằng ngay trong cái ngày xảy ra vụ tai nạn máy bay kể trên, ông đă tiến hành liên lạc với thế giới bên kia, mong được cho biết về nguyên nhân của thảm kịch. Lời đáp ông nhận được ở trạng thái rất nhanh và lộn xộn.
Sau khi giảm tốc độ của lời nói đó xuống 2,5 lần, Artem đă cuối cùng đă có thể nghe được câu trả lời là: “Đó là một tên khủng bố”. Một vài ngày sau đó, thông tin này đă chính thức được xác nhận là đúng.
Artem Mikheev thực sự tin rằng cuộc sống sau khi chết là có thật. Trong một cuộc nói chuyện với các linh hồn, Artem đă hỏi rằng liệu con người và các loài động vật sau khi chết đi có duy tŕ được nguyên kích thước của ḿnh hay không, giọng nói trả lời:
- “Bạn tồn tại giống như sóng điện từ".
Vitinfo
|
Quay trở về đầu |
|
|
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
Msg 545 of 2534: Đă gửi: 29 July 2008 lúc 11:07pm | Đă lưu IP
|
|
|
NHỮNG NGÔI NHÀ CÓ MA
Hai vợ chồng Albert và Ivy Cardwelll muốn dọn đến ở tại một chung cư mà họ thích tại Rotherham ở miền Nam Yorkshier Anh Quốc.
Hôm đó nhằm tháng 7 năm 1986, hai người đă cảm thấy có sự dị thường nơi dăy pḥng họ ở. Ban đêm, họ nghe tiếng cọt kẹt có vẻ dè dặt rồi như có tiếng chân đi và tiếng gơ cửa ở pḥng ngoài, ngay nơi pḥng ngủ chính.
Tiếng động ấy làm nhiều người nghe rơ nhưng bà Cardwell lại là người độc nhất thấy rơ một h́nh ảnh lạ lùng ghê sợ. Bà thấy một "con ma" xuất hiện trước mặt, đó là người đàn bà và bà ta biến mất ngay khi bà Cardwell có ư định chỉ cho chồng thấy cảnh tượng lạ lùng này.
Không phải h́nh ảnh ma luôn luôn hiện ra mờ ảo mà trái lại đôi lúc giống như một người sống. Tại Dunstable, ở Bedfordshire Anh, có một ngôi nhà cổ mà dân quanh vùng không dám lại gần v́ nhiều người đă thấy ở đó, hàng đêm xuất hiện một con ma đă già, mặc bộ đồ đen bạc màu thời đại Nữ Hoàng Victoria có nút đính khuy vàng nổi trên cổ áo.
Đây không phải là một bóng ma mờ ảo mà trái lại hiển hiện như người thật. Năm 1966, vào mùa hè, con ma xưa cổ này lại xuất hiện một lần nữa ngay ở khung cửa lớn của ngôi nhà nh́n xuống đồi.
Một nhóm nghiên cứu về các hiện tượng ma quái đă đột nhập ngôi nhà cổ để quan sát và đă khẳng định rằng: hằng đêm khoảng 7 giờ đến 8 giờ tối, con ma già xuất hiện thường nhất là ở ngay pḥng ngủ.
Gương mặt mờ xám nhưng không có vẻ ǵ dễ sợ tuy nhiên những người có mặt cảm thấy rợn tóc gáy. Luôn luôn "con ma" đứng ngay giữa pḥng, tóc màu xám tro rũ xuống trước trán. Vừa lúc đó, con chó Lassie chạy ngang, lúc bước qua trước mặt "con ma già" nó rên rỉ một tràng dài năo ruột như bị một luồng điện chạy qua cơ thể nó.
Qua nhiều cuộc điều tra tỉ mỉ, người ta biết được ngôi nhà này ngày xưa chủ nhân sống cô độc và sau này phát điên rồi chết, người chết ấy chính là con ma thường đêm xuất hiện ngay nơi pḥng ngủ của ngôi nhà cũ hoang vắng này.
Tại một vùng hoang vắng ở California Hoa Kỳ, có một nhà gạch, ngôi nhà này được hai vợ chồng Frandes Little mua lại vào năm 1968. Chỉ sau vài tuần dọn đến ở, người chồng bỗng thấy một người đàn bà lầm lũi đi quanh nhà như muốn t́m kiếm một cái ǵ, khi nh́n kỹ gương mặt, người chồng bỗng kinh ngạc v́ đó là người vợ trước của ḿnh.
Sau đó, bà Little người vợ sau, một hôm đang ở nhà một ḿnh bỗng đêm ấy thấy có một người đàn bà cao mảnh khảnh tự nhiên không biết từ đâu lững thững đi ra từ sau căn pḥng một cách yên lặng và tiến vào pḥng ngủ. Tại đây, người đàn bà này có vẻ tần ngần do dự trong bước chân đi nhưng không quay mặt về phía bà Little.
Rồi bất thần người đàn bà ấy đi xăm xăm về phía pḥng khách, ở vị trí này bà Little có thể quan sát rơ ràng toàn thể người đàn bà lạ này. Nhanh trí bà Little vội lấy cái máy ảnh nơi tủ gần chỗ bà đứng và bấm ngay một bức ảnh. Khi đèn lóa lên th́ người đàn bà quay lại và sau đó biến mất.
Bức ảnh được rửa ra và ông bà Little nhận ra đó là Alice Margaret Kolitisch, người đàn bà đă cùng ông Little xây dựng ngôi nhà nơi hoang vắng này, v́ lúc đó họ muốn sống một cuộc sống ẩn dật hạnh phúc với nhau. Năm đó là năm 1920.
Một trường hợp khác đặc biệt xảy ra tại một ngôi nhà ở Stockton, nơi vùng ngoại ô của New Castle, New South Wales Úc Đại Lợi, ngôi nhà vừa được hai người trẻ tuổi và một người cháu gái thuê ở.
Chỉ mới hai tuần lễ mà họ đă trải qua nhiều thử thách bởi một năng lực siêu nhiên huyền bí phát sinh quanh nhà và ngay cả trong nhà, từ đầu năm 1970 khi họ dọn đến ở.
Trước tiên họ thấy tấm drap trải giường nhàu nát một cách lạ lùng sau mỗi lần họ căng trải cẩn thận, đồ chơi của đứa cháu gái th́ di chuyển một cách tự nhiên mặc dù không có ai đụng tay vào, c̣n cửa lớn th́ có tiếng gơ vang dậy một cách dữ dội, khẩn cấp.
Điều kỳ lạ là đứa cháu gái nhỏ thường bị một bàn tay vô h́nh của ai đó nhấc bỗng lên khỏi chỗ nằm hay chỗ ngồi. Những người bạn của hai người trẻ tuổi này thường năng lui tới ngôi nhà này cũng đă chứng kiến nhiện tượng lạ lùng.
Có người đang ngồi bỗng nhiên có ai lắc đôi vai thật mạnh, có người cảm thấy như có đôi mắt nào đó đang chăm chú nh́n ḿnh một cách quái đản. Micheal và Dianne Cooke, hai người trẻ tuổi thuê nhà đă nói như sau:
- Thường đêm chúng tôi thấy và nghe nhiều điều kỳ dị, ghê rợn nhất là gương mặt trắng bệch hiện ra nơi cửa sổ, với đôi mắt trắng dă và con ngươi màu xám tro, chúng tôi phải tính chuyện dọn đi khỏi ngôi nhà quái gỡ kinh khiếp này càng sớm càng tốt...
Sưu Tầm
|
Quay trở về đầu |
|
|
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
Msg 546 of 2534: Đă gửi: 29 July 2008 lúc 11:24pm | Đă lưu IP
|
|
|
MA QUÁ GIANG Ở VIỆT NAM
Chuyện ma xin quá giang xảy ra không riêng ǵ tại một quốc gia nào. Nhiều tài liệu thu thập được từ những chứng nhân ở nhiều quốc gia khác nhau. Họ là những người đă thấy rơ hồn ma và cũng chính họ đă cho những ma đó đi một đoạn đường.
Tại Việt Nam, không hiếm trường hợp đă xảy ra. Một vài thí cụ điển h́nh mà chúng tôi xin lược kể ra đây là những trường hợp hoàn toàn có thật do các nhân chứng trong cuộc kể lại.
Ông Trùm Mày, nhà ở Nam Giao, Huế, chuyên nghề chạy xe kéo, loại xe này rất phổ biến khoảng thời gian 1939 đến 1945. Một đêm nọ, trời gần khuya, ông Trùm Mày định kéo xe về nghỉ nhưng tự nhiên thay v́ kéo xe chạy về phía cầu Gia Hội để về Nam Giao(qua cầu Trường Tiền, ông ta lại kéo xe chạy theo đường Hàng Đường để về cống Kẻ Trài. Xe chạy một quảng, ông bỗng thấy một cô gái mặc bộ đồ trắng, đội nón lá vừa bước lên vừa đưa tay vẫy vẫy ra hiệu cho xe ngừng lại.
Ông Trùm Mày vội vă ngừng xe, cô gái có vẻ hấp tấp vừa đi vừa chỉ về phía trước vừa nói tiếng nói nhỏ như sợ có ai nghe:
- Chở tôi về bến đ̣ chợ Bao Vinh.
Ông Trùm Mày cố định thần nh́n cho kỹ mặt cô gái nhưng v́ tóc cô để xơa nên chẳng thấy rơ mặt mày. Điều ông làm lạ là cô gái mảnh mai quá nên nhẹ tênh, ông kéo xe mà cảm thấy như chạy xe không. Qua khỏi cống Kẻ Trài và chạy độ hai mươi phút nữa, ông nghe tiếng trống trời khuya vọng lại.
Bất giác ông chạy chậm xe và ngoái cổ lại để hỏi chuyện cô gái, nhưng lạ lùng chưa, cô gái không c̣n nữa. Chỗ ngồi trên xe kéo trống không và yên lặng một cách dễ sợ. Ông Trùm Mày sợ quá đến nổi gai ốc toàn thân, ông cấm đầu chạy thục mạng về nhà.
Sáng mai lại, ông đem chuyện lạ hồi hôm kể cho ông Lư Trưởng ở làng B́nh An nghe. Người lăo bộc trong nhà ông Lư Trưởng cho biết ở quảng đường gần cống Kẻ Trài đến bến đ̣ Bao Vinh có một cái am nhỏ thờ cô gái bị chết trôi, trước đó độ năm năm, cô gái này bị chết nơi bến đ̣ gần cống Kẻ Trài, xác nổi lên và tắp vào bờ, vướng vào gốc và rễ những cây sanh già cỗi nơi bến và nhiều đêm hay xuất hiện than khóc hay chận đường người qua lại để hỏi thăm, chuyện tṛ hoặc xin đi nhờ nếu gặp ai có phương tiện chuyên chở đi qua đó.
Theo người lăo bộc (ông Ngọng) th́ có lần hai người kéo xe ḅ qua đó cũng đă gặp cô gái từ dưới bến sông (Đông Ba) đi lên xin đi nhờ một quăng đường. Khi xe đi được khoảng nửa tiếng, th́ bỗng nhiên họ nghe một tiếng "Bơm" như có vật ǵ rơi xuống sông. Ngay lúc đó hai người đánh xe ḅ rởn tóc gáy v́ cô gái trên xe đă biến mất tự bao giờ, lúc đó khoảng một giờ sáng.
Ở Huế có một địa danh đặc biệt là Ô Hồ. Xóm Ô Hồ gần trường tiểu học Gia Hội Huế. Anh Hinh trước ở làng Đại Lược sau lên thành phố Huế làm nghề đạp xích lô. Chuyện xảy ra vào mùa hè năm 1956. Ở Huế muà hè rất nóng, anh Hinh thường đạp xe đến quá khuya mới trở về nhà. Đêm đó, theo lời anh kể h́nh như là đêm 13 âm lịch, trời đầy trăng sao.
Lúc đó khoảng 12 giờ khuya, anh đang đạp xe đi từ từ qua khỏi trường tiểu học Gia Hội và định tới chỗ quẹo sẽ đạp xe về đường đi Mười Gian. Khi chiếc xe xích lô vừa đến ngă ba th́ anh thấy một người đàn bà đứng ngay nơi chỗ quẹo và đưa tay vẫy vẫy xe anh. Anh Hinh vội vă dừng xe lại. Dưới ánh trăng, anh thấy rơ gương mặt người đàn bà, rơ đến độ anh thấy nổi bật những dấu sẹo do bệnh đậu mùa để lại trên gương mặt người đàn bà. Anh hỏi:
- Chị về đâu?" Người đàn bà vừa trả lời vừa bước lên xe:
- Cho tôi đến Chùa Bà.
Khi xe sắp đến đường quẹo th́ người đàn bà ra dấu ngừng xe và lấy trong ví ra hai tờ giấy bạc trao cho anh Hinh rồi lầm lũi đi vào một khu vườn to lớn trồng toàn là nhăn và vải, anh Hinh nh́n thấy hai tờ giấy loại 100 đồng và lấy làm lạ v́ số tiền quá lớn cho một cuốc xe quá ngắn đường. Hay người đàn bà đă đưa nhầm, tưởng đó là giấy 10 đồng, nhưng 10 đồng bạc cũng vẫn lớn đối với thời đó.
Vốn là người lương thiện, anh Hinh nghĩ bụng đêm quá khuya, khu vườn nhà quá rộng và sâu hun hút không tiện vào kêu cửa, chi bằng sáng mai đạp xe ngang nếu thuận tiện ghé lại xem thử ra sao. Thế rồi anh ta cất kỹ hai tờ giấy bạc loại 100 đồng vào cái bóp để trong túi áo. Trước khi đạp xe về nhà, anh c̣n nh́n kỹ lại địa điểm mà người đàn bà có gương mặt rỗ hoa đă bước suống xe để vào khu vườn sầm uất. Điều đáng nhớ là ngay tại chỗ đó có một cây vông đồng rất lớn.
Sáng hôm sau, khoảng 10 giờ, anh Hinh đạp chiếc xích lô đến địa điểm hồi hôm. Anh dừng xe lại bên cạnh cây vông đồng. Khu vườn rộng âm u và yên tĩnh quá, anh đẩy xe vào vườn. Xa tít phía trong khu vườn là căn nhà xưa cổ, cửa đóng then gài. Có lẽ gia chủ đă đi vắng.
Anh đẩy xe ra, quang cảnh yên lặng lạ thường, qua một giàn hoa lài rủ xuống thấp lè tè có một ngôi mộ. Ngôi mộ này được chôn trong vườn nhà. Trưa hôm đó, anh ghé lại cái quán cơm gần Ô Hồ để ăn trưa, khi mở cái bóp trả tiền anh ngạc nhiên không thấy hai tờ giấy bạc đâu cả. T́m măi cũng chỉ có những đồng bạc lẽ mà anh đă có từ trước. Nhưng trong ví lại có hai tờ giấy trắng dài bằng cỡ hai tờ giấy bạc.
Anh ngẩn ngơ suy nghĩ. Bỗng nhiên một cảm giác lành lạnh chạy dọc theo đường xương sống... như có một linh tính vụt đến... anh hỏi ngay người bán quán về khu vườn nơi gốc cây vông đồng và ngôi mộ trong vườn th́ người bán quán cho biết như sau:
- Khu vườn đó là của ông Cả Đễ. Ông có một người vợ. Cách đây hai năm bị bệnh đậu mùa, người trong nhà sợ bị lây bệnh t́m cách lánh xa. Sau đó th́ chết. Ông Cả Đễ thương tiếc vô cùng, chôn ngay trong vườn. Hiện nay trong ngôi nhà ấy chỉ có một ḿnh ông Cả Đễ thui thủi sống qua ngày nhờ nhuận lợi thu hoạch trong vườn mà thôi. Ông Cả từ đó có vẻ tàng tàng và mất trí..
Anh Hinh nghe đến đó th́ tự nhiên tay chân run rẩy, mặt mày tái mét. Lúc bấy giờ anh mới kể hết mọi sự cho người chủ quán nghe. Sau cùng người chủ quán nói:
- Như vậy là anh đă gặp đúng người vợ của ông Cả Đễ rồi! Với lại gương mặt rỗ hoa th́ chính là bà ấy rồi, nhưng lạy vong linh bà ấy, bà linh hiển quá, tuy rằng bà ấy trả cho anh hai tờ giấy bạc giả, nhưng theo cha mẹ tôi ngày trước thường kể, th́ những người đă giúp đỡ ma thường hay được phù trợ. Như anh đă có lần chở hồn ma bà vợ ông Cả, chắc anh cũng sẽ đắt khách cho coi..
Sưu Tầm
|
Quay trở về đầu |
|
|
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
Msg 547 of 2534: Đă gửi: 30 July 2008 lúc 7:37pm | Đă lưu IP
|
|
|
ĐÁM CƯỚI MA
Ở nước ta, bấy lâu nay vẫn ngấm ngầm tồn tại một tập tục mang nặng màu sắc mê tín dị đoan cần sớm dẹp bỏ, đó là tục cưới vợ gả chồng cho người đă chết. Hầu như nơi nào các ông bà đồng cốt, bóng rỗi hoạt động mạnh mẽ là nơi đó có tệ làm đám cưới cho ma.
CƯỚI MA TRỊ BỆNH
Chuyện xảy ra đă vài năm nhưng cho đến bây giờ người dân An Ninh Đông, huyện Đức Ḥa, Long An vẫn thỉnh thoảng bàn tán về một đám cưới có một không hai diễn ra ở đây. Đám cưới diễn ra như bao nhiều đám cưới khác, cũng có gia đ́nh hai họ, cũng có đăi tiệc bạn bè, cũng có rước dâu, chỉ có điều…đám cưới vắng mặt chú rễ, một ḿnh cô dâu x́ xụp lạy thân tộc hai gia đ́nh. Khi quan khách hỏi chú rễ, cô dâu e thẹn chỉ tay về phía bức ảnh một thanh niên đặt ngay ngắn trên bàn thờ khói nhang nghi ngút.
Trước đây, hàng xóm thường thấy cô gái tên L.19 tuổi ấy thường cặp kè trong quán cà phê và đi rong với T. một thanh niên lêu lỏng, quậy phá của địa phương. Nhà nghèo nhưng T. không chí thú làm ăn mà chỉ thích tu tập bạn bè xưng danh… “giang hồ”. Một hôm L. cùng nhóm của T. vào quán nhậu trông thấy bàn bên cạnh có một thanh niên dám ở trần “chưng” h́nh xăm thần chết cầm lưỡi hái trên ngực. Sau vài ly rượu đế cho “có máu” để lấy le với cô, T. sai đàn em sang bàn bên “biểu” gă thanh niên kia qua đây “ra mắt đại ca” một ly.
Không ngờ gă thanh niên kia không thèm trả lời mà c̣n dằn mạnh ly rượu xuống bàn. T. cho đó là hành vi sỹ nhục “danh dự giang hồ” của ḿnh nên cầm dao bước sang “hỏi tội” gă kia. T. chưa kịp vung dao lên th́ một mũi dao từ tay gă kia cắm phầm phập vào người. T. chết tại chỗ trước ánh mắt kinh hăi của L. và đồng bọn. Gă thanh niên kia bị pháp luật trừng trị thích đáng, riêng L. th́ thường thức giấc đi lang thang lúc nửa đêm. Ban ngày th́ L. cứ ngồi một ḿnh lảm nhảm. Mẹ của L. thấy vậy, thay v́ đưa con gái đi bệnh viện trị liệu về tâm lư và tâm thần, bà lại nhờ một bà cốt lên đồng.
Bà cốt “trục hồn” T. về. Trong vai linh hồn của T. bà cốt bảo, v́ nặng t́nh với L. nên hồn T. vẫn cứ đeo bám hoài. Nếu muốn hết bệnh th́ làm đám cưới cho T. và L. Hôm sau, me của L. và mẹ của T. gặp nhau bàn chuyện làm đám cưới. Hai bà mẹ c̣n đi nhờ thầy chọn ngày lành tháng tốt để rước dâu. Do hai gia đ́nh làm nhanh gọn nên chính quyền địa phương không hay biết. Sau đám cưới L. không lảm nhảm nữa nhưng chứng bỏ nhà đi lúc nửa đêm vẫn c̣n. Ai hỏi, L. bảo đi với T..Không hiểu hàng đêm L. có ngủ với ma không, nhưng hơn một năm sau, L. sinh một đứa con. L. mới khai thật với mọi người là suốt thời gian trước, cô không ở với người chết mà ở với một người c̣n sống.
Ở Cai Lậy, Tiền Giang th́ có một đám cưới ma lặng lẽ hơn nhưng không kém phần ly kỳ. Hai cha con ông Kh. nhiễm máu mê số đề nặng. Hầu như nghe nơi nào có đám ma trinh nữ là hai cha con lặn lội đến tận mộ xin số. Đầu năm 2007, có một cô gái 16 tuổi ở xóm bên bị tai nạn giao thông chết thảm. Chờ thân nhân cô gái an táng xong, ngay đêm đó, hai cha con cùng vài người cùng hội cùng xuồng ra ngôi mộ xin số.
Họ đem theo một con gà trống thiến để làm thủ tục. Sau khi van vái vong hồn cô gái xong, cả bọn chặt ngọt một phát đứt ĺa đầu con gà rồi cầm cổ gà ria máu lên mộ. Khi con gà đă cạn máu, mọi người ném xác gà sang một bên, xúm xít lại soi đèn nh́n dấu máu hiện ra con số mấy. U. con trai ông Kh. đang ḍ t́m từng vệt máu chợt nghe nhột phía dưới chân. U. nh́n xuống th́ thấy con gà cụt đầu đang đứng dưới chân ḿnh… múa.
U. bước tránh sang một bên, con gà bước theo. U. chạy ṿng quanh bên kia mộ, con gà chạy theo. Nghĩ là hồn ma cô gái nhập vào xác gà, U. hoảng vía gào thất thanh rồi bỏ chạy. Tất cả mọi người chứng kiến cũng bỏ chạy tán loạn. Về đến nhà, U. cứ nằm trong pḥng trùm mền, bỏ ăn suốt hai ngày. Người nhà lén quan sát th́ thấy U. cứ hôn cái gối .
Đến ngày thứ ba, tức ngày mở cửa mả cho cô gái, đột nhiên U. tỉnh queo bước ra khỏi pḥng, ăn uống như sắp…chết đói. Vốn có máu mê tín sẵn trong huyết quản, ông Kh. đi t́m “thầy” bùa nhờ trấm ếm tà ma. Thầy bùa vừa đến, U. nhào ra quơ tay chân uưnh thầy bùa loạn xị. Thầy bùa bó tay v́ “con ma này có học phép trên núi Tà Lơn, cao tay ấn quá, thầy trị hông nổi”.
Hôm sau một thầy bùa khác, trẻ măng trạc tuổi U. tự ṃ đến nhà xin “thử tay nghề”. Như buồn ngủ gặp chiếu manh, ông Kh. đồng ư. Tuy tuổi trẻ nhưng tài cao, gă thầy bùa vùa gặp U. đă quát dũng mănh: “Con ma ở núi Tà Lơn kia, có mau sám hối”. U. riu ríu nghe lời gă thầy bùa nhóc con. Thầy bùa và con ma nữ “trú” trong người U. đàm đạo ôn ḥa trước sự than phục của gia đ́nh ông Kh..
Nội dung cuộc đàm đạo được tóm tắt như sau: Nếu muốn trúng số đề dài dài, th́ ông Kh. phải cưới oan hồn cô gái cho U.. Tiền và quà sính lễ gồm một đôi bong tai, một dây chuyền, cặp nhẫn cưới. Tất cả phải bằng vàng bốn số chín thật. Quà sính lễ này phải chôn vào góc mộ cô gái ba ngày rồi lấy lên. Ngoài ra, phải đốt cho cô gái một chiếc Toyota vàng mă để rước dâu.
Nghĩ nhà ḿnh sắp có con dâu ma biết trước kết quả sổ xố, ông Kh. mừng khấp khởi sửa soạn sính lễ. Ngày hôm sau đặt ba bàn tiệc ở nhà hàng và mời thân tộc, xóm giềng chiêu đăi. Không ai biết ông chiêu đăi nhân dịp ǵ, chỉ biết ông cười nói rôm rả, c̣n U. th́ cứ cười mỉm chi cọp một ḿnh. Nửa đêm, cha con ông cùng gă thầy pháp lặng lẻ, bí mật ra ngôi một cô gái nộp sính lễ và xin rước… hồn dâu về nhà.
Mọi chuyện diễn ra suôn sẽ. Gă thầy pháp nhận được vài triệu đồng tiền “công đức”, kiếu từ gia chủ rồi biến mất. U. trở nên tỉnh táo vui vẻ b́nh thường. Chỉ có ông Kh. trở nên trầm uất v́ mấy ngày sau, số vàng chôn dưới mộ cô gái biến mất tăm. Mất của kiểu này rất đau v́ không dám tŕnh báo với công an, ông chỉ c̣n biết thề ăn tươi nuốt sống gă thầy bùa nhóc con nhưng láu cá.
Mấy tháng sau, trong một dịp đi Cần Thơ ông gặp lại gă thầy bùa nhóc, đang nhậu lai rai trong một quán cóc với U. con trai ông. Lúc đó ông mới hiểu v́ sao, suốt ngày đám cưới, con trai ông cứ cười mỉm chi cọp.
TẬP TỤC LẠC HẬU
Người dân tộc Khùa sống ở Cha Lo, huyện Minh Hóa, phía Tây tỉnh Quăng B́nh th́ xem chuyện làm đám cưới cho ma là chuyện hiếu, của người sống đối với người chết. Có thể nói người Khùa sợ… ma nhất thế giới. Họ tin rằng, con người sau khi chết vẫn tiếp tục sống ở một thế giới khác và nếu không được người sống đối xử đàng hoàng, người chết sẽ “quậy”.
Người Khùa không có tôn giáo và tín ngưỡng duy nhất của họ là…ma. Họ thờ ma xó trong nhà. Khi có người chết, họ tẩn liệm vội vă, sơ sài vào ḥm rồi mang vào cánh rừng chôn ngay sau một giờ đồng hồ. Đối với những người chết oan uổng, an táng gần như ngay lập tức. Khi mang quan tài vào rừng, họ vội vă đào lỗ, đặt quan tài xuống rồi nhanh chóng lấp đất lại. Có khi do quá sợ ma, họ không kịp lấp đất. Sau khi cẩu thả chôn cất người chết, tất cả … bỏ chạy bán sống, bán chết về bản. Vừa chạy, họ vừa la thét thất thanh và không dám ngoảnh nh́n lại.
Người Khùa sợ ma, sợ bóng đêm nhưng lại có tục “cướp vợ” vào lúc 3-4 giờ sáng. Sau khi cướp vợ được ba ngày, “tướng cướp” dắt “chiến lợi phẩm” của ḿnh trở về nhà “khổ chủ” xin làm đám cưới lần một. Theo quan niệm của người Khùa, một đời chồng vợ phải làm đám cưới đủ ba lần. Tuy nhiên, một số cặp vợ chồng gặp cảnh nghèo chỉ làm đám cưới được lần thứ hai ở tuổi hơn 70. Nếu chết trước khi làm đám cưới lần cuối cùng, con trai sẽ đứng ra tổ chức làm đám cưới cho hồn ma. Đám cưới ma cũng hoành tráng không kém đám cưới người sống.
Ở một vùng sâu của tỉnh Hà Bắc tàu, cũng có tục cưới vợ cho ma. Người sống gặp nhau bàn bạc làm đám cưới cho hai người chết. Nếu đồng thuận, họ nhà gái sẽ nhận được một khoản tiền khoảng gần 500USD theo thời giá, gọi là tiền cưới. Sau đó, họ nhà trai quật mồ ma nữ đem xác lên phủ vải đỏ. Gia đ́nh hai họ ăn tiệc ŕnh rang rồi quật mồ chú rể đặt xác cô dâu vào chung một quan tài. Chính quyền địa phương đă nghiêm cấm hủ tục này nhưng một số người vẫn lén lút thực hiện.
Ở vùng đồng bằng sông Cữu Long, hiện tượng cưới vợ cho ma không phát triễn rầm rộ nhưng nơi nào cũng có. Hầu hết đều lén lút, tránh sự quan sát của chính quyền địa phương. Những đám cưới ma này không theo bất kỳ một quan niệm tôn giáo nào mà chỉ v́ lời xúi bậy của một số ông đồng, bà cốt.
Một đại đức Phật giáo ngại nêu tên nhận xét: “Đối với giáo lư Phật giáo, việc làm đám cưới cho người chết là mê tín, dị đoan”. Bà Nguyễn Thị T.Th. cư ngụ ở Châu Thành A, Hậu Giang đă tổ chức một đám cưới cho đứa con trai bị tai nạn giao thông chết, cho biết: “Tôi rất thương con. Hồi nó c̣n sống cứ đ̣i cưới con L. ở cùng xóm hoài, nhưng do kỵ năm tuổi với cha nó, nên tôi dự định sang năm mới cưới. Sau khi nó chết, tôi cứ nằm mơ thấy nó về đ̣i cưới vợ nữa. Tôi đem chuyện bàn với mẹ của L. nhưng bả từ chối. Thế là tôi làm một ḿnh”.
Nửa đêm bà Th. lập đàn, nhờ bà thầy cốt “bắt hồn” cô L. về để “ép gả” cho con trai bà Th.. Không biết dưới cơi âm, con bà Th. có hạnh phúc không, riêng ở cơi trần, bà thầy cốt rất sung sướng với khoản tiền công hơn năm triệu đồng, gồm tiền quần áo vàng mă cho cô dâu, chú rể và chiếc xe hoa.
Mới đây bà cốt tên Mỹ này bị công an một địa phương ở Bạc Liêu tóm cổ. Bà khai đă tổ chức năm đám cưới ma và hàng chục vụ lên đồng, lên cốt ở năm tỉnh thành khác nhau thu lợi vài chục triệu đồng. Một số người c̣n bày chuyện đốt vàng mă h́nh nữ nhân để gởi “gái” xuống cơi âm làm tỳ thiếp cho người quá cố. Mỗi “gái cơi âm” có giá hơn năm triệu đồng. Một khoản tiền có thể giúp được một gia đ́nh ở cơi dương xóa được cảnh nghèo.
Theo nhận định của các tu sỹ thuộc nhiều tôn giáo khác nhau, không ai chấp nhận h́nh thức làm đám cưới cho ma. Bởi v́ điều đó không đúng với mọi giáo lư tín ngưỡng. Người đă chết, cho dù có sống ở một thế giới khác cũng không thể chấp nhận kiểu dị đoan này.
Hồ Xuân Dung
|
Quay trở về đầu |
|
|
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
Msg 548 of 2534: Đă gửi: 31 July 2008 lúc 6:50am | Đă lưu IP
|
|
|
HÀM RỒNG MẤT TÍCH
Những ai từng đi ngang qua xứ Thanh, tỉnh Thanh Hóa ngày nay, nơi ḍng sông Mă cắt ngang đường Quốc lộ 1A, hẳn đều biết đến địa danh Hàm Rồng (phường Hàm Rồng Thành Phố Thanh Hóa).
Từ ngàn năm trước, nơi đây vẫn được ngợi ca là một danh sơn thắng địa, nguồn thi hứng bất tận cho các tao nhân mặc khách danh tiếng như Lê Quát, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Trăi, Lê Thánh Tông, Ngô Th́ Sĩ Phan Huy Ích, Nguyễn Siêu, Cao Bá Quát, Tản Đà, ..v..v..Núi non vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt..
Sự biến mất của kỳ quan này theo cách lư giải của Hoàng Tuấn Phổ, là do sự chuyển ḍng của sông Mă.
Theo nhận định của Đào Duy Anh trong cuốn Nước Việt Nam Qua Các Triều Đại (Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin 2005) ḍng chính của sông Mă trước đây vốn chảy thẳng ra lửa Lạch Trường, theo lối sông Lèn ngày nay.
Khi ấy ngă ba sông Mă, sông Ngu (sông Lèn) có tên là Tuần Ngu nay là ngă ba Bông, nơi thu thuế đường thủy của nhà Lê.
Một cơn lũ lớn vào đầu triều Nguyễn đánh ch́m một bè gỗ lim lớn, dần dần phù sa bồi đắp làm hẹp cửa vào ḍng sông Ngu Lại, khiến sông Mă phải trổ một nhánh phụ ra lối qua cầu Hàm Rồng và đổ ra cửa biển Hội Trào như hiện nay.
Sự chuyển ḍng một cách bất đắc dĩ của sông Mă khiến lạch sông nhỏ ngay qua Hàm Rồng trở thành một con sông lớn, nhấn Hàm Rồng vào sâu trong ḍng nước.
Một Hàm Rồng phong thủy
Tôi trở lại Hàm Rồng, ngắm nh́n phong cảnh. Vẫn núi Rồng, núi Ngọc, sông Mă, động Tiên Sơn, động Long Quang. Vẫn người Bắc kẻ Nam tập nập lại qua trên hai chiếc cầu bắc ngang ḍng sông Mă. Vẫn non xanh nước biếc hùng vĩ. Vẫn mây trắng ngàn năm bay.
Gọi điện trách, anh bạn tôi không có vẻ giận, chỉ hỏi:
- Đang đứng ở đâu?
- Trên núi Đầu Rồng, trong động Long Quang.
- Đó là hai mắt của Rồng. Anh đi theo cửa hang nào cũng được, bám vách đá hướng về phía núi Ngọc, thấy phiến đá cao, là đến mỏm đá mũi rồng.
Phía dưới mũi Rồng có một hang động h́nh cáo hàm c̣n rồng gọi là Hàm Rồng. Nhưng tôi cũng khuyên anh đừng cố t́m. Hàm Rồng đă mất tích lâu rồi”.
Dứt câu anh cúp máy.
Ngọn núi đá vôi mà tôi đang đứng khá nổi danh trong sử sách. Theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí, núi Hàm Rồng ngày nay vốn là núi Long Hạm, tên cũ là Đông Sơn, mạch núi từ Ngũ Hoa, xă Dương Xá, huyện Thiệu Hóa ngày nay, theo bên sông dẫn đến, uyển chuyển liên tiếp như h́nh con rồng chín khúc, cuối dăy nổi lên ngọn núi cao, đá chất chồng.
Trên núi có động Long Quang. Dưới núi có tảng đá lởm chởm trông như hàm rồng đang hút nước sông Mă.
Trong cuốn Lư Thường Kiệt. (Nhà Xuất bản Sông Nhị, Hà Nội1944) học giả Hoàng Xuân Hăn cũng có cùng nhận định:
“Núi Long Hạm hay Hàm Rồng là nhỏn cuối của một dăy núi, chạy dài trên hữu ngạn sông Mă từ làng Dương Xá đến cầu Hàm Rồng, dài trên khoảng năm cây số. Núi là núi đất lẫn đá nhưng nhỏn Hàm Rồng th́ toàn đá.
Trên cao có động tên là Long Quang. Động có hai cửa hai bên, h́nh như hai mắt rồng, thường gọi là Long Nhăn. Núi sát bờ sông, trên bờ có mỏm đá dô ra như h́nh mũi rồng, cho nên gọi là Long Tị. Gần mặt nước có hai lớp đá chồng nhau như hàm rồng. Đó là Long Hàm.
Toàn h́nh trông từ phương phương Bắc, giống như đầu rồng đang uống nước. Bên kia sông có nhỏn đá tṛn, người ta gọi là núi Hỏa Châu. Cảnh chung gọi là Long Hí Châu (Rồng vờn hạt ngọc)”.
Một nhà nghiên cứu người xứ Thanh là Hoàng Tuấn Phổ gần đây có đưa ra một cứ liệu khi viết về cuốn Núi Rồng, Sông Mă (Nhà Xuất bản Văn hóa 1993). Tác giả dựa vào lời dẫn bài Long Hạm Nham Tức Hứng của Phan Huy Ích viết năm 1782:
“Sau khi đến nơi nhậm trị, tôi qua thăm lại cảnh cũ núi Da Sơn (tên cũ là núi Rồng) ở bên cạnh bến sông. Chỗ vách đá trống có một phiến đá cao hơn năm thước ta (hơn hai mét), bề rộng có thể trải được chiếu. H́nh thù đá như cổ cái môi, trơn tru giống như đầu rồng mở miệng vậy. V́ thế mới gọi là động Hàm Rồng.
Trước động có một ḥn đá rất lớn nh́n xuống ḍng sông đột khởi lên như h́nh hàm rồng ngậm ngọc, cho nên đặt tên là ḥn Đá Ngọc. Trong khoảng giữa chân núi và ḥn Đá Ngọc của Hàm Rồng đă được san lấp thành nền đất bằng phẳng, rộng hai trải chiếu, trên đó dựng một am nhỏ, đặt tên Song Lạc Quán.
Khoảng trống vách bên phải tạm chứa được bốn, năm người ngồi. Vách đá trái tùy theo h́nh thể của đá, sắp đặt bàn trà, chỗ bếp rượu, tôi lại khắc chữ vào ria núi đá và xây dựng công đường, nhà cao cửa rộng, có hành lang, trồng cây, trồng hoa thành hàng lối, phong cảnh rất đẹp…”.
Nếu những cứ liệu trên đủ sức thuyết phục, có thể khẳng định, sở dĩ ngọn núi này nổi tiếng v́ nó có một điểm rất đặc biệt. Núi có dáng h́nh một con rồng đang há miệng. Nhưng tôi xuống sát mép nước, đi ra xa theo phía bờ bắc, rồi đứng cao trên đỉnh núi Ngọc đối diện, thấy rất rơ dáng núi như đầu rồng nhưng hàm rồng th́ thú thực không thấy đâu.
Có lẽ nào h́nh tượng Hàm Rồng đẹp như cảnh tiên ấy như cách anh bạn mọt sách của tôi nói, từng hiện diện nhưng nay mất tích. Khi tôi đem sự băn khoăn đến hỏi một người từng nghiên cứu khá kỹ về Hàm Rồng, lại nhận thêm một ư kiến khác.
Phải chăng hàm rồng chỉ là một thuật ngữ của khoa học phong thủy. Đó là ư kiến của ông T một trong số ít người của xứ Thanh c̣n xác định được 28 huyệt mà Thánh địa lư Tả Ao phát hiện ở Thanh Hóa.
Ông T cho rằng, các nhà phong thủy có câu:
“Tiên tích đức, hậu tầm long” (tức là chứa đức tức trước, t́m đất sau).
Trong phép tầm long của các nhà phong thủy, trước hết phải t́m tổ núi, rồi ḍ theo long mạch mà t́m đến huyệt. Huyệt là thế đất có án che phía trước, chẩm làm chỗ dựa phía sau, bên trái là tay long, bên phải là tay hổ.
Long mạch có thể lớn hoặc nhỏ, có nhiều điểm kết mà điểm kết tốt nhất gọi là hàm rồng. Người ta thường nói những gia tộc được đại phú đại quư là nhờ có “mả táng hàm rồng” là v́ vậy.
Hàm Rồng nay ở đâu
Trước anh bạn tôi có nhiều người quan tâm đến một vách đá h́nh miệng rộng đang há ngay mép nước, bên trong có chứa long mạch hàm rồng. Người coi lời dẫn tựa của bài Long Hạm Nham Tức Hứng như lời chú của vị quan châu đi t́m bí mật hang Thần trong truyện Vàng Và Máu của Thế Lữ.
Người đi t́m long mạch, người đến chỉ v́ ṭ ṃ nhưng nh́n chung, ai cũng cố vén bức màn huyền bí để mục sở thị cái h́nh tượng khởi khát cho cái tên Hàm Rồng hiện nay. Trong cuốn sách đă dẫn, tác giả Hoàng Tuấn Phổ c̣n dựa vào bài thơ Long Đại Nham của Nguyễn Trăi để khẳng định có một hang đá tự nhiên mang h́nh tượng con rồng há miệng.
Có vẻ hơi khiên cưỡng khi cho rằng Long Đại Nham là động lớn núi Rồng (Đại nham: động lớn) và câu:
“Lê Phạm phong lưu ta tiệm viễn.
Thanh đài bán thực bích gian thi” .
(Lê, Phạm văn phong dần vắng thấy. Rêu tường xóa lấp nửa vần thi, Lê Cao Phan dịch) chứng tỏ bản khắc thơ trong động của hai danh sĩ đời Trần là Lê Quát và Phạm Sư Mạnh bị rêu phong v́ hang động thấp, gần nước sông.
Năm 1949, nhà sử học Hoàng Nguyên Hăn chứng minh cuốn An Nam Chí Lược (Lê Tắc soạn 1335), bộ sách được coi là Hàm Rồng ngày nay c̣n gọi là Long Đại Nham, Bảo Đài Sơn hay Hang Dơi là sai. Một số sách đời sau như An Nam Chí (Cao Hùng Trưng)hay Việt Kiều Thư, Minh Chí đều chịu ảnh hưởng của sách này, nên có chung lỗi đó.
Theo ông, đó là ngọn núi Linh Trường, Lê Thánh Tông viết:
“Núi xanh cao vót, dáng dị kỳ, đứng sững ở cửa biển. Chân núi có động, sâu thẳm khôn cùng, tương truyền đấy là miệng rồng. Ngoài cửa động có viên đá h́nh cái mũi, tương truyền đấy là mũi rồng.
Dưới mũi lại mọc ra một viên đá tṛn nhẵn nhụi đáng yêu, tương truyền đấy là hạt ngọc. Đá lớn đá nhỏ lô nhô rất nhiều h́nh thái, chỗ thưa chỗ dày, không thể đếm được, tương truyền là râu rồng…”.
Núi đó từng có thơ của Lê, Phạm đề, nên nếu t́m theo hướng đó, chúng ta sẽ phải xa nơi cần t́m hàng chục km.
Vị trí Hàm Rồng lâu nay vẫn được phỏng đoán là nơi cuối cùng của núi Đầu Rồng, dưới đôi mắt và mũi rồng, hướng về phía núi Ngọc (Hỏa Châu Phong).
Nhưng nó là những phần đất c̣n lại, hay ch́m sâu giữa ḍng sông Mă như bây giờ th́ chưa ai khẳng định được. Nếu là phần trên bờ, chỉ cần khai quật đi lớp cát bồi chừng dăm ba mét, hy vọng sẽ thấy.
Nhưng nếu chân núi Rồng vốn vươn xa ra giữa sông , hy vọng t́m thấy là rất mong manh, v́ nước nơi này cực xiết. Trước đây người ta không dễ hạ được một móng cầu th́ ai có thể xuống đó mà thám hiểm.
Hơn nữa, trải qua mấy trăm năm dưới ḍng sông Mă với lượng nước trung b́nh năm 52,6 m3/s, modul ḍng chảy năm 221/s.km2, tổng lượng cát bùn khoảng 3,027.106 tấn, liệu Hàm Rồng có c̣n dấu tích.
Chúng tôi đem những băn khoăn ấy định trao đổi với ông Ngô Hoàng Chung, giám đốc sở văn hóa thông tin Thanh Hóa. Ông Chung từ chối v́ Hàm Rồng không thuộc quản lư của sở và chỉ sang pḥng văn hóa Thành phố. Theo ông Hà Huy Tâm, trưởng pḥng văn hóa Thành phố, thắng cảnh Hàm Rồng là quần thể di tích với 16 hạng mục cấp tỉnh. Về hang động th́ có hai hạng mục chính là động Tiên Sơn và động Long Quang.
Từ trước tới nay, địa phương chưa từng tổ chức một đợt khảo sát nào để t́m lại thắng tích. Xét thấy việc t́m lại thắng tích Hàm Rồng, ngoài yếu tố tâm linh c̣n là sự giáo dục truyền thống. Ông Tâm khẳng định, nếu hội tụ đủ một số điều kiện cần, sẽ có tờ tŕnh UBND Thành Phố Thanh Hóa để làm.
Liên quan đến núi Hàm Rồng và huyệt hàm rồng trong phong thủy, có một truyền thuyết kể rằng vào khoảng năm 866-875, tiết độ sứ đất Giao Châu (tên nước ta thời thuộc Đường) là Cao Biền, rất giỏi về phong thủy, am hiểu việc làm bùa chú, lại biết nuôi âm binh, có thể ném hạt đậu hóa thành binh lính.
Biền thấy đấy Giao Châu có nhiều kiểu đất đế vương, sợ dân nơi đây bất khuất, khó ḷng cai trị, nên thường cưỡi diều giấy bay đi xem xét và t́m cách trấn yểm các long mạch để phá vượng khí của người Nam.
Bay qua vùng núi Hàm Rồng, nh́n thấy huyệt Hàm Rồng, Biền nói rằng địa thế này tuy không phải là hung địa “xương long vô túc” (rồng không chân) nhưng cũng là h́nh con rồng què chân, không phải đất cực quư, nên bỏ đi.
Miệng nói vậy nhưng chính y lại âm thầm trở lại, mang theo hài cốt cha để táng vào mong sau này có thể phát đế vương. Sau nhiều lần táng mả cha vào, xương cốt cứ bị huyệt núi đùn ra, không kết phát.
Cao Biền biết rằng đây là long mạch cực mạnh, cực quư. Th́ lại càng ham thích. Rắp tâm làm đến cùng, Biền bèn tán nhỏ xương vừa tung lên th́ có muôn con chim nhỏ cùng bay đến, vô cánh quạt vù vù làm xương cốt bám trên vách đá bay tứ tan.
Biền than rằng linh khí nước Nam quá mạnh, không thể cưỡng cầu. Quả nhiên không lâu sau, Biền bị triệu về nước rồi bị giết. Và sau này, đất Thanh là nơi phát khởi của nhiều vua chúa như: Tiết độ sứ Dương Đ́nh Nghệ, anh hùng áo vải Lê Lợi, Chúa trịnh và thời nay là Tổng bí thư Lê Khả Phiêu ... .
Nhiều người cho rằng, những chim nhỏ phá phép trấn yểm của Cao Biền là thần linh của sông núi nước Nam. Có người lại cho rằng đó là do Thánh Tả Ao hóa phép. Theo truyền thuyết, cụ Tả Ao là vua phong thủy của nước ta, chuyên phá những long mạch bị Cao Biền trấn yểm.
Không ai rơ tên và năm sinh, năm mất của Tả Ao nên chỉ gọi theo tên làng. Nhiều tài liệu phỏng đoán cụ tên thật là Vũ Đức Huyền hay Hoàng Chiêm hoặc Hoàng Chỉ, Nguyễn Đức Huyên, v.v…, sống ở làng Tả Ao, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh vào thời Lê.
Cũng có người nói ông sống trước thời Tùy Đường. Nhờ chữa cho một thầy phong thủy người Tàu khỏi mù mắt, cụ được thầy này truyền nghề lại. Tả Ao học một biết mười, chẳng bao lâu biết hết các tuyệt kỹ của thuật phong thủy, bèn xin về nước.
Thầy Tàu sau khi thử tài cụ, than rằng: “Tất cả tinh hoa môn phong thủy đă truyền về phương Nam rồi!”. Sợ Tả Ao biết hết các huyệt đế vương ở nước Nam mà khởi phát, thầy dặn khi đi trên đường về quê, qua nơi nào có sông núi phải nhắm mắt lại kẻo bị mù mắt.
Nhưng khi đi qua Hàm Rồng, do tính ṭ ṃ, Tả Ao hé một mắt nh́n, một mắt nhắm và phát hiện đây có một huyệt là hàm rồng sắp mở miệng. Cụ bèn đem hài cốt cha đến đợi. Nhưng người nhà thấy Ao đào hài cốt cha đem đi th́ hoảng hốt, chạy theo khóc lóc không cho làm thế.
Giằng co măi đến lúc hàm rồng khép miệng lại mà không táng được. Lại có khảo dị rằng, Tả Ao muốn cho con cháu phát khởi nên, trước khi chết, dặn con cháu đem chôn ḿnh vào đấy lúc rồng há miệng.
Các con người nghe, người cản nên đành hỏng việc. V́ vậy có người nói, tài giỏi như Tả Ao nhưng không đủ phúc phận cũng đành chịu.
Sưu Tầm
|
Quay trở về đầu |
|
|
dinhvantan Hội viên


Đă tham gia: 20 September 2003 Nơi cư ngụ: Vietnam
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 6262
|
Msg 549 of 2534: Đă gửi: 31 July 2008 lúc 9:27am | Đă lưu IP
|
|
|
Tôi có đọc quyển Địa lư Tả Ao nầy trước năm 1945, nay có ai c̣n , xin phổ biến .
|
Quay trở về đầu |
|
|
HoaCai01 Hội viên


Đă tham gia: 03 April 2008
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 3743
|
Msg 550 of 2534: Đă gửi: 31 July 2008 lúc 11:09am | Đă lưu IP
|
|
|
HC xin kể 1 câu chuyện được gọi vào đài 1320am tại Houston, tiểu bang Texas (chuơng tŕnh này kéo dài khoảng 4 năm nay, v́ vậy cả ngàn câu chuyện đă được thuật lại bởi những người trong cuộc hay những người có người thân là người trong cuộc)
Khoảng trước 1975, tại Sài G̣n, Đại Úy Danh là người trong nhóm Thần Quyền Thất Sơn, cũng nghiên cứu thuật trị ma bắt quĩ . Ông quen 1 cô nhà ở Củ Chi nhưng vào Sài G̣n làm gái vũ trường. Cô này khá đẹp, có duyên ăn nói, rất nhiều cây si say mê cho tiền boa cũng hậu hỉ. Bẳng đi thời gian vài ngày hay vài tuần, không thấy cô đi làm, nên ông Danh cùng đệ tử đến nhà tận quận Củ Chi t́m hỏi th́ mới biết cô đang bị ma nhập hành hạ .
Danh cho rằng ḿnh có công năng chữa bệnh tà ma với roi, chú ... nên chuẩn bị đồ nghề ra tay nghĩa hiệp, nào dè con ma ấy đối đáp tỉnh bơ, "Mày giết tao không được đâu, chỉ làm cô này chết mà thôi".
Con ma đó c̣n cho biết nó ở đâu quận mấy đường nào tại Sài G̣n, có ngon th́ kiếm nó chính là người sống . Thiệt là hết ư ! 
Danh ṃ tới nơi, quả thật người trai trẻ Ấn Độ ra tiếp đón, mời ngồi nói chuyện, mới biết anh ta thi triển tà thuật khống chế cô này v́ quá yêu cô ấy , pháp đó từ nước Ấn mà ra. Danh về nói lại gia đ́nh của cô gái đó và mẹ của cô gái đồng ư cho tên Ấn Cà Ri Nị làm rễ th́ nó mới buông tha cô này !
HC
__________________ Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm
|
Quay trở về đầu |
|
|
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
Msg 551 of 2534: Đă gửi: 31 July 2008 lúc 11:44am | Đă lưu IP
|
|
|
Bác dinhvantan thích khoa phong thủy hiendde cố gắng sưu tập tới đâu hay đến đó, chỉ mong bác và quư bác khác vui vẻ.
Bác HoaCai01 mà kể truyện ma là nhất rùi cám ơn bác, xin bác kể thêm cho quư bạn đọc.
Kính.
|
Quay trở về đầu |
|
|
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
Msg 552 of 2534: Đă gửi: 31 July 2008 lúc 12:10pm | Đă lưu IP
|
|
|
CÁC GIAI THOẠI VỀ CỤ TẢ AO
Tả ao Phong thủy nhất trên đời Họa phúc cầm cân định chẳng sai. Mắt Thánh trồng xuyên ba thước đất, Tay Thần xoay chuyển bốn phương Trời. Chân đi Long Hổ luồn qua gót, Miệng gọi Trâu Dê ứng trả lời. Ai muốn cầu sao cho được vậy Ấy ai Địa lư được như ngài.
Nhà Phong Thủy nổi tiếng của Việt Nam Tả Ao tên thật là NGUYỄN ĐỨC HUYỀN, người làng Tả Ao thuộc tỉnh Hà tĩnh.
Cụ sống vào đời Chúa Trịnh, gia đ́nh quá nghèo cha lại mất sớm, mẹ bị mù nên phải t́m đủ mọi việc để giúp đỡ mẹ già. Lúc bấy giờ có một ông thầy thuốc người Tàu nổi tiếng về khoa chữa mắt, nên cụ t́m đến xin được hầu hạ thầy để thầy ra tay tế độ chữa mắt cho mẹ ḿnh.
Ông thấy Tàu thấy cụ siêng năng, chăm chỉ lại thông minh nên đă truyền cho cụ một số phương cách chữa mắt. Nhờ vậy mà cụ chữa được mắt cho mẹ. Khi nghe tin ông thày Tàu sắp về nước, cụ vội vă đến xin phép thầy đi theo hầu hạ và học hỏi thêm về khoa chữa mắt. Ông Thầy bằng ḷng.
Thế là cụ bôn ba theo thầy Tàu và được truyền dạy tất cả những ǵ mà ông thày Tàu có được về nghề chữa mắt, nhất là khi ông thày Tàu đă quá già.Từ đó cụ tự chữa cho nhiều người lành bệnh mắt, danh cụ vang khắp vùng.
Có một thầy Địa lư nổi danh trong vùng bị đau mắt, nghe danh cụ, liền cho người dẫn đến gặp cụ. Chỉ trong một thời gian ngắn cụ đă chữa khỏi bệnh mắt cho ông thầy Địa lư. Thầy Địa lư mừng quá đem vàng hậu tạ, nhưng cụ không nhận mà chỉ xin được làm đệ tử môn Địa lư Phong thủy mà thôi.
Thấy người có tài đức lại có chí ham học hỏi, nên thầy Địa lư không ngần ngại đồng ư truyền hết những ǵ về Phong thủy mà ḿnh có được. Chẳng bao lâu, cụ đă thành thạo tất cả những ǵ mà vị thầy Địa lư đă truyền cho ḿnh.
Tương truyền khi học xong nghề thầy, ân sư người Tàu thử tài môn đệ trước khi "tốt nghiệp".
Ông thầy chôn 100 đồng tiền xuống mô h́nh băi cát rồi bắt cụ Tả Ao cắm kim vào đúng lỗ mỗi đồng. Cụ Tả Ao châm đúng giữa 99 đồng, chỉ có hơi lệch 1 đồng. Thầy Tầu than:
- Thôi nghề của ta từ nay truyền sang nước Nam rồi.
Ông thầy Địa lư công nhận cụ là người sáng trí, tài cao, đức trọng, nên không tiếc rẻ công sức ḿnh truyền dạy cho. Khi dời nước Tàu về nước, cụ đă chữa mắt cho rất nhiều người, ngoài ra cụ c̣n đi t́m những vùng đất tốt và nghiên cứu các Long mạch, các Địa linh ở quanh vùng.
Cụ không v́ tiền bạc, danh vọng mà đi t́m các cuộc đất tốt cho những kẻ không xứng đáng được hưởng. Dù cụ giới hạn về khoa địa lư, nhưng nhiều người đă t́m đến cụ để nhờ cụ giúp t́m đất tốt cho nhà cửa, mồ mả, phương hướng thuận lợi cho họ.
Dân chúng thời bấy giờ đă gọi cụ là cụ Tả ao (Làng Tả ao) danh tiếng của cụ vang đi khắp nơi và người đương thời truyền tụng cho nhau, nhiều giai thoại của cụ Tả ao ngay c̣n lúc cụ c̣n sống.
Một trong những giai thoại nổi tiếng nhất của cụ Tả Ao là, chữa thế đất cho làng Hành Thiện ở Nam Định.
Cụ đi tới làng Hành Thiện thấy đất làng h́nh con cá chép bơi ra biển, phù sa mỗi ngày một bồi thêm đất làm làng hưng phát, chỉ hiềm con cá chép không có mắt nên không phát khoa danh.
Dân làng nghe cụ nói bèn hậu đăi trà rượu và khẩn khoản xin cụ đặt lại hướng làng. Cụ Tả Ao thấy dân làng tử tế liền chỉ cho làng đào một cái giếng lớn làm mắt cho con cá chép, từ đấy dân làng bắt đầu phát khoa danh, nhất là họ Đặng.
Cụ Tả Ao đi xem đất suốt từ Nghệ Tĩnh ra các làng mạc ở khắp miền Bắc và trong gia phả của nhiều gia đ́nh c̣n ghi lại những công tŕnh địa lư phong thủy của cụ.
Nhiều chuyện khôi hài do quần chúng thêm thắt như chuyện:
Cụ Tả Ao thấy dân làng kia rất xấu tính mà lại xin cụ để kiểu đất nào có thể "đè đầu thiên hạ", cụ liền t́m cho làng một kiểu đất khiến dân làng dần dần theo nghề "húi tóc", có thể "đè đầu vít thiên hạ" đúng như ư nguyện.
Tương truyền cụ đang đi chơi ngoài băi biển thấy sóng gió nổi lên ầm ầm, biết là hàm rồng 500 năm mới há mồm một lần ở biển Đông, liền chạy về nhà mang cốt mẹ ra định ném xuống hàm rồng, nhưng v́ thương tiếc chần chờ, nên hàm rồng đóng lại, biển khép êm sóng lặng như trước.
Lúc sắp chết, cụ dặn con cháu khiêng ḿnh ra miếng đất đă định trước, là đất địa tiên "nhất khuyển trục quần dương" (một con chó đuổi đàn dê), nhưng không kịp đành dừng lại nửa đường phân kim, lựa cho chính ḿnh một miếng đất phúc thần, đời đời ăn hương hoa mà thôi.
Tương truyền ông để lại 2 bộ sách về địa lư:
Địa Lư Tả Ao (Địa Đạo Diễn Ca) 120 câu.
Dă Đàm Tả Ao Tầm Long Gia Truyền.
Sau này có nhiều dị bản chép lại và có nhiều tên khác:
Địa lư Tả Ao di thư chân chính pháp.
Tả Ao chân truyền di thư.
Tả Ao chân truyền tập.
Tả Ao tiên sinh bí truyền gia bảo tàng.
Tả Ao tiên sinh địa lư.
Tả Ao tiên sinh thư truyền bí mật cách cục.
Bản quốc Tả Ao tiên sinh địa lư lập thành ca.
Sưu Tầm
|
Quay trở về đầu |
|
|
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
Msg 553 of 2534: Đă gửi: 31 July 2008 lúc 12:23pm | Đă lưu IP
|
|
|
CÁC GIAI THOẠI VỀ CỤ TẢ AO
Truyền thuyết về Tả Ao thành Phúc Thần như sau:
Sau nhiều năm bôn ba tầm long, Tả Ao đă chọn cho ḿnh chỗ an táng khi về già theo thế ĐỊA TIÊN "nhất khuyển trục quần dương" (con chó đuổi đàn dê) ở xứ Đồng Khoai.
Nếu táng được ở đây th́ chỉ ba ngày sau là thành Địa Tiên. Tả Ao có một đệ tử tin cậy và khi ông mất người tṛ sẽ theo lời dặn ḍ để an táng Thầy vào đó, nhưng khi Thầy tṛ từ Trung Quốc về th́ trên đường không may người tṛ bị ốm dịch mất.
Tả Ao có hai người con trai nhưng do chu du thiên hạ, không màng dang vọng, bổng lộc nên gia cảnh, con cái th́ bần hàn. Lúc sáu lăm tuổi, biết ḿnh sắp về chầu tiên tổ nên bảo hai con khiêng đến chỗ ấy, rồi nằm dưới mộ và tự phân kim lấy, dặn con cứ thế mà chôn.
Mới được nửa đường, biết là sẽ chết trước khi đến nơi, không thể kịp được nên Tả Ao bèn chỉ một g̣ bên đường có thế "huyết thực" mà dặn con rằng:
- Chỗ kia là ngôi huyết thực, bất đắc dĩ th́ cứ táng ở đó, sẽ được người ta cúng tế.
Hai con bèn táng luôn ở đó, sau Ngài thành Phúc Thần một làng (Nam Tŕ).
Trong đ́nh Nam Tŕ có câu đối của Tả Ao nói về địa lư, phong thuỷ Nam Tŕ:
"Tây lộ khê lưu kim tại hậu. Đông giang thuỷ tụ mộc cư tiền"
Nghĩa là phía Tây của đường làng có ḍng nước chảy, phía sau của làng là hướng Tây Bắc (hướng tây bắc hành kim)
Phía đông làng có sông nước tụ làng nh́n về hướng Nam (hướng nam hành hoả). Sau này dân làng Thờ Tả Ao như Thành Hoàng làng .
|
Quay trở về đầu |
|
|
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
Msg 554 of 2534: Đă gửi: 31 July 2008 lúc 1:31pm | Đă lưu IP
|
|
|
PHONG THỦY:
TẦM LONG TRÓC MẠCH
Ngồi chung chuyến bay chúng tôi một già một trẻ không hiểu thân nhau tự lúc nào. Chúng tôi trao đổi cho nhau từ chuyện này qua chuyện khác. Tôi là một kỷ sư điện toán phần mềm c̣n ông lại không ngờ là một Thầy Địa lư.
Tôi vốn thích Tử Vi và cũng có dịp đọc qua các sách Phong Thủy nhưng thực t́nh sự hiểu biết c̣n ở bậc sơ học. C̣n ông cũng đă có dịp may học Tử Vi với một chân sư nhưng nay ông chỉ chuyên về Bát Quái Cửu Cung Hà Đồ Lạc Thư.
Trong đó ông nghiêng hẳn về Phong Thủy Địa Lư trên hai khía cạnh Dương Trạch-Âm phần để nhằm tạo sự hài ḥa giữa con người và các vũ trụ tuyến. Ông cho biết gốc của Tử Vi là Bát Quái Cửu Cung nhưng nay các sách Tử Vi lại chỉ nói đến phần ngọn là an sao đoán số.
Ông nghĩ rằng Tử Vi luận số mạng của một người và có tính cách tiêu cực v́ ít ai thay đổi được số mạng cả c̣n Địa lư nếu làm được có thể thay đổi số mạng cả một gia đ́nh hay cả một ḍng họ.
Do đó Địa Lư có tầm quan trọng lớn và thiết thực hơn. Tôi được biết ông là học tṛ cụ Dương Thái Ban, một danh sư Địa Lư và ngoài ra ông cũng đă có dịp qua Đài Loan tham khảo thêm về môn này.
Tôi rất thích nghe chuyện Địa lư của ông nên cố gắng khơi chuyện về mồ mả kết phát. Ông bảo các tài liệu về mồ mả kết phát có nhiều trong “Nam Hải Dị nhân” hay “Công Dự tiệp kư”.
Tuy nhiên ông cũng không ngại kể cho nghe một câu chuyện mới về Địa lư mồ mả do chính ông thực hiện. Một ngôi mả mà ông nghĩ con cháu của phúc chủ sau này sẽ hơn cha mẹ v́ chính ông khi làm nhận thấy như được Thần linh dẫn dắt nên mọi việc êm xuôi như trở bàn tay.
Tôi xin ghi lại câu chuyện theo lời kể của ông.
Sau nhiều ngày dong duổi tầm long tróc mạch, tuy đă t́m ra một số cuộc đất với những huyệt kết rơ ràng minh bạch. Nhưng tiếc thay có huyệt vận thời chưa đến lúc dùng được như được Hướng mà không được Sơn, gây ra cảnh tổn đinh tuyệt tự; sơn thủy đảo điên chỗ nên có sơn th́ lại có thủy, và chỗ nên có thủy th́ lại có sơn, rất nguy hại cho tiền tài và con cái.
Có nơi huyệt quá gần nơi dân cư đă cất nhà không tiện cho việc đặt mồ mả. Trước khi nhận giúp gia đ́nh này tôi đă khấn trước bàn thờ chư Tổ và được các ngài tiết lộ “Địa hữu Thần, Thậm uy linh …” nên trong ḷng chắc chắn gia chủ thuộc cảnh “Tiền Nan hậu dị” do đó vẫn yên trí t́m thêm.
Một hôm vào buổi chiều trời đă xế nắng sau khi lội b́ bơm qua một cánh đồng lúa xanh ŕ và phập phồng vịn tay qua cầu khỉ cheo leo, chúng tôi đặt chân lên một cuộc đất với gịng nước ôm quanh.
Nơi đây là một cái g̣ nằm giữa cánh đồng cây cối um tùm xum xê, nào vườn táo, nào luống bắp, nương ngô, kia rặng chôm chôm, nọ luống xoài cát v.v…
Cũng may chúng tôi gặp ngay người chủ vườn và sau khi tṛ truyện khoảng một giờ th́ trời sắp tối. Chúng tôi xin hẹn ngày mai sẽ trở lại và được họ chỉ cho về bằng lối bờ ruộng trước mặt để tránh lầy lội.
Chúng tôi vừa đi vừa ngoái trông lại cái g̣ đất mới phát hiện, ḷng như lưu luyến chẳng muốn về. Bất giác một tia sáng lóe ra tíc tắc trong đầu ngay lúc đấy, chúng tôi tự nhiên biết được huyệt nằm ở đâu và hướng của huyệt quay về đâu.
Trực giác bén nhậy này chúng tôi chưa từng cảm thấy trong các lần t́m huyệt trước trong chuyến đi. Hôm sau trở lại khi đứng tại huyệt trường, chúng tôi ngạc nhiên các chứng ứng của huyệt rất phù hợp một cách toàn thể như được đúc khuôn.
Minh đường là cánh đồng lúa mênh mông xa măi đến bờ sông; Án gồm cận án là đám ruộng cao trông tựa lưng con rùa phơi ḿnh trên cánh đồng, viễn án là hai ngọn đồi sát nhau h́nh như lưng con lạc đà hay gọi là thiên mă.
Tay long là một dẫy núi dài bên tay trái h́nh cong cong như lưỡi liềm, mà đầu lưỡi liềm lại có một ngọn núi trông như một kim tự tháp nhỏ thường gọi là bút đứng hay bút lập.
Tay hổ là dăy núi h́nh móc câu trông như cổ con vịt quay đầu vùng vẫy trong gịng nước. Nơi đây cũng chính là Nhập Thủ Long để dẫn khí mạch đến vùng đất kết.
Nhập thủ sinh động như thế thật là hiếm thấy. Bên cạnh phía ngoài tay hổ cũng có một ngọn núi nhọn và như thế hai bên tay long tay hổ đều có bút đứng.
Cụ Tả Ao có câu:
“Bút lập là bút Trạng Nguyên. Bút thích giác điền là bút Thám hoa.”
Chúng tôi rất ngạc nhiên v́ cuộc đất có một bút đứng hay văn phong (núi chủ về văn học) đă là hiếm, mà ngôi đất này lại có cả hai. Ngoài ra c̣n có nào là Thiên mă và g̣ đống rất nhiều, trên tay long tay hổ cũng như chẩm phía sau huyệt.
Có thể áp dụng những câu thơ của cụ Tả Ao vào trường hợp này.
“Muốn cho con cháu nên quan Th́ t́m Thiên mă phương Nam đứng chầu Muốn cho kế thế công hầu Th́ t́m chiên trống dàn chầu hai bên”
Nhưng h́nh thể dù có đẹp đến đâu đi nữa, cũng c̣n phải dùng đến phép Lư khí Huyền Không, để phối hợp xem có thật phù hợp hay không.
Điều lạ là ngôi đất lấy cánh đồng trước mặt làm Minh đường, nhưng sau huyệt và tả hữu huyệt là một lạch nước bao quanh, rồi mới đến hậu chẩm cũng là một rặng núi nhấp nhô, có thể gọi là Tam thai Ngũ nhạc.
Như thế là huyệt có đầy đủ những chứng ứng cần thiết Long Hổ án chẩm. Hành long thuộc dạng Văn Khúc Thủy, kéo dài cả hơn hai mươi cây số qua các quận huyện. Khi kết huyệt lại phù hợp với cách thức diễn tả trong Hám long kinh, một chân thư về Loan đầu.
“Văn Khúc kết huyệt Chưởng tâm lạc” hay thủy long thường kết huyệt ở giữa như ḷng bàn tay, và do đó lấy núi non của Long của ḿnh, làm Long Hổ Án Chẩm.
Chúng tôi dùng tay bấm quẻ Huyền không Lư khí th́ lạ thay, các nơi đặc biệt như bút hai bên, Thiên mă Án, Tam thai ngũ nhạc chẩn đều phù hợp với sự biến động của khí vô h́nh trong vận đầu của Hạ nguyên, hay 60 cuối của chu kỳ tam nguyên 180 năm.
Thông thường với các môn phái khác như Tam Hợp Cửu tinh, không khi nào dám lập huyệt mà lại dựa lưng vào nước gần như thế, v́ họ luôn luôn trông vào nước trước mặt để làm minh đường.
Đối với môn phái Chính tông, th́ không nhất thiết phải như thế. Chúng tôi khi lập huyệt này đă gối đầu vào lạch nước phía sau, mà theo Huyền Không lư khí hóa ra lại hay, v́ thu được cả h́nh thể hữu t́nh cũng như khí vô h́nh, luân lưu trong cuộc đất qua chu kỳ Tam Nguyên Cửu Vận.
Cái lạch ôm quanh và rặng núi Tam thai Ngũ nhạc đều hợp thời hợp vận. Do đó sau khi học được lư khí Chánh tông, th́ lập huyệt định hướng cũng trở nên dễ dàng, v́ không c̣n e ngại những “kỳ h́nh quái huyệt” đă làm điên đầu bao nhà nghiên cứu, chẳng biết xoay sở làm sao mà điểm cho đúng với Lư Khí cả.
Ngoài ra khi lập huyệt định hướng, phải phối hợp với Nhập thủ mạch theo một phương pháp nhất định. Về điểm này chúng tôi may được dân địa phương dẫn đi chung quanh quan sát, từng khóm cây ngọn cỏ, mới nhận rơ mạch thổi vào huyệt từ đâu.
Sau đó đem phương pháp h́nh thể Chánh Tông vào phối hợp, th́ quả là phải như thế. Chúng tôi hồi tưởng lại lời khẩu truyền tâm thụ của Thầy, không khỏi khâm phục và nhớ măi “...
Nếu không như thế th́ là "giả huyệt”. Lư khí chân truyền thật là giản dị, đúng như các chân sư thường nhắc nhở. “Độc thư vạn bộ bất như khẩu quyết nhất chiêu” xin tạm dịch “Đọc hàng ngàn quyển sách không bằng hiểu thấu đáo một câu quyết qua sự khẩu truyền”.
Quan sát h́nh thế và so sánh với các huyệt quanh vùng, chúng tôi nghĩ rằng đây là huyệt chính của cuộc long. Long đ́nh khí chỉ thủy tụ, khi hành long buông ḿnh phân ra long hổ kết huyệt, trước khi ra đến bờ sông.
Huyệt nằm giữa ḷng bàn tay, nhưng được tay hổ quay đầu thổi khí vào, trông ngoạn mục như đầu con c̣ trong tư thế quay đầu rỉa lông.
Dân địa phương cũng nhận biết đây là thế đất h́nh con chim. Nếu nói theo kiểu hát h́nh ta có thể gọi là cách “Đại bàng ẩm thủy” hay “Bạch nhạn ẩm tuyền” cho dễ h́nh dung.
Huyệt kết ở dạng Đột là một cái g̣ với dư khí thè ra như cái môi, trước khi thoái khí dần vào Minh đường, đúng như các sách Địa lư thường căn dặn, Long Huyệt phải có chiên thần.
Cụ Tả Ao có câu:
“Kết thoái dư khí c̣n xa Phải đi trăm dặm mới ra chiên thần”
Khi đào huyệt qua hai lớp đất phía trên độ hai tấc, chúng tôi gặp lớp đất thứ ba dầy sâu độ một thước. Đất đầy sinh khí tươi nhuận với đầy đủ ngũ sắc năm mầu: Trắng, Vàng, Đỏ mầu gạch, Hồng, Xanh.
Khi dùng tay rờ th́ đất biến thành bột tựa như cát mịn. Người không biết cũng trầm trồ khen là đất đẹp. Riêng chúng tôi cũng mừng thầm cho phúc chủ được đất đầy đủ ngũ hành.
Huyệt tọa Cấn hướng Khôn, hơi nghiêng về Dần Thân để hóa đi sát khí, nếu có tại các phương Đông và Đông Nam.
Huyệt nhằm thâu lấy khí tốt tại phương Tây Nam, có án lưng rùa và Thiên mă, phương Nam và Tây với Long Hổ và bút lập hay văn phong.
Phương Đông Bắc với lạch nước ôm quanh và rặng núi Tam Thai Ngũ nhạc. Cách phát thế nào th́ gồm Đinh Tài, văn học, vũ chức hay công danh thành đạt khác thường.
Khi nào phát th́ chúng tôi luận theo lư khí chân truyền, được biết sẽ phát ngay trong vận này và sẽ kéo dài hết cho đến năm 2044.
Cũng nên biết thêm năm 1995 thuộc vận thứ bảy của Hạ Nguyên, dùng huyệt này th́ thu được khí tốt ở những chứng ứng trên. Nhưng nếu sang đến Thượng Nguyên, th́ không những không thu được sinh vượng khí, mà c̣n bị sát khí làm hại. Do đó chữ Thời có một ảnh hưởng tối quan trọng trong sự thực hiện Địa lư.
Gia đ́nh phúc chủ thuộc hậu duệ của một bậc Trạng Nguyên ngày xưa, cũng do mồ mả kết phát nên vẫn c̣n duy tŕ được truyền thống Địa Linh Nhân Kiệt. Các con cố gắng thực hiện Địa lư trong hoàn cảnh không mấy thuận lợi, nhưng cuối cùng mọi việc đều thu xếp được vẹn toàn.
Cụ ông lúc c̣n sống trọng t́nh nghĩa hơn tiền tài. Suốt đời luôn luôn đứng về phe kẻ yếu; một ḿnh can đảm dám chống lại cả một phong trào a dua theo thời thế.
Cụ ông mất trong lúc không thuận lợi cho việc thực hiện “Tầm long tróc mạch” nhưng sáu năm sau, các con ai cũng đồng tâm nhất trí lo cho cụ ông được toại nguyện, theo truyền thống tổ tiên “sống có nhà thác có mồ”.
Người con trưởng cho chúng tôi biết, gia đ́nh đă làm lễ và cụ ông đă đồng ư một cách không ngần ngại, gieo quẻ âm dương được ngay lần đầu, cho phép cải táng.
Hôm bốc mộ chúng tôi thấy quả là linh nghiệm và đúng lúc v́ nắp áo quan đă mục. Gia đ́nh làm lễ rước cụ về nơi huyệt mới, đầy sinh khí phong cảnh hữu t́nh.
Thông thường ở địa phương này vào thời gian đó hầu như ngày nào cũng mưa vào buổi chiều. Chúng tôi chỉ nhắm chọn ngày giờ theo cho được ngày lành giờ tốt, nhưng lại được cả ngày nắng, đến măi nửa đêm trời mới đổ mưa.
Lúc hạ huyệt khi đọc điếu văn, trời có nổi cơn giông tưởng chừng sắp mưa, nhưng chỉ có vẻ tỏ dấu hiệu hài ḷng cho mọi việc đă được vẹn toàn. Lễ cải táng cụ là một ngày đẹp trời. Mây trắng trời xanh làn gió mát, như báo hiệu điềm lành cho sự chuyển ḿnh của một ḍng họ qua giai đoạn mới.
Ngay hôm đó chúng tôi và gia đ́nh phúc chủ không định đến thăm khu nhà người chủ đất, v́ mọi sự đă có sự bằng ḷng giữa đôi bên. Nhưng nhờ một sự t́nh cờ chúng tôi và con cháu của cụ đă đến thăm người chủ đất. Từ đây họ coi nhau như anh em trong một nhà. Chúng tôi chợt nghĩ thoáng trong đầu, có lẽ nào cụ ông “sống khôn thác thiêng” đă bảo cho gia đ́nh biết sống theo đạo lư, nên tỏ sự biết ơn kẻ đă giúp ḿnh trong ngày cải táng.
Làm xong cuộc đất một cách tươm tất, phần chúng tôi cũng như phía gia đ́nh phúc chủ, cảm thấy như là mọi việc đă được sắp đặt từ trướ,c và chúng tôi đôi bên chỉ là những kẻ theo đó mà làm.
Riêng chúng tôi trực giác nhận ra huyệt và sau đó dùng lư khí Chính tông, phối hợp giữa loan đầu h́nh thể và khí vô h́nh lại phù hợp được nhiều nơi.
Lúc đào đất lại được đất ngũ sắc năm màu hiếm quư. Khi chọn ngày hạ huyệt lại được ngày không mưa. Chúng tôi trộm nghĩ rằng quả là đất này có Sơn thần Thổ địa trấn giữ từ lâu, và ngày nay mách cho chúng tôi để tặng cho phúc chủ.
Người con trưởng cũng không ngần ngại tiết lộ cùng chúng tôi, gia đ́nh cũng có nhờ người xem quẻ dịch về cuộc đất này, và quẻ ra rất tốt với lời bàn:
“Quả đào ngàn năm mới chín để đăi cho gia đ́nh có phúc. Có thể thực hiện mà chờ kết quả".
Quả đào ngàn năm đây muốn nói đến huyệt kết rất quư và hiếm, như là phải cần đến ngàn năm mới có một lần.
Cho nên thực hiện Địa lư nói khó cũng được mà nói dễ cũng được. Khó cho những ai chưa bắt tay vào việc, nào là Chân sư có mấy ai, thời gian eo hẹp và tiền bạc tốn kém. Dễ cho những ai có Phúc Duyên và nếu thành tâm, th́ thường được Thần linh giúp đỡ chỉ đường, biến mọi việc tưởng như khó mà lại hóa dễ như không.
Nghe xong câu chuyện, tôi nhớ lại một bài báo tại Mỹ của tờ San Jose Mercury News trong năm 1995, có nói đến một nghĩa trang do người Trung Hoa sáng lập với những huyệt giá từ 200,000 đến 300,000 dollars.
Nghĩa trang này nếu tôi nhớ không lầm, th́ tại thành phố Colma gần phía Nam của thành phố San Francisco. Tôi định hỏi thêm về các chi phí tại nơi ông làm, nhưng phi cơ đă bắt đầu hạ cánh sắp sửa đáp.
Qua khung cửa con rồng Á Châu, quê hương tôi đă hiện ra trên các đám ruộng xanh, gịng sông với phù sa mầu hồng vờn lượn, những rặng núi ṿng quanh ôm ấp ruộng đồng làng mạc như một bức tranh thủy mạc.
Tự nhiên tôi thấy như có một luồng sinh khí đang thổi vào óc năo châu thân và ḷng lâng lâng rộn ră khi sắp đặt chân trở lại vùng đất quê hương yêu dấu. Nơi đây Địa lư Phong thủy hay hiện tượng Địa linh Nhân kiệt vẫn c̣n duy tŕ và thực hiện như một truyền thống khó phai nḥa theo gịng lịch sử.
Thật kỳ diệu và huyền ảo thay! con người một linh vật sinh ra giữa trời đất, rồi lại trở về với đất trời. Trong bối cảnh con người tuy có chết, nhưng lại luôn được tái sinh.
Địa lư thật đă đóng một vai tṛ quan trọng. Không những luôn vun bồi cho cuộc sống, mà lại c̣n tái tạo và nâng cao cuộc sống cho thế hệ mai sau.
Và h́nh như hiện tượng Địa linh Nhân kiệt vẫn hằng luôn ở trong mọi người chúng ta, vào mỗi khi tâm hồn và trái tim rung cảm ḥa nhịp cùng Hồn thiêng sông núi, như một Cộng hưởng tích lũy sức sống triền miên luôn tồn tại chẳng bao giờ mất, của những trang Anh Hùng Liệt Nữ qua bao ngàn năm.
Tôi hẹn xin đến thăm ông để t́m hiểu thêm về bộ môn Địa lư Phong thủy, một môn Khoa học Nhân văn thiết thực tuy xưa cổ, nhưng tràn đầy nhân tính trong mục đích báo hiếu tổ tiên, và gây dựng tương lai cho con cháu.
Bác sĩ Phạm văn An.
|
Quay trở về đầu |
|
|
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
Msg 555 of 2534: Đă gửi: 01 August 2008 lúc 12:51pm | Đă lưu IP
|
|
|
HUYỀN THOẠI CUỐI CÙNG TRÊN
ĐỈNH CẤM SƠN
Núi Cấm xă An Hảo, huyện Tịnh Biên, An Giang là ngọn núi cao nhất trong dăy núi Thất Sơn. Qua bao đời núi Cấm vẫn c̣n lưu truyền những chuyện kỳ bí, và cái thời thú dữ như hùm beo, măng xà, rắn độc... c̣n ngự trị trên ngọn núi cao vời vợi này, th́ đây cũng là nơi các đạo sĩ, chí sĩ ẩn danh giúp đời.
HUYỀN THOẠI ĐẠO SĨ CẤM SƠN.
Dựa vào bộ sưu khảo "Nửa tháng trong miền Thất Sơn" và "Thất Sơn mầu nhiệm" do cụ Nguyễn Văn Hầu biên chép, chúng ta có thể biết thêm vô vàn chuyện kỳ bí về vùng đất bán sơn địa này. Cụ Hầu có đề cập đến các đạo sĩ tài danh ẩn thân thâm sơn cùng cốc như Cử Đa, Bảy Do và Đơn Hùng Tín...
Được biết từ năm 1919 tại sườn núi hoang vắng này xuất hiện một thảo am, với một đạo sĩ quê Bến Tre khoác áo tràng đen, đi chân đất, đầu búi tóc, ngày hai buổi ngồi thiền, đến đêm lại luyện vơ dưới bóng trăng. Đạo sĩ đó là Bảy Do tức Nguyễn Văn Do cháu của người anh hùng dân tộc Thủ Khoa Huân.
Chán cảnh nước mất, giặc Pháp bạo tàn nên ông Bảy Do lên núi Cấm tu đạo cứu đời. Ông xây chùa đặt tên Nam Cực Đường và thu nhận môn đồ, chí sĩ yêu nước. Cụ Cử Đa chán cảnh ngoại bang ngang ngược nên bỏ chức lộc gia nhập theo nghĩa quân Thủ Khoa Huân chống Pháp. Khởi nghĩa thất bại cụ Cử Đa đă tới non cao hiểm trở này ẩn danh tu đạo lấy hiệu Ngọc Thanh.
Người dân c̣n truyền tụng về đạo sĩ Lê Văn Tín, vốn ở rạch Cái Sao, làng Nhị Mỹ, quận Cao Lănh cũ. Tín là tá điền thấy địa chủ và thực dân bóc lột đàn áp dân nghèo nên căm phẫn lên non cao tầm danh sư. Sau đó, Tín xuống núi đi cướp của bọn giàu có bất nhân chia cho người nghèo.
Tín rất thích biệt danh Đơn Hùng Tín tên một vị tướng trung dũng Trung Quốc, riêng dân bạn Biển Hồ Campuchia, tâm phục nên thành kính gọi Tín là Luôn Tín. Với tài nghệ xuất quỷ nhập thần, Tín đă gây kinh hoàng cho bọn ác bá và nhà cầm quyền Pháp. Nhà văn quá cố Nguyên Hùng khi đề cập đến các nhân vật "giang hồ lục tỉnh" đă thương cảm rằng Tín sanh bất phùng thời.
Sau thời của ông Bảy Do, Cử Đa, Đơn Hùng Tín, chúng tôi c̣n nghe có các đạo sĩ mai danh trên núi Cấm như ông Trương Minh Thành, Mười Hột, Sáu Phu. Ông Thành hiền lương sống xa thế tục, chọn chốn non cao ngồi thiền, luyện vơ thuật. Giỏi vơ nhưng ông dùng sức mạnh đó để diệt trừ các loài măng xà, ác thú hại người. Có truyền thuyết rằng có con măng xà vương tên là Phi lân xà hại dân lành. Hay tin ông Thành đă hạ sơn trừ hại rắn dữ.
ĐẠO SĨ CUỐI CÙNG TRÊN ĐỈNH CẤM SƠN.
Háo hức với huyền thoại về các đạo sĩ một thời tạo nên truyền kỳ Thất Sơn, chúng tôi quyết định vượt dốc ngàn lên núi Cấm với hy vọng có chút cơ duyên gặp lại các truyền nhân mai danh ẩn tích.
Anh xe ôm tên Lành quả quyết rằng trên núi này c̣n nhiều đạo sĩ lắm, đạo sĩ Tư Cao, đạo sĩ Năm, Ba Lưới. Vị đạo sĩ thâm niên nhất là Ba Lưới, có mặt trên núi Cấm thời trai trẻ và từng đánh chết măng xà. Ba Lưới được dân núi kính trọng bởi ông sống một đời hiền lương. Ông cũng là người thông thạo các loại thuốc quư hiếm trên đỉnh Thất Sơn và hết ḷng bốc thuốc cứu người.
Trước mắt chúng tôi là một đạo sĩ đạo mạo với gương mặt đẹp lăo. Năm nay đă 88 tuổi nhưng ông Ba Lưới vẫn c̣n minh mẫn tinh anh. Theo ông Lưới th́ sau thời ông Trương Minh Thành, ở Vồ chư thần có hai anh em là Sáu Hột, Mười Phu tu luyện cùng thiên nhiên mây ngàn.
Hai ông rất giỏi vơ và dùng vơ học đánh thú dữ, trừng phạt kẻ bạo ngược. Những vị này đă tạ thế nhưng đạo hạnh và tấm ḷng v́ dân vẫn được truyền tụng.
Ông Ba Lưới kể:
Ông tên thật là Nguyễn Văn Y, quê gốc ở Chợ Mới An Giang. Năm hai mươi tuổi, mến cảnh rừng thiêng nên một ḿnh can đảm vượt non xanh tầm sư. Lúc đó núi Cấm đường dốc trơn tuột, chưa có lối ṃn sẵn như bây giờ, cây to che phủ tứ bề, sơn lam chướng khí trùng trùng, ba, bốn giờ chiều là nắng hết rọi tới.
Mỗi khi trèo non vượt núi phải gánh gạo, mắm muối theo nên đi đứng khó khăn lắm. Giữa chốn u tịch hoang vắng rợn người này, ai chân yếu tâm linh xằng bậy, một tiếng hổ gầm, rắn độc ngáng lối cũng có thể khiến bủn rủn té nhào.
Những năm 1945-1947, cọp beo, rắn rít, heo rừng tràn đầy, có lúc gặp cả thú hiếm như bạch hổ và hắc hổ. C̣n rắn măng xà to cỡ như rắn hổ mây th́ lềnh khênh.
Ông Ba Lưới c̣n nhớ, nếu không có vơ công và đảm lược ông đă làm mồi cho hổ mây đen. Trưa đó đang lên dốc núi, đột ngột thấy một khúc đen thui nằm vắt ngang cây, ông lạnh ḿnh khi thấy đó là con rắn hổ mây trên 140 kg.
Nghe động, nó ngóc đầu dậy nh́n ông bằng cặp mắt đỏ ngầu. Biết không tránh khỏi cuộc ác đấu nên ông lùi lại cầm cây đ̣n gánh xuống tấn thủ bộ. Từ trên cây, rắn rít lên và vung đuôi lao tới như gió lốc. Ông Ba Lưới b́nh tĩnh nh́n rơ cái chóp đuôi di chuyển rồi lấy sức quét cây đ̣n gánh vào cổ rắn.
Chỉ nghe một tiếng rốp khô khan con rắn bất tỉnh và cây đ̣n gánh găy làm đôi. Lần thứ hai, ông Ba Lưới lại đụng đầu con rắn hổ mây đen khoảng 60 kg và cũng đánh chết nó.
Ông Ba Lưới nói, mười lăm năm trước ông cũng mở cửa nhận môn đồ dạy vơ công, nhưng phần đông học để khoe mă, cậy thế làm xằng nên chán nản ông đóng cửa bế môn.
Nhưng núi Cấm đâu chỉ có hùm beo, măng xà, nó c̣n là kho thuốc với các loại dược liệu quư hiếm. Trầm hương, một loại cây quư cũng từng mọc ở nơi này. Mỗi vị thuốc công năng công dụng khác nhau được ông Ba Lưới hết ḷng vun dưỡng, nuôi trồng pḥng ngừa giúp người gặp nạn.
Người dân đánh nhau u đầu bể trán hoặc bệnh thổ tả, sốt rét hay đau khớp, gai sống, viêm thần kinh, động phong, đau đầu, đều t́m đạo sĩ Ba Lưới cầu cứu. Trên đỉnh núi xa lắc xa lơ này nếu không có những bài thuốc quư và tấm ḷng như Ba Lưới, dân núi khi lâm bệnh hiểm nghèo khó mà xoay xở được.
Ông Ba Lưới chỉ buồn một nỗi: "Các cây thuốc hiếm hồi xưa mọc nhiều nay mười phần tiêu hết tám. Mấy thứ dược liệu như dây điển điển núi, sâm đất, ngải móng trâu, đỗ trọng, hồng khấu, sa nhơn, kỳ nam, ngải tượng, cam thảo... khó t́m lắm, có khi phải ṃ khắp mấy triền núi vắng, mới mong có mà bốc thuốc cho bệnh nhân.
Ngày xưa tui tầm được thuốc quư. phải khấn vái chư thần coi cây nào nhổ được cây nào dưỡng, không phải nhổ ráo trọi bứng gốc bẻ cành láng lềnh, như mấy "ông thầy bà" bây giờ đâu".
Huyền thoại và sự thật về các đạo sĩ Cấm Sơn chân tu xưa nay là vậy. Song lần hồi cuộc sống xô bồ xô bộn đă làm nơi chốn này bớt thiêng. Dựa vào thiêng linh núi Cấm, nhiều "đạo sĩ dỏm" đă dựng chuyện hư lộng quỷ thần, lừa gạt nhân gian làm điều bất chính.
Chẳng hạn như "đạo sĩ" H.K ở núi Bạch Hổ mượn các tṛ đồng cốt, hay như "đạo sĩ" H. mở am truyền đạo thu hút nhiều nữ đệ tử bày tṛ mờ ám. Hoặc là chuyện "đạo cô" Tư hay ngồi dưới gốc cây bồ đề gần chùa Phật Lớn để xủ quẻ bói xằng bậy cho khách...
Chuyện mới nhất của đạo sĩ tên Mười quê Đồng Tháp là câu chuyện buồn của nhân gian. Ông này gần 90 tuổi. ngày ngày lên triền núi xủ quẻ đoán vận cho khách. Thấy tướng ông râu dài bạc trắng, thiên hạ tin có đạo cốt đến xem và ai ông cũng phán một câu hết sức bí hiểm.
Lần cuối, ông coi trật rơi vào vị khách là một bà lăo khoảng 70 tuổi. Bà lăo uất quá tới đ̣i lại tiền quẻ 50.000 đồng. Hai bên căi nhau dẫn đến dằng co, lỡ tay cả hai té lăn cù trầy mày xước mặt. Khi công an xă tới xử phạt, “đạo sĩ” Mười mới khóc nói ḿnh nghèo quá con cháu bỏ rơi, nên mới giả danh đạo sĩ gạt người.
Thanh Dũng
|
Quay trở về đầu |
|
|
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
Msg 556 of 2534: Đă gửi: 01 August 2008 lúc 9:24pm | Đă lưu IP
|
|
|
THUẬT PHONG THỦY ẤN ĐỘ
Thuật phong thủy Ấn Độ (Vaastu Shastra) rất coi trọng yếu tố địa lư với những nét đặc trưng của nó, bởi v́ Ấn Độ là một đất nước vô cùng rộng lớn với nhiều miền khí hậu và nhiều múi giờ khác nhau.
Giờ mặt trời lặn ở khu vực phía Đông và khu vực phía Tây của Ấn Độ (vùng Rajasthan) chênh nhau hai tiếng. Theo thuật Phong thủy Ấn Độ th́ tại những vùng thuộc chân núi Himalaya, người ta sẽ xây bếp theo hướng Tây Nam và tại bang Uttar Pradesh, bếp sẽ được xây theo hướng Đông Nam.
Tại bang Kerala, bếp nên xây theo hướng Đông Bắc. Ở những khu vực khác nhau, sẽ có những hướng khác nhau tuỳ theo điều kiện khí hậu và địa lư. Theo kinh Vệ Đà th́ mỗi h́nh thái vật chất của vũ trụ đều là năng lượng.
Trái đất là một tập hợp các sự sống gồm những hạt vật chất rất nhỏ. Nếu chúng ta sống hoà hợp với tự nhiên, cả tâm hồn lẫn cơ thể của chúng ta sẽ được bảo vệ, không gian kiến trúc có quan hệ chặt chẽ với tâm linh của mỗi con người.
Trái đất là một phần của vũ trụ. Toàn bộ vũ trụ bị kiểm soát bởi một nguồn năng lượng và nguồn năng lượng này hiện hữu trong tất cả tiểu vật chất của vũ trụ. Nguồn năng lượng này sẽ sản sinh ra những ion âm và có tác động tích cực đến tất cả sự sống.
Những ion âm này sẽ làm tăng khả năng miễn dịch, nâng cao sức khoẻ và mang lại hạnh phúc cho những người sống tại không gian kiến trúc đó. Do vậy, đây chính là nguồn năng lượng quan trọng của con người.
Cơ thể con người liên quan mật thiết với các kênh của vũ trụ cũng như các kênh của trái đất. Điện năng của cơ thể con người cao hơn điện năng của trái đất một chút, do vậy nếu như điện năng của trái đất tăng lên sẽ có ảnh hưởng không tốt đến cơ thể con người.
Khi chúng ta có năng lượng dương, chúng ta sẽ có sự cân bằng về mặt tinh thần và sẽ có sức khoẻ tốt. Tất cả mọi thay đổi, cho dù là thay đổi về vật chất hay tinh thần đều có liên quan đến sự thay đổi về không gian kiến trúc.
Năm nguyên tố cơ bản là: bầu trời, không khí, nước, lửa và đất. Mỗi một nguyên tố này có tác động trực tiếp đến sức mạnh tự nhiên. Sức mạnh tự nhiên và năm nguyên tố cơ bản liên kết với nhau như sau: bầu trời, năng lượng vũ trụ, không khí, hướng gió và độ mạnh của gió, nước, lực hấp dẫn của trái đất, lửa, ánh nắng mặt trời và sức nóng, trái đất năng lượng địa lư.
Những sức mạnh này quyết định hành động của con người và những hiện tượng như nh́n, chạm, sờ mó, nghe, hít thở, thu nhận oxy, không khí và năng lượng để vận hành quá tŕnh tư duy. Thuật phong thủy Vaastu nghiên cứu tất cả những nguyên tố cơ bản này.
Từ trước đến nay, con người cho rằng có tám hướng. Nhưng Vaastu cho rằng có tất cả mười hướng, trong đó bao gồm cả bốn hướng trên la bàn (Bắc, Nam, Đông, Tây) và bốn hướng bổ trợ (Đông Bắc, Tây Bắc, Đông Nam và Tây Nam).
Bầu trời (Aakash) là hướng thứ chín và Pataal (trái đất) là hướng thứ mười. Năng lượng vũ trụ được biểu thị bằng hướng của bầu trời, hướng thứ chín. Trên thực tế, khi những tia nắng mặt trời và những tia năng lượng chỉ có trong ṿng mười hai tiếng trong một ngày nắng, th́ những tia năng lượng vũ trụ lại có suốt cả ngày lẫn đêm.
Hơn nữa những tia năng lượng có thể xuyên qua bề mặt trái đất. Do vậy khi xây nhà hướng của bầu trời là vô cùng quan trọng.
Màu sắc cũng vô cùng quan trọng trong việc thiết kế một ngôi nhà. Nó có tác động đến bộ năo và cơ thể con người. Màu đen, đỏ kết hợp với màu xanh da trời mang lại sự cân bằng. Màu tím biểu tượng cho phẩm hạnh, màu xanh lá cây là màu của tự nhiên, màu vàng là của ánh sáng mặt trời. Màu hồng là màu của hưng phấn.
Theo thuật phong thuỷ Ấn Độ th́ màu sắc có thể kích thích khẩu vị của con người và làm giảm huyết áp cao. Màu đỏ nên được dùng nhiều v́ nó là màu của lửa và rất thích hợp với những người biếng ăn, màu đỏ sẽ làm cho họ có cảm giác muốn ăn uống nhiều hơn.
Ngược lại màu xanh da trời lại giúp chúng ta giảm bớt thói quen ăn uống quá độ. Đối với những người bị huyết áp cao, màu thích hợp nhất là màu trắng và những gam màu nhẹ. Màu xanh lá cây là màu của sự phục hồi, v́ thế nên dùng trong các pḥng phẫu thuật. Nếu bạn muốn ăn ngon miệng hơn, bạn nên sơn tường nhà màu vàng hoặc nâu nhạt.
Sưu Tầm
|
Quay trở về đầu |
|
|
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
Msg 557 of 2534: Đă gửi: 01 August 2008 lúc 9:28pm | Đă lưu IP
|
|
|
TẢN MẠN CHUYỆN PHONG THỦY
HONG KONG
Hong Kong từ lâu đă nổi tiếng là thiên đường mua sắm. Cùng với Macau, Hong Kong là đặc khu của Trung Quốc đang thực hiện nguyên tắc "một quốc gia, hai chế độ" trong thời gian năm mươi năm, tính từ 1997. Thế nhưng trong sinh hoạt đời thường, đặc khu Hong Kong c̣n là một vùng đất đầy những giai thoại về phong thủy.
Chẳng thế mà khi vừa đáp xuống lại sân bay Chek Lap Kok, du khách đă thấy yếu tố phong thủy ngay trên.. thiết kế sân bay.
Được xây dựng trong sáu năm với kinh phí 20 tỷ USD, chính thức hoạt động từ năm 1998, sân bay Chek Lap Kok có 80 cửa ra nhưng các cửa mang số 4, 14, 44, …
Rất hiếm người sử dụng, v́ số bốn trong tiếng Hoa phát âm giống với chữ "tử" nghĩa là chết, vậy là chẳng có người dân Hong Kong nào muốn đi các cửa có con số bốn.
Thế nhưng số tám trong tiếng Hoa lại đồng âm với chữ "phát" theo nghĩa phát tài phát lộc. Do vậy ngoài tám mươi cửa ra như đă nói trên, sân bay Chek Lap Kok bố trí tất cả tám mươi quầy nhập cảnh, và một trăm mười tám quầy xuất cảnh.
Không biết có phải do yếu tố phong thủy hay không mà trong số bốn đường hầm chạy dưới ḷng biển, nối đảo Hong Kong với bán đảo Cửu Long, th́ đường hầm "Hồng Khảm" (Hung Hom) xe cộ qua lại nườm nượp, trong khi ba đường hầm kia rơi vào cảnh "chợ chiều".
Khởi công xây dựng từ năm 1969, hoàn thành vào năm 1972, đề án dự kiến sau bảy năm sẽ thu hồi đủ vốn nhưng thực tế, người ta chỉ cần 5 năm để hoàn vốn.
Quả thật với mức b́nh quân 180.000 lượt xe qua lại mỗi ngày, giá vé xe gắn máy là tám đô la HK/lượt, taxi hai mươi đô la HK/lượt, xe buưt mười đô la HK/lượt, đường hầm Hồng Khảm là một dự án đầu tư siêu lợi nhuận.
Dân Hong Kong giải thích rằng, đó là nhờ người cắt băng khánh thành cho đường hầm là Thẩm Điện Hà vợ của diễn viên Trịnh Thiếu Thu rất "hợp tuổi" với công tŕnh. Nhờ vậy mà trong suốt 34 năm hoạt động, đường hầm chưa hề xảy ra một sự cố nào.
Cũng nhờ vậy mà xe của Thẩm Điện Hà được hưởng chế độ đặc biệt, qua đường hầm không bị thu tiền. Bạn nên biết rằng ngay cả xe của ông Đổng Kiến Hoa, nguyên đặc khu trưởng Hong Kong đi qua đường hầm cũng vẫn bị thu tiền.
Người thứ hai được hưởng chế độ ưu đăi này là Lư Lệ San, vận động viên giành được huy chương vàng Olympic đầu tiên cho Hong Kong ở môn lướt sóng. "Tiếng lành đồn xa" nên Thẩm Điện Hà rất "đắt show" trong việc mời cắt băng khánh thành các công tŕnh, dự án lớn của các nhà đầu tư Hong Kong. Và tất nhiên là tiền bạc cứ theo đó mà ào ào chui vào tài khoản của cô.
Nhân tiện đang nói về chuyện xe cộ, xin bật mí thêm: có lẽ chỉ ở Hong Kong mới có kiểu đấu giá quyết liệt để giành mua cho bằng được biển số đẹp.
Trong cuộc đấu giá để giành biển số xe 8888, diễn viên điện ảnh nổi tiếng Thành Long đă "ngậm ngùi" rút lui khi chủ nhân tập đoàn khách sạn New World, Hong Kong ra giá đến mười ba triệu đô la HK (trên 26,2 tỷ đồng VN) để mua biển số nói trên.
Hiện nay Thành Long tạm hài ḷng với biển số JC1 của ḿnh (JC chính là tên tiếng Anh của Thành Long Jacky Chang) được anh mua với giá bảy triệu rưởi đô la HK.
Tuy nhiên, bạn đừng nghĩ rằng số xe "xấu" là không có người mua. Xấu nhất đối với người Hong Kong là con số bốn. Do vậy "cực xấu" chắc chắn là biển số 4444. Vậy mà chủ nhân một công ty mai táng lớn ở Hong Kong đă mua biển số này. Ông ta lập luận, nghề của ḿnh hễ "chết càng nhiều th́ càng… giàu", do vậy mua biển số 4444 là… hợp lư.
Ở Hong Kong, biển số xe không nhất thiết phải là các con số. Khi Hong Kong quay về với Trung Quốc, chính quyền Trung Quốc đă tặng cho Hong Kong một bông hoa Bauhinia (hoa Tử Kinh) mạ vàng.
Khi ấy ông Đổng Kiến Hoa là đặc khu trưởng và ông đă dùng chữ Bauhinia làm biển số xe của ḿnh. Dù không c̣n là Đặc khu trưởng, nhưng hiện nay ông vẫn dùng biển số xe nói trên. Thế bạn có biết biển số xe 1111 thuộc về ai không? Biển số xe 1111 không được bán đấu giá. Nó thuộc về giám đốc sở cảnh sát Hong Kong.
Đua ngựa là tṛ giải trí có từ khi người Anh quản lư Hong Kong và trở thành một hoạt động kinh doanh thu hút nhiều người. Có lẽ máu "mê cá cược" sẽ không bao giờ biến mất ở Hong Kong.
Người dân Hong Kong t́m đến trường đua với hy vọng đổi đời (ở Hong Kong sau một ngày đua thường có một triệu phú mới). Số tiền chung cho người thắng cược có ngày lên đến bốn triệu USD.
Trường đua ngựa Happy Valley, hoạt động từ năm 1846 là một trường đua lớn có đến 80.000 chỗ ngồi. Đó là một ngôi nhà chín tầng, có ba tầng dành cho các quầy phục vụ ăn uống.
Trường đua có đến 4.500 nhân viên chính thức và 10.000 nhân viên làm việc ngoài giờ. Tổng doanh thu b́nh quân trong ngày của trường đua theo số liệu năm 1999 là 1.120 triệu đô la HK, tương đương 160 triệu USD, bằng toàn bộ doanh thu trong một năm của một trường đua ngựa ở Đức.
Cũng thật ngẫu nhiên, hai cửa ra vào trường đua, một cái th́ hướng vào bệnh viện, một cái th́ hướng ra nghĩa trang. Người dân Hong Kong nói đùa rằng đam mê cá ngựa th́ "không chết cũng bị thương".
C̣n có một trường đua ngựa khác ở Sa Điền (Sha Tin), hoạt động từ năm 1978, có sức chứa 83.000 người. Trường đua được trang bị một màn h́nh "Diamond Vision" rộng 70,4m cao 8m, tương đương với 4.500 ti vi loại 21 inch gộp lại, thế nhưng nó vẫn không thu hút dân mê cá ngựa bằng trường đua Happy Valley.
Đă tin vào phong thủy th́ tất nhiên phải có cúng kiến. Ngôi đền sắc viên Huỳnh Đại Tiên (Đong Tai Sin) ở Hong Kong nổi tiếng là linh thiêng. Đền Huỳnh Đại Tiên thờ cả ba tôn giáo chính ở Trung Quốc là Phật giáo, Khổng giáo và Đạo giáo.
Ngôi đền này được các công ty du lịch đưa vào chương tŕnh tour chào bán cho du khách Việt Nam. Tại đây người dân Hong Kong ngày cũng như đêm, giàu cũng như nghèo, già trẻ, lớn bé, nam nữ xếp hàng chờ đến lượt vào cúng và xin xăm.
Trong đền thờ Huỳnh Đại Tiên có một đài phun nước nhỏ. Người ta nói rằng nếu ai muốn thay đổi thời vận, th́ đi ṿng quanh đài phun nước theo chiều kim đồng hồ, ba lần sẽ được linh ứng.
Miếu Thổ địa tại Vịnh Nước Cạn (Rèpulse Bay) lại thể hiện niềm tin theo một hướng khác. Người ta đến đền thờ Huỳnh Đại Tiên chủ yếu để cầu tài, do đó nó c̣n được gọi là miếu Thần tài. C̣n ở đây người dân đến để cầu sức khoẻ, cầu duyên, cầu tự, cầu lộc, cầu thọ, nghĩa là có thể cầu… đủ thứ.
Mọi nghi thức đều có hướng dẫn cụ thể. Ngay khi vào cổng, bạn sẽ thấy tượng một con rồng được đắp và chạm trổ công phu với một trái châu trong miệng. Bạn dùng tay phải sờ vào trái châu, sau đó vuốt lên tóc để cầu sức khoẻ.
Đi vào bên trong, bạn sẽ thấy tượng Thần tài và tượng ông Phúc đứng cạnh bên nhau. Trước tiên bạn dùng hai tay xoa má Thần tài, sau đó vuốt xuống ngực, bụng rồi làm động tác nâng lượng vàng đặt bên tượng Thần tài và… nhét vào túi quần.
Tượng ông Phúc cạnh Thần tài, thể hiện qua h́nh tượng một ông lăo phúc hậu với con đàn cháu đống quấn quít xung quanh. Ai muốn cầu con trai th́ vuốt vào tượng cậu con trai, đang bám cổ ông Phúc bảy lần, cầu con gái th́ vuốt tượng cô con gái chín lần.
Trong giới hướng dẫn viên Hong Kong lan truyền một câu chuyện như sau:
Có một cô hướng dẫn viên c̣n độc thân, dẫn một đoàn khách nam mười mấy anh đến miếu Thổ địa. Khi đến tượng ông Phúc, bị mấy ông khách trong đoàn "nói khích", cô bèn vuốt vào tượng cậu con trai bảy cái. Qua năm sau cô hạ sanh một quư tử và vẫn… chưa chồng! Tin hay không là tùy các bạn.
Nhưng ở Hong Kong các bà mẹ độc thân cũng không lo, v́ phụ nữ không chồng mà có con, bị thất nghiệp một tháng được trợ cấp 6.000 đô la HK/một con. 9.000 đô la HK/hai con. 12.000 đô la HK/ba con. C̣n trẻ em từ sáu tuổi đến 15 tuổi đi học không mất tiền. Có lẽ cô nàng sẽ phải quay lại miếu Thổ địa và t́m đến tượng Nguyệt lăo để cầu Nguyệt lăo se duyên, t́m gấp cho một tấm chồng!?
Tại đây c̣n có cổng Thiên tuế ai đi qua cổng sẽ sống… ngàn tuổi! C̣n nếu bạn thấy ngàn tuổi quá dài th́ hăy đi chân trần qua cầu Trường thọ. Cứ mỗi lần đi bộ qua cầu, bạn sẽ sống lâu thêm ba tuổi, nhưng nhớ là sau đó không được đi ngược trở lại. V́ nếu đi ngược trở lại th́ bạn bị trừ đi ba tuổi, vậy là "huề cả làng".
Và cho dù chú chuột Mickey đă chinh phục cả thế giới th́ khi đến Hong Kong, chú cũng phải "rước" thầy phong thủy đến chọn ngày, giờ tốt lành để khánh thành Disneyland. Không biết có phải Thẩm Điện Hà cắt băng khánh thành hay không?.
Với dự án xây dựng lên tới 1,8 tỷ USD, một số tài liệu ghi là 3,6 tỷ USD, trong đó chính quyền Hong Kong sở hữu 57% cổ phiếu và Disney sở hữu 43% cổ phiếu.
Đương nhiên Disney không thể không thực hiện "luật chơi" dù bất thành văn, nhưng là lối sống của xứ Hong Kong. Vậy là ngày 12.09.2005,dù là ngày thứ Hai đă được thầy phong thủy "chấm" và cờ hoa giăng đầy, pháo nổ đ́ đùng mừng sự hợp tác thuận lợi cho cả đôi bên.
Sau này kiến trúc sư chính của công tŕnh, ông Tom Morris, cũng thừa nhận rằng ông đă bố trí nhiều không gian cho thác nước, hồ nước, suối phun nước, để thu hút tiền của chảy vào theo như gợi ư của các thầy phong thủy.
Ngay trên đường vào, người ta đă thấy chú chuột Mickey đang nổi trên sóng nước, phun ra từ lỗ mũi của một ông cá voi khổng lồ. Ngoài ra trong quá tŕnh xây dựng công viên, mọi thứ đều phải tính toán để tạo ra được sự cân bằng tối ưu, giữa năm yếu tố ngũ hành: kim, mộc, thủy, hoả, thổ.
Cũng v́ vậy mà khi thiết kế, người ta đă tính toán để du khách từ sân bay Chen Lap Kok, đến công viên Disney sẽ đi vào theo hướng biển. Đây là hướng may mắn theo các thầy phong thủy.
Cũng do hướng may mắn này, mà trên đường ra Vịnh Nước Cạn, nếu để ư bạn sẽ thấy có một toà cao ốc bị khoét một khoảng trống ngay chính giữa toà nhà. Lư do là để hứng tài lộc từ biển mang vào.
Nói đến chuyện phong thủy ở Hong Kong có lẽ phải viết được vài ba chục… cuốn sách. Chính v́ vậy mà tác giả xin dừng lại tại đây. Nếu có dịp bạn nên đến Hong Kong để tự ḿnh trải nghiệm những yếu tố phong thủy, đă hoà quyện vào cuộc sống đời thường và thực tế, đă trở thành cuộc sống đời thường tại đất Hong Kong.
Trẻ Today
|
Quay trở về đầu |
|
|
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
Msg 558 of 2534: Đă gửi: 01 August 2008 lúc 10:50pm | Đă lưu IP
|
|
|
HUYỀN THOẠI THẦY RẮN U MINH
Truyền thuyết kể rằng, trong cơi U Minh lam sơn chướng khí có một "vương quốc rắn" do đôi măng xà thân to mấy trượng trị v́. Cũng ở đây, có những ông thầy bùa đạo hạnh cao thâm dùng tà thuật "khiển" các loài rắn độc theo ư ḿnh.
"Rắn lạ" ở U Minh hạ
Đêm, sâu trong rừng đặc dụng Vồ Dơi - nơi được coi là khu rừng tràm nguyên sinh cuối cùng của rừng U Minh hạ - không gian yên tĩnh bỗng chốc náo động bởi tiếng bọn khỉ và tiếng thét của con chồn mướp. Khi vệt đèn pin hướng về bầy khỉ, mọi người mới chết điếng: con chồn chỉ c̣n là cái xác đu đưa trên ngọn tràm cao gần 10 mét, trong hàm con rắn khổng lồ. Anh Nguyễn Văn Của, cục kiểm lâm tỉnh Cà Mau kể: Trước cảnh tượng này, cả đội chạy về hạt báo cáo trong tâm trạng thất thần.
Anh phải động viên anh em hết lời, họ mới chịu quay trở lại chốt canh. Cách đây không lâu, chính anh Của cũng đă "đụng" một con rắn khổng lồ khi cùng một kiểm lâm viên chạy xe gắn máy kiểm tra các chốt canh trong rừng Vồ Dơi. Trước đó, ở vạt rừng cạnh Vồ Dơi có nông dân trong lúc phát quang bụi rậm cũng vô t́nh chặt đứt đuôi con rắn.
Khi đem về cân thử một phần nhỏ của cái đuôi cũng đă nặng 7,5 kg... Cứ thế, những câu chuyện nửa thực nửa hư về loài rắn khổng lồ trong rừng Vồ Dơi đă khiến nhiều tay phong ngạn (lấy mật ong) không dám bén mảng vào rừng, trừ các "ông thầy thuốc rắn".
Những thầy thuốc rắn cuối cùng
Hồi tháng 4 năm nay, ông Trịnh Văn Ớt, một tay bắt rắn lăo luyện ở xă Khánh Lâm, huyện U Minh Cà Mau khi ngà ngà hơi men đă nói với ông công an huyện: "Nếu anh kư giấy cho tôi vào rừng, một ngày tôi nộp cho 500 ngàn đồng; c̣n ở Vồ Dơi ai cho tôi vô tôi đưa liền 1 triệu". Cách đó 2 cây số, ông thầy thuốc rắn tên Phan Văn Thuận xuưt xoa: "Làm nghề thuốc rắn cứu người mấy chục năm nay, nhiều loại rắn như hổ long, hổ trâu, hổ chúi... đều thấy. Nhưng từ đầu năm tới nay, người ta chở tới tôi nhiều trường hợp bị rắn lạ cắn. Ngay cả rắn hổ phướng sống trên núi bây giờ cũng xuất hiện".
Trên toàn U Minh hạ chỉ c̣n trên dưới 20 người có khả năng cứu người bị rắn độc cắn. Phân nửa số này vẫn c̣n đi lục lạo từng xó xỉnh, từ bờ ruộng tới mé rừng bắt rắn làm kế sinh nhai. Ông Trịnh Văn Ớt kể: Năm 20 tuổi, ông đi chiến trường Campuchia trong Khi trở về, duyên may sao đó khiến ông gặp được một vị tiền bối truyền lại nghề thu phục rắn, với lời nguyền: Khi dùng những ǵ học được để cứu người th́ không được lấy tiền.
Nhưng cuộc sống khó khăn, ông đă dùng những ǵ ḿnh học được để... đi bắt rắn. Những năm 1984 -1985, có ngày ông bắt được mấy bao rắn, kiếm vài triệu đồng. Có tiền, ông mua được 14 công ruộng pḥng thân. Những năm trở lại đây, rừng tràm qua mấy mùa cháy lớn, diện tích bị thu hẹp dần. Do rừng ngày càng được canh giữ nghiêm, những người như ông rất khó đặt chân vô.
Bản thân ông Ớt hơn 10 lần bị rắn cắn nhưng đều tự chữa cho ḿnh được. Ông không nhớ hết đă từng cứu sống bao nhiêu người bị rắn độc cắn, mà chỉ nhớ lần duy nhất ông bó tay. Đau đớn thay, đó lại chính là anh ruột của ông tên là Trịnh Văn Thắng, cũng làm nghề bắt rắn.
Ông Trịnh Văn Thắng đă 26 lần bị rắn cắn đều được ông Ớt chữa lành. Đến lần thứ 27, ông bị rắn hổ chúa cắn, ông Ớt đă mời 5 ông thầy thuốc rắn giỏi nhất nh́ U Minh đến cùng chữa nhưng tất cả đều chịu thua. "Hổ chúa" chính là loài rắn mà các thầy rắn ở U Minh đều e dè. Tương truyền rằng loài rắn này có thể gáy để gọi con mồi, và đă có quá nhiều cao thủ bắt rắn đă "tử nghiệp" v́ nó.
40 năm làm thầy thuốc rắn từ người cha truyền lại, ông Phan Văn Thuận, 67 tuổi, cũng không nhớ hết ḿnh đă cứu bao nhiêu người. Trong bán kính trên dưới 10 km từ nhà, hằng năm luôn có vài chục trường hợp bị rắn độc cắn được ông trị khỏi. Ông luôn tự hào là trong 40 năm làm công việc này, ông chưa một lần cầm tiền thù lao của người gặp nạn.
Báo ứng ?
Trị bệnh không ăn tiền, không dùng khả năng có được để hại người, không lạm sát loài rắn là 3 điều mà các ông thầy rắn U Minh coi như là cái đức phải giữ. Thực tế, đă có không ít thầy thuốc rắn phải trả giá bởi vi phạm điều cấm. Hai ông thầy thuốc rắn được coi là giỏi nhất xứ U Minh từ trước tới nay cũng đă có một kết cuộc như thế.
Họ đều có khả năng "khiển" được rắn hổ chúa, nhưng cả hai đều nghèo, sống đời rày đây mai đó. Ông Tám Rớt sống bằng nghề bắt rắn bán. Có bận ông Tám đă gặp con rắn rất lạ "dám" phùng mang với ông. Lần đó, ông đă bỏ hết bao rắn mấy chục con. Lần khác, ông đi bắt mấy bao rắn bỏ trên xuồng, khi bơi về nhà th́ cũng chính con rắn ấy như chực sẵn dưới khoang xuồng "đớp" ông một phát. Nghe tin, những ông thầy thuốc rắn giỏi nhất xứ U Minh đă tụ lại, người vuốt bùa, người đổ thuốc, nhưng ông Tám lắc đầu bảo đă đến lúc phải "trả nợ".
Cái chết của thầy Tám Rớt đă để lại một khoảng trống không nhỏ trong giới hành nghề thuốc rắn ở U Minh. Thầy Năm Ngọc được coi là cao thủ số một c̣n lại. Tuy là thầy thuốc rắn bậc nhất, nhưng ông lại làm nghề "đâm hà bá" (bắt cá trên sông). Người ta c̣n nhớ chuyện ông Năm Ngọc bị mất 2 con cá ngát to. Ông tức tối tuyên bố nếu ai đă lấy cắp con cá th́ phải trả ông lại... con heo.
Mười ngày sau, có một người tên M. ở Hương Mai bị rắn độc cắn lúc đi phát ruộng. Ông Năm Ngọc nói muốn khỏi th́ phải cúng heo. Hóa ra, chính anh M. là người trộm 2 con cá của ông Năm Ngọc. Ông Năm Ngọc là thầy thuốc rắn nổi tiếng ở cả 2 phương diện: cứu người và "khiển" rắn cắn người. Về cuối đời, ông sống trong tâm trạng bấn loạn, thường chui xuống gầm sàn nằm như... rắn. Người ta bảo ông bị "tổ hành"!
Những câu chuyện huyền hoặc như trên có lẽ sẽ chẳng thể chứng minh bằng lăng kính khoa học. Có điều người dân U Minh trước nay có thói quen khi bị rắn cắn là gửi trọn niềm tin, sinh mạng cho những ông thầy thuốc rắn như quán tính tự nhiên. Thế nhưng, rồi những thầy thuốc rắn cũng sẽ không c̣n, như những huyền thoại đang nhạt dần ở rừng U Minh...
Tiến Tŕnh
|
Quay trở về đầu |
|
|
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
Msg 559 of 2534: Đă gửi: 02 August 2008 lúc 5:36am | Đă lưu IP
|
|
|
ĐI TRÊN THAN HỒNG KHÔNG
PHẢI LÀ PHÉP LẠ
Than hồng có sức nóng lên tới gần 1.000 độ C. Ở nhiệt độ đó, nhiều thứ có thể cháy thành than chứ đừng nói đến da thịt của con người.
Kỷ lục thế giới đi trên than nóng đỏ lâu nhất được lập năm 1998 tại Trường Pittsburgh Pennsylvania, Mỹ. Mười lăm người đă đi 165 bước (khoảng 52 m) trên than hồng mà không ai bị thương.
Các màn tŕnh diễn đi trên than đá nóng đỏ đă có từ hàng ngh́n năm trước tại nhiều nơi trên thế giới. Sớm nhất tại Ấn Độ, người ta đă t́m thấy bằng cớ về màn tŕnh diễn này cách đây khoảng 1.200 năm trước công nguyên. Thời cổ đại, các buổi biểu diễn đi trên lửa thường liên quan đến tôn giáo, để thể hiện sức mạnh siêu nhiên.
Vào những năm 1930, các nhà khoa học Anh đă bắt tay nghiên cứu về hiện tượng này. Hội đồng London nghiên cứu hiện tượng siêu nhiên đă tiến hành hai cuộc kiểm tra.
Một người Ấn Độ tên là Kuda Bux và hai người Anh đă biểu diễn đi bộ mười hai bước, bằng chân không trên đống than nóng đỏ. Một cuộc kiểm tra khác được hội đồng tiến hành sau đó với một người đàn ông Hồi giáo có tên là Ahmed Husain.
Tất cả kết quả cho thấy, họ đều đi qua băi than nóng đỏ bằng chân trần mà không hề bị tổn thương. Tài liệu về các cuộc kiểm tra này đă được công bố rộng răi sau đó, khẳng định hiện tượng đi trên than nóng là có thật, chứ không phải là một tṛ ảo thuật.
Không có ǵ là siêu nhiên.
Các tài liệu trên cũng khẳng định hiện tượng đi trên than nóng, hoàn toàn có thể lư giải bằng khoa học. Bí quyết là cách thức di chuyển làm sao cho thời gian tiếp xúc với than nóng là ngắn nhất.
Nhiệt lượng được truyền theo ba cách: đối lưu, bức xạ và dẫn nhiệt. Trong đó, dạng đối lưu và bức xạ chỉ xảy ra với chất lỏng, tia sóng. Như vậy, trong t́nh huống đi trên than hồng, việc truyền nhiệt giữa than nóng và bàn chân con người thuộc dạng dẫn nhiệt. Đó là sự tiếp xúc trực tiếp giữa các tế bào da chân và than nóng.
Nhưng giữa hai yếu tố này c̣n có một chất cách nhiệt khác là lớp than ch́ và gỗ (chưa cháy), trong đó than ch́ có khả năng cách nhiệt cao gấp bốn lần gỗ ướt. Khi di chuyển nhanh, thời gian tiếp xúc giữa bàn chân và than nóng sẽ rất ngắn, nhiệt lượng truyền theo dạng tiếp xúc sẽ rất thấp, v́ thế bàn chân sẽ không bị tổn thương.
Loại than được sử dụng thường từ gỗ tuyết tùng, hoặc bulô trắng. Chúng cháy rất đỏ lửa nhưng nhiệt độ không thật cao, chỉ gần 400 độ C. Than này rất chắc, khó tàn và không có những cạnh sắc, giúp người thực hành di chuyển dễ dàng hơn.
Trường dạy "đùa với lửa"
Sau lần đầu tiên đi trên than hồng vào năm 1977, ông Tolly Burkan, một chuyên gia về ảo thuật người Mỹ, đă bị môn này cuốn hút. Ông đă phát hiện ra đi trên than không phải là ảo thuật mà là một nghệ thuật. Những năm đầu tiên, do kỹ thuật chưa hoàn thiện nên ông bị nhiều vết thương ở chân. Nhưng sau đó, Burkan đă phát triển nhiều kỹ thuật mới và tập hợp lại thành một giáo tŕnh để hướng dẫn mọi người. Ông cho biết cô con gái là Amber đă làm quen với tṛ đi trên than hồng từ năm hai tuổi. Đến năm bốn tuổi, Amber đă thực hành đi trên "thảm lửa" lần đầu tiên. Và đến nay ở tuổi mười bảy, tṛ đi trên than nóng đă trở thành sở thích của cô. Nhiều học viên của Tolly có thể di chuyển trên than hồng bằng cách trồng cây chuối.
Ông Tolly cho rằng, đi trên than nóng là một môn rèn luyện tinh thần rất tốt. Bên cạnh việc rèn luyện thể lực (bằng cách tập đi bộ, tập các môn hỗ trợ khác), nó giúp người thực hành vượt qua sự sợ hăi của chính bản thân. Theo ông, chế ngự sự sợ hăi sẽ giúp bạn vững vàng hơn trong cuộc sống, điều đó đồng nghĩa với sự thành đạt. Khẩu hiệu của ông là: "Hăy tin tưởng là bạn sẽ thành công".
Sau 30 năm h́nh thành, Trường Fire của Tolly đă cấp chứng chỉ cho 2.000 học viên đến từ khắp nơi trên thế giới. Học viên của ông đủ mọi lứa tuổi, từ trẻ em đến người già. Tuy nhiên, trẻ em chỉ được tham gia lớp quan sát hoặc lư thuyết, không thực hành.
Đi trên than nóng là chủ đề thực sự "nóng" của nhiều chương tŕnh như Discovery, NBC, ABC, MTV và đang ngày càng thu hút sự chú ư của nhiều người. Có điều, các bạn không nên tự tập ở nhà dưới bất kỳ h́nh thức nào v́ có thể gây thương tích cho bản thân.
VNE
|
Quay trở về đầu |
|
|
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
Msg 560 of 2534: Đă gửi: 02 August 2008 lúc 5:46am | Đă lưu IP
|
|
|
TIA ĐẤT BÍ ẨN
Tấm màn bí mật về những hiểm họa vô h́nh mang đầy tính thần kỳ như tam giác quỷ Bermuda, thung lũng chết Atlas hay tọa độ chết ở vùng biển Hawaii… đă được vén lên phần nào nhờ những hiểu biết về tia đất hay địa khí.
Hàng ngh́n năm trước, người Trung Quốc với tư duy trực quan của ḿnh đă phán đoán, xác định dưới mặt đất tồn tại những lực mạnh mẽ khác nhau mà con người không nh́n thấy được, và nhấn mạnh con người phải chung sống ḥa b́nh với chúng.
Tương ứng với thiên khí, các nhà thông thái đă xác lập quan niệm về địa khí:
“Phàm xem đất phải lấy khí làm chủ”.
Địa khí là động lực của sự dẫn truyền thể hiện qua sự lượn sóng của đất, sự biến chuyển của mạch ngầm.
Người Trung Quốc cổ phát minh ra chiếc la bàn đầu tiên trên thế giới, bởi v́ không những họ đă sớm cảm nhận và phát hiện được từ trường của quả đất, mà c̣n nhận thức khá đầy đủ về sự cảm ứng giữa từ trường, địa khí và con người.
T́m địa khí là t́m ṭi, đo lường và phát hiện những đường khí trong ḷng đất để thích nghi, đồng thời lợi dụng những khí lực to lớn đó để ḥa nhập vào sức sống sôi động của thế giới tự nhiên.
Các triết gia cho rằng muốn thân thể khỏe mạnh, vạn vật sinh trưởng, cuộc sống cường thịnh, con người phải biết cách t́m dương trạch để mong muốn được thừa hưởng lực khí từ trong ḷng đất bốc lên.
Nơi ở có địa khí ngưng tụ, thuận âm dương, hợp hướng thủy cục sẽ đón được khí trời tốt. Người phương Đông thường tin tưởng rằng, đất làm nhà ở mà thuận khí âm dương th́ cuộc sống thuận ḥa, tuổi thọ sẽ cao. Đó là nguyên lư thừa hưởng khí lành của trời đất.
Thuật phong thủy cổ chủ ư tầm tra những long mạch, huyệt vị, thế đất, hướng nhà để t́m khí tốt cho con người có cuộc sống ḥa thuận với thiên nhiên.
Một ngọn đồi có h́nh con rùa là một vùng đất tốt, con người ở đó sẽ trường thọ và an b́nh như loài rùa. Mạch núi, mạch đất có h́nh giống con rồng sẽ đem lại cho dân cư vùng này sức khỏe và sự mạnh mẽ. Hướng nhà đón đúng hướng gió lành hay ở bên cạnh sông hồ có nhiều hy vọng được thành công và may mắn.
Tia đất và hiểm họa.
Các loại tia từ vỏ cứng của trái đất phát ra, lan tỏa trên mặt đất dưới dạng sóng và từ trường được gọi là quỷ trạch, trường sinh địa, địa sinh học, trường địa điện từ hay nôm na gọi là tia đất.
Chúng bao gồm những tia bức xạ điện từ, bức xạ phân ră, bức xạ độc chất hóa học, từ trường các khoáng vật thuộc các tầng hệ đất khác nhau, từ các mạch nước ngầm...
Cấu trúc đa dạng của các địa tầng, sự chuyển động của các mạch núi, biến động của các mạch ngầm, sự trôi dạt của lục địa... tạo nên nhiều loại tia đất. Sự tương tác giữa chúng càng làm cho cuộc sống tự nhiên của con người trở nên phức tạp và có phần huyền bí, siêu nhiên.
Dưới con mắt của các nhà địa chất, mặt đất không ngủ yên b́nh mà mọi vật chất vẫn đang chuyển động, và tác động lẫn nhau giữa các vật chất trong tự nhiên được diễn ra một cách nhanh, mạnh và liên tục. Những mỏ kim loại, những mỏ khoáng chất, những mỏ nước ngầm đều mang đầy ion điện, sản sinh ra những tia bức xạ điện từ dày đặc.
Các kết quả nghiên cứu đă khẳng định, bức xạ nguy hại nhất với con người là của các chất phóng xạ rải rác khắp dưới mặt đất và của các ḍng nước ngầm.
Đối với những tia đất có nguồn gốc từ ḍng chảy ngầm, các thử nghiệm đă cho thấy chúng có ảnh hưởng độc hại đến cơ thể con người gần bằng ảnh hưởng của băo từ trường.
Tất cả các biến động này đều chịu sự tác động điện từ, không cưỡng lại được của các trường lực thỏi nam châm khổng lồ trong ḷng trái đất.
Hiện nay, các nhà khoa học c̣n lo lắng về sự bùng phát của tia đất, khi chúng bị kích hoạt bởi các tia vũ trụ hay các cơn băo từ mặt trời, các vụ đụng độ của các tiểu hành tinh.
Bên cạnh đó, các tia đất cũng gây ô nhiễm cho các tầng thấp của khí quyển và làm ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe của con người.
Vấn đề này đă được các nhà hóa học châu Âu chứng minh: axit nitric có trên mặt đất, được h́nh thành từ sự biến đổi môi trường, do cuộc sống của con người góp phần tạo ra, là nguyên nhân tạo ra các hợp chất h́nh thành ôzôn trong các tầng thấp của khí quyển theo hai mặt.
Khi tương tác với ánh sáng mặt trời, axit nitric giải phóng ra các gốc hydroxyl. Gốc hydroxyl có hoạt tính cao phân hủy các chất hữu cơ dễ bay hơi gây ô nhiễm, h́nh thành ra ôzôn trong các tầng thấp của khí quyển.
Trái ngược với tầng ôzôn ở các tầng khí quyển cao, có hiệu ứng tích cực là ngăn ngừa tia cực tím, lớp ôzôn có mặt ở ngang mức mặt đất sẽ gây kích thích mắt và làm ảnh hưởng đến hệ hô hấp của con người.
Đa số các bệnh lư không có triệu chứng rơ ràng, chỉ là đau đầu, cảm giác khó thở, huyết áp tăng, rối loạn tuần hoàn máu, đau nhức cơ bắp, giảm sức đề kháng... mà không thể đổ tội cho siêu vi khuẩn đều là do các bức xạ nguy hại từ tia đất tạo ra.
Đặc biệt, khi bị ảnh hưởng của vùng từ trường mạnh và đủ lâu, con người có thể ngất, say. Có nhà khoa học c̣n cho rằng ảnh hưởng nhiều năm c̣n dẫn đến ung thư.
Sức Khỏe Đời Sống
|
Quay trở về đầu |
|
|
|
|