| Tác giả |
|
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1001 of 2534: Đă gửi: 05 November 2008 lúc 11:15pm | Đă lưu IP
|
|
|
GÁNH XIẾC ÔNG LÙN
Câu chuyện tôi sắp kể dưới đây xảy ra đă lâu, chính xác là khoảng giữa những năm bốn mươi. Chuyện có thật nhưng bị cắt vụn thành từng mẩu rời rạc, lại phân tán nhiều nơi nên tôi phải mất công đi tới nhiều nơi ở Nghệ An để thu lượm và chắp vá các mẩu rời rạc ấy thành chuyện. Chuyện về gánh xiếc ông Lùn.
Tên là Lùn, nhưng ông không lùn, chỉ hơi thấp, to ngang, cộng thêm điệu bộ chậm chạp và nghề nghiệp độc đáo nên mới bị người ta gọi thế.
Ông Lùn và gánh xiếc mang tên ông từng một thời rất nổi tiếng ở hai tỉnh Thanh, Nghệ. Ngày ấy ở nông thôn chất phác và lạc hậu, cái ǵ cũng có thể làm người ta ngạc nhiên... Dễ hiểu v́ sao các tiết mục xiếc, dù của một gánh xiếc rong, ngay lập tức được mọi người chú ư.
Lời đồn về ông Lùn và gánh xiếc của ông có nhiều và được truyền đi rất nhanh, rằng ông có tài ném dao phi thường, và bằng cái biệt tài ấy đă giết chết ba bà vợ, có người nói năm, rằng ông có ô tô riêng đi biểu diễn, có hàng tá người giúp việc, có con chó biết nói, cái hộp sắt biết hát và đặc biệt là kiếm được rất nhiều tiền, giàu có đến bạc triệu....
Những lời đồn ấy như phần lớn các lời đồn khác, trên thực tế đều không có thật, trừ việc ông có tài ném dao trăm phát trăm trúng, có con chó khá thông minh và chiếc máy hát quay tay ọc ạch với một chiếc đĩa duy nhất.
Ông Lùn xuất thân là nông dân, do gặp chuyện phẫn uất hoặc không kiếm nổi miếng ăn nên bỏ làng lên thành phố. Ông đă phải trải qua khá nhiều năm tháng gian khổ, thử đủ nghề trước khi học được nghề xiếc rong này. Người ta chỉ biết khi vào Nghệ rồi "định cư" hẳn ở đó, ông là chủ "Gánh xiếc ông Lùn", gồm ông, hai cậu con trai, chiếc xe kéo có khung bịt vải chở mấy thứ đồ nghề và xoong chảo.
Con chó và chiếc máy biết hát măi sau này mới xuất hiện. Chiếc xe được trang trí ḷe loẹt, bốn góc cắm bốn chùm hoa bằng lông gà nhuộm xanh đỏ. Đầu xe treo chiếc chuông, vừa đi vừa kêu leng keng. Cùng chiếc xe ấy, ông lang thang nơi này sang nơi khác, mưa th́ ngủ trên xe, nắng trải chiếu nằm dưới đất, hôm sau lại dậy lại đi tiếp.
Thường th́ ông Lùn kéo xe, thằng con lớn mười hai tuổi đẩy phía sau, thằng nhỏ bẩy tuổi được ngồi trên xe, nhưng phải vừa luôn tay đánh trống, vừa chốc chốc lại kêu to.
- Xiếc! Xiếc đây! Xiếc ông Lùn đây!
Khi con chó được nhập bọn th́ nó lẽo đẽo chạy theo sau.
Gánh xiếc của ông thường biểu diễn ở các băi chợ và sân làng, nếu được nhà chức trách cho phép sau khi nộp một số tiền mà bây giờ gọi là tiền thuê địa điểm.
Ông Lùn lôi từ xe ra tấm vải dày h́nh tṛn rộng bằng mấy chiếc nong, được chắp nối từ các mảnh vải có màu khác nhau. Nếu không gọi tiếng trống dồn dập là tiết mục, th́ tiết mục đầu tiên là chiếc máy hát. Nó có nhiệm vụ thu hút khách xem và nếu cần, lấp thời gian trống giữa các tiết mục.
Thằng lớn bê nó ra một cách long trọng, nhẹ nhàng và từ từ nhấc tấm vải phủ màu đỏ trước con mắt ṭ ṃ háo hức của mọi người. Rồi nó quay tay lên dây cót. Lát sau, cùng tiếng khùng khục lạo xạo là tiếng một bài hát vui nhộn bằng tiếng Pháp bay ra. Bao giờ cũng đúng những thủ tục ấy, cũng bài hát ấy.
Tiếp đến là phần của con chó. Con chó này chân và mơm đều ngắn, lông dài màu xám , người lại nhỏ nên trông như chó nhồi bông. Cổ nó đeo ruy-băng xanh, mỗi chân leng keng chiếc lục lạc bé tí.
Ngoài những tṛ thông thường như đi bằng hai chân, nhào lộn và nhảy ṿng, nó c̣n biết làm các phép tính đơn giản. Đến cái tṛ trí tuệ này th́ thằng lớn ra điều khiển chó thay em, v́ em nó chưa biết tính nhẩm.
Nó yêu cầu ai đó trong đám người xem ra đề bài, thí du hai cộng hai, năm trừ ba hay thậm chí mười sáu chia cho bốn là bao nhiêu. Nhẩm tính trong đầu xong, nó ra hiệu cho con chó lúc nào th́ sủa và lúc nào dừng lại.
Tất nhiên cũng có lúc sai. Người xem tưởng lỗi do con chó nên họ rộng lượng bỏ qua, v́ trong họ không phải ai cũng biết làm các phép tính phức tạp ấy.
Đến lượt thằng lớn trổ tài. Nó là diễn viên tổng hợp. Trên h́nh tṛn bằng vải sặc sỡ ấy, nó có thể làm rất nhiều tṛ, từ uốn dẻo tung hứng đến thăng bằng, nhào lộn, nhưng đặc sắc nhất vẫn là tṛ ảo thuật.
Trước con mắt ngạc nhiên của mọi người, nó ung dung hút thuốc rồi nhả khói qua hai lỗ tai, uống xăng phun ra lửa mà không sợ bỏng, hoặc để thằng em trói nó, trói thật chặt khắp người, nó chỉ rùng ḿnh một cái là các sợi dây sổ tung rơi xuống đất.
Cuối cùng đến phần đặc sắc nhất và cũng thường để kết thúc buổi diễn, tiết mục ném dao găm của ông Lùn.
Ông cho bê ra một chiếc bàn và dựng một chiếc bảng cao trên đó. Thằng nhỏ mang đến chiếc hộp đựng đầy dao găm, những chiếc dao nhỏ, ngắn chỉ độ nửa gang, mũi nhọn và rất sắc. Như hai cậu con trai ông Lùn mặc bộ quần áo nhà nghề áo sặc sở ông tự may, tương xứng với tài năng và túi tiền của ông.
Thằng lớn găm lên bảng một quả quưt. Ông Lùn đỡ lấy con dao thằng nhỏ đứng cạnh đưa cho, và ở khoảng cách mười mét, hầu như không ngắm, ông ném một nhát trúng đích, cắt nó làm đôi. Người xem chưa hết ngạc nhiên th́ thằng lớn đă lấy phấn gạch một đường chéo trên bảng. Ông lại ném.
Cứ thế năm lần liên tiếp. Khi thằng lớn nhổ con dao thứ năm lên th́ mọi người chỉ thấy trên bảng một lỗ cắm duy nhất. Tiếp đến ông mời người xem vẽ lên bảng một h́nh ǵ đấy. Cũng không ngắm, ông liên tiếp cắm hết mũi dao này đến mũi dao khác theo h́nh ấy. Không chệch phát nào.
Xong, ông ra hiệu thằng lớn cho chiếc máy hát hoạt động trở lại. Một lúc sau mọi người tản đi trong tiếng trống b́ bùm và tiếng bài hát Pháp vui vẻ.
Sự thật th́ ông Lùn và gánh xiếc của ông rất nghèo. Thời ấy moi được đồng xu của anh nông dân không dễ, phần v́ họ keo, phần chẳng có ǵ để moi. Bán vé thu tiền là điều không thể, v́ nếu thế sẽ chẳng ai đến xem, thành ra chỉ c̣n biết trông chờ vào ḷng tốt tự giác của người đời, nghĩa là cũng phải để chiếc mâm xin tiền như anh xẩm mù để mũ, dù đây là một gánh xiếc với những tiết mục hấp dẫn như vậy.
Thường th́ ngày nào họ chỉ kiếm đủ ăn ngày đó. Nhiều ngày trời mưa không diễn được, hoặc bị xua đuổi không cho diễn. Đấy là chưa kể những lúc ốm đau hay gặp sự cố.
Ở Đô Lương có người kể chính ông ta một hôm nh́n thấy thằng bé lẻn vào vườn moi trộm khoai lang, ông tóm được. Khi nhận ra nó là thằng nhỏ gánh xiếc ông Lùn, ông tha cho đi, thậm chí không giữ lại những củ khoai nó vừa moi được.
Thế th́ sao lại có lời đồn ông kiếm tiền dễ dàng và "giàu có đến bạc triệu?" Tôi đă thử t́m hiểu điều đó, cả việc v́ sao gánh xiếc thiếu vắng phụ nữ, vợ ông hay ai đó chẳng hạn. Tiếc là đến bây giờ tôi vẫn chưa t́m ra sự thật.
Có người quả quyết với tôi rằng trước đây ông Lùn luôn có vợ đi theo. Bà này thay cho các h́nh vẽ trên bảng, đứng dang tay để chồng ném dao găm theo h́nh người bà. Đó là tiết mục hết sức mạo hiểm và giật gân, nhờ thế thu hút được nhiều khách, và cùng với khách là tiền.
Tiếc rằng bà này một lần vô ư lắc đầu xua con ruồi trên môi, bị mũi dao đâm xuyên qua óc. Từ đó gánh xiếc bắt đầu sa sút. Có người lại nói người bị ông ném chết không phải vợ mà thằng con cả, anh của hai đứa hiện giờ. C̣n vợ ông, khi thấy con chết đă ôm đứa bé nhất, đứa thứ tư, bỏ ra Bắc.
Cũng có người nói ông Lùn không bao giờ ném người, v́ ông tốt bụng, sợ nhỡ người đứng mẫu không chịu nổi sẽ nhúc nhích hay ngất ngă. Tóm lại, ư kiến có nhiều và khác nhau không ít, nhưng tất cả đều thống nhất ở một điểm, rằng ông Lùn và gánh xiếc của ông trước đó từng làm ăn phát đạt hơn nhiều.
C̣n lúc này th́ nó đang gặp khó khăn. Các tiết mục có lạ mắt, hấp dẫn thật đấy, nhưng vẫn chưa đủ độc đáo để bắt được người nông dân bỏ công việc kéo nhau đến xem, và điều này mới quan trọng nhất, chịu móc túi lấy tiền, tất nhiên nếu trong túi có tiền.
Cứ thế mấy cha con ông Lùn kéo xe lang thang khắp nơi, hết huyện này đến huyện khác. Chương tŕnh biểu diễn của họ trở nên phong phú hơn. Hai thằng bé lớn lên học thêm được một số tṛ mới. Bản thân ông Lùn cũng kiêm luôn một số mục khác, như nằm ngửa để ḥn đá to lên bụng cho người khác cầm búa đập vỡ, hoặc bắn cung, tung tạ...
Chiếc máy hát th́ ọc ạch hơn trước, tuy vẫn phát ra được bài hát Pháp vui nhộn nọ. Chỉ có hai cái không thay đổi, là con chó thông minh và món tiền ít ỏi thu được sau mỗi buổi diễn.
Vào một năm mất mùa và gánh xiếc đang trong t́nh trạng tồi tệ nhất, một đêm nọ ở sân ga Vinh, khi bố con ông Lùn đang ngồi ăn phần cơm ít ỏi của ḿnh, th́ một người phụ nữ bước đến ch́a tay xin ăn. Người này chưa đến ba mươi, ăn mặc khá tươm tất, mặt dễ coi nhưng xanh gầy bởi đói ăn lâu ngày.
Cô ta đội chiếc nón tùm hụp, tay nải bên hông, ngượng ngập ch́a tay, miệng lí nhí câu ǵ không rơ. ở cô toát lên cái ǵ đấy dễ thương và tử tế, chứng tỏ trước đây không lâu c̣n thuộc con nhà tử tế.
Sau này cô cho biết rằng cô không may lấy phải người chồng giàu nhưng độc ác. Hắn muốn có con trai thừa tự, mà cô chỉ sinh toàn con gái. Sau khi sinh đứa con gái thứ ba, hắn thẳng tay đuổi cả bốn mẹ con ra khỏi nhà. Không nơi nương tựa, mẹ con cô bồng bế nhau đi ăn xin, khi gặp ông Lùn là vừa tṛn ba tháng.
V́ không muốn con chết đói, cô lần lượt t́m nơi tin cậy cho hết đứa này đến đứa khác. Đứa cuối cùng chưa đầy một tuổi, cô đem cho một bà hàng bún ở Bến Thủy cách đấy vài ngày.
Vốn thương người, ông Lùn mời cô ngồi xuống cùng ăn. Ngày ấy chia cái ăn cho người khác là việc dũng cảm. Lát sau ông quyết định một việc khác c̣n dũng cảm gấp bội là mời cô đi theo gánh xiếc.
Tên cô là Lư. Từ ngày có cô Lư, gánh xiếc ông đỡ vất vả hơn trong lo toan hàng ngày, c̣n ông th́ thấy đời cũng ấm áp thêm đôi chút. Nhưng cũng dễ h́nh dung rằng từ đấy, có thêm một miệng ăn, gánh xiếc của ông trở nên túng thiếu thế nào. Thu nhập ngày một ít; người xem bắt đầu chán những tiết mục diễn đi diễn lại nhiều lần. Họ muốn cái ǵ đấy mới, hấp dẫn và độc đáo.
Nhưng cái ǵ? Ông Lùn ngày càng ít nói. Hai thằng con thấy ít người xem, mất hứng, sao nhăng chuyện tập tành. C̣n cô Lư th́ vốn nhẫn nhục và hay mặc cảm, nay thấy ḿnh là gánh nặng cho người khác, nên rất khổ tâm. Cô tự cho cô là người duy nhất có lỗi. Cô cố gắng làm vừa ḷng mọi người một cách vụng về, nhiều khi định lén học một vài tṛ nhưng không được. May không ai trách cô. Ngược lại, cô được mọi người yêu mến, đặc biệt ông Lùn.
Thời gian lặng lẽ trôi qua, chiếc xe của gánh xiếc ông Lùn vẫn lọc cọc lăn trên những con đường quanh co của xứ Nghệ, chở theo nó vẫn những khó khăn và lo âu ấy.
Một hôm t́nh cờ cô Lư nghe ai đó nói nếu có người chịu đứng làm mẫu cho ông Lùn ném dao, người ta sẽ tới xem đông hơn. Suốt ngày cô nghĩ măi điều này. Phải chăng đây là khả năng duy nhất cô có thể giúp ân nhân ḿnh trong công việc? Cô chỉ việc nhắm mắt đứng yên, dang hai tay hai chân, c̣n tài ném dao của ông Lùn th́ cô không mảy may nghi ngờ.
Có điều tính nhút nhát, mới nh́n mũi dao đă bủn rủn chân tay, liệu cô có đứng vững được không? H́nh dung chuyện ấy, cô thấy ớn lạnh nơi sống lưng, trống ngực đập th́nh thịch. Thật kinh khủng, nhưng không c̣n cách nào khác...
Tối ấy cô nói ướm với ông Lùn, và như ta dễ đoán hiểu, ông cương quyết từ chối. Ông cũng nhất định không thay đổi ư kiến những lần sau, cả khi cô nói gánh xiếc sẽ kiếm được nhiều tiền và có thể giúp cô chuộc lại con.
Thế mà chưa đầy nửa tháng sau, ở chợ Vinh, thằng nhỏ đă oang oang quảng cáo "ném dao găm theo h́nh người thật, một tiết mục mạo hiểm rùng rợn nhưng vô cùng hấp dẫn mấy năm chỉ diễn một lần của Gánh xiếc ông Lùn"... Nghĩa là cuối cùng cái đói đă thắng tất cả, và bắt được một người tốt bụng, hiền lành như ông Lùn mạo hiểm với tính mạng của người ông quư mến.
Hôm ấy mọi việc diễn ra giống mọi ngày vẫn tŕnh tự các tiết mục ấy, vẫn con chó và chiếc máy hát ọc ạch ấy. Điều khác duy nhất là người xem, do được quảng cáo và kháo nhau từ trước, lần này kéo đến rất đông,.
Trước con mắt hồi hộp của mọi người, cô Lư đi ra, khẽ mỉm cười yếu ớt rồi bước lên bục, đứng dán người vào chiếc bảng lớn kê sát phía sau. Cô mặc bộ quần áo đen bó sát người, hai tay để thẳng ngang vai, chân choăi ra thành h́nh chữ V lật ngược. Mặt cô trắng nhợt, đôi mắt mở to không nhấp nháy.
Ông Lùn đứng trước cô ở cách mười mét, bề ngoài vẫn b́nh tĩnh như mọi ngày. Bên cạnh là thằng nhỏ, hai tay bê hộp dao. Ông với tay lấy một chiếc, hất đầu ra hiệu với cô Lư, rồi nhanh như tia chớp mũi dao lóe lên, cắm phập sát đỉnh đầu cô.
Cô cảm thấy như có ḍng điện vừa chạy khắp cơ thể. Chưa kịp định thần trở lại, một mũi khác đă chạm nhẹ bên tai trái. Mấy giây sau, mũi dao xuyên xuống cổ, bờ vai rồi chạy theo cánh tay đến đầu ngón, xuống nách, hông... Cô nhắm mắt. Nỗi sợ làm tê liệt các dây thần kinh cảm giác. Thậm chí cô không c̣n nghe tiếng những mũi dao liên tiếp cắm vào bảng gỗ sắc gọn, và chỉ chợt tỉnh lại khi ông Lùn ném xong mũi dao cuối cùng bên tai phải.
Sau những phút nín thở theo dơi, người xem bùng lên vỗ tay tán thưởng. Cô Lư loạng choạng bước xuống khỏi bục, để lại phía sau một h́nh người được cắm bằng những mũi dao tua tủa.
Sau đó, như một số người kể lại, cô Lư đă ngất trong cánh tay ông Lùn vừa kịp đến đỡ. Cũng có người nói cô ốm liệt giường mấy ngày liền. Nói chung người ta c̣n nhớ và kể lại nhiều chi tiết giật gân về buổi biểu diễn hiếm có ấy. Tất nhiên chính xác đến đâu là chuyện khác.
Tôi có bà cô già rất mê các tṛ múa hát. Cô tôi kể rằng hôm ấy, khi mọi người bỏ đi hết, có hai cô gái nông dân bẽn lẽn đến gặp ông Lùn. Sau một hồi đùn đẩy, hai cô xin ông từ nay đừng ném dao theo h́nh người thật, v́ ném thế sợ lắm, nguy hiểm lắm.
Ông Lùn nh́n hai cô mỉm cười hiền lành, cảm ơn và hứa sẽ làm theo. Hai cô gái không nói ǵ thêm, vội dúi vào tay ông mấy tờ giấy bạc cầm sẵn rồi xấu hỏ bỏ chạy. Chuyện này th́ tôi tin chắc có thật, v́ một trong hai người ấy là bà cô tôi. Cô tôi nói:
- Thế mà chỉ mấy tháng sau ông ta đă ném chết cô Lư. Con người trông bề ngoài hiền lành, thật thà, hóa ra...
Bà cô tôi nói đúng: Ba tháng sau, ở Phủ Diễn, nay là thị trấn Diễn Châu, cũng v́ cái đói bắt buộc, ông Lùn và cô Lư lại mạo hiểm lần nữa. Không may lần này, cô Lư ngất đúng khi ông Lùn ném mũi dao vào nách phải. Cô ngă người, và mũi dao đâm trúng trái tim cô lúc ấy đang đập mạnh v́ sợ...
Tôi yêu xiếc, nghệ thuật của cái đẹp và sự dũng cảm. Một phần v́ thế mà tôi bỏ công lần theo truyền thuyết về ông Lùn và gánh xiếc của ông. Để làm ǵ ư? Để ít ra cũng biết được con người của môn nghệ thuật tôi yêu ấy trước kia đă sống và phải trả giá cho nghề nghiệp của ḿnh như thế nào.
Tiếc là sau cái chết của cô Lư, tôi không biết ǵ thêm về ông Lùn, ngoài một điều chắc chắn rằng từ đấy ở quê tôi không ai c̣n thấy gánh xiếc của ông. Có người nói ông đem con trở về Bắc, chọn nghề khác kiếm sống. Cũng có tin đồn, rằng ông vào một tỉnh nào đấy phía trong, tiếp tục biểu diễn và c̣n làm chết thêm mấy bà vợ nữa; rằng ông tự tử chết theo cô Lư; rằng ông bị bắt v́ tội giết người...
Mới đây, một ông giáo ở Quỳnh Lưu nói với tôi là sau khi miền Bắc giải phóng, gánh xiếc ông Lùn đă nhập vào đoàn xiếc Trung ương, hiện giờ chắc hai con ông đang làm việc ở đó. Đây là giả thiết có vẻ tin được. Khi trở ra Hà Nội, tôi t́m đến đoàn xiếc ấy và cả trường xiếc ở Mai Dịch, nhưng không biết ǵ thêm.
Bây giờ, mỗi lần vào rạp xiếc thưởng thức những tiết mục hấp dẫn của các diễn viên trẻ đẹp, hạnh phúc, tôi không thể không bùi ngùi nghĩ tới ông Lùn và gánh xiếc của ông, một thời lọc cọc lăn trên những nẻo đường nông thôn xứ Nghệ.
Thái Bá Tân
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1002 of 2534: Đă gửi: 05 November 2008 lúc 11:46pm | Đă lưu IP
|
|
|
NGƯỜI RÁCH BÓNG
Dạo ấy tôi trẻ và c̣n hăng lắm. Chưa vấp váp, chưa khổ đau, cứ ngẩng cao đầu bước đi giữa phố. Những bước đi tự tin không biết sợ, và thường được nhấn thêm bằng đế đôi giày da bóng lộn.
Một hôm tôi chững chạc bước như thế trong công viên thành phố, c̣n thích thú di di gót giày sau mỗi bước đi. Lúc ấy là xế chiều một ngày đầu đông nắng đẹp. Công viên ít người, gió từ hồ Bẩy Mẫu thổi nhẹ, các luống hoa mới được tưới tươi rói, không tỏa mùi hương, mà mùi đất hăng nồng. Vâng, tôi bước đi như thế với cảm giác lâng lâng, yêu đời và yêu ḿnh.
- Ối!
Bỗng ai đó kêu lên đau đớn. Tôi giật ḿnh đứng lại. Trên ghế đá ngay bên cạnh có người đang ôm mặt nhăn nhó. Đó là một ông già khoảng sáu mươi lăm, bảy mươi tuổi, tóc bạc gần hết, đeo kính mắt tṛn gọng kim loại, mặc bộ vét màu lông chuột đă cũ nhưng khá tươm tất, tuy hơi rộng so với thân h́nh gầy yếu của ông.
Chiếc cà vạt rất ngay ngắn trên cổ nhưng hơi nhàu. Chiếc mũ phớt dạ bóp lơm phía trước đă sờn bóng ở các mép gờ. Chiếc ba-toong tựa bên ghế, hơi ngắn v́ dùng nhiều đă ṃn, tay cầm cong cong khảm bạc. Tóm lại, vẻ ngoài của ông toát ra cái ǵ đấy cổ kính một cách lạc lơng, một trí thức cũ không muốn hoặc không thể ḥa nhập với cuộc sống mới.
Tôi nh́n đôi mắt sáng ươn ướt chắc v́ đau của ông già:
- Thưa bác, có chuyện ǵ thế ạ?
Ông già ngước nh́n lên. Một khuôn mặt nhân hậu đầy nếp nhăn và những nốt đồi mồi.
- Anh đang dẫm lên bóng tôi, anh bạn trẻ ạ.
Ông nói bằng tiếng Pháp.
- Xin làm ơn bước sang bên!
Dẫm lên bóng? Tôi ngạc nhiên thầm nghĩ. Dẫm lên bóng mà lại đau, đến mức phải ôm mặt? Chỉ lúc ấy tôi mới để ư thấy chiếc bóng ông dưới chân ḿnh. Mặt trời đă ngả về tây, không bị mây che nên sáng rực, chiếc bóng v́ vậy khá dài, dù ông ngồi trên ghế. Tôi dẫm đúng vào vai chiếc bóng ấy.
- Vâng, xin làm ơn đứng xê ra hộ. Nhanh lên!
Tôi vội lùi lại. Thật kỳ lạ. Chiếc bóng của ông bị kéo rê theo gót giày tôi, như thể nó dính vào đấy. Trong khi đó, ông già cúi xuống, nhẹ nhàng làm động tác luồn hai tay nâng chiếc bóng lên, kéo về phía ḿnh.
Rồi ông nhỏm dậy bảo tôi giơ chân để ông gỡ một góc chiếc bóng khỏi đế giày. Th́ ra nó bị vướng một chiếc đinh. Thời đó, để gót giày không bị ṃn vẹt, người ta thường đóng một lớp cao su bên dưới. Lớp cao su của tôi bị sứt một góc, để lộ mấy chiếc đinh. Chắc v́ thế nó mới làm ông già đau.
- Anh xem này, nó bị thủng mấy chỗ!
Ông già nói rồi giơ ngón tay chỉ, nhưng tôi không thấy ǵ.
Tôi nh́n ông nâng niu đỡ chiếc bóng trên tay, ngạc nhiên đến mức không thốt nên lời. Trông nó như tấm vải phíp thật mịn, mỏng và nhẹ, màu xanh thẫm chứ không hoàn toàn đen như thoạt tưởng.
- Lần sau xin anh nhẹ chân và cẩn thận nh́n xuống lúc đi đường.
Ông già khẽ nói vẫn bằng tiếng Pháp, thứ tiếng Pháp của những năm bốn mươi thế kỷ trước. Ông thận trọng trải chiếc bóng xuống đất vào vị trí cũ.
Không phải không thoáng lo sợ, tôi ấp úng xin lỗi rồi vội bỏ đi, vẫn chưa hết bàng hoàng với những ǵ mới xẩy ra.
Nửa tháng sau tôi lại đi dạo trong công viên, lại thấy ông già ấy ngồi sưởi nắng trên chiếc ghế đá quen thuộc. Dưới chân ông là chiếc bóng đang lặng lẽ nằm yên. Tôi bước nhẹ chân, cố không dẫm lên nó.
- Cảm ơn.
Ông già nói khi nhận ra tôi, mỉm cựi yếu ớt.
Cảm ơn v́ tôi đă tránh không dẫm lên chiếc bóng! Thấy ông thân thiện, tôi nh́n xuống nửa ghế trống ra ư muốn ngồi cùng. Ông gật đầu. Thực ra tôi chẳng hào hứng ǵ khi tiếp xúc với một người kỳ dị như ông, nhưng sự ṭ ṃ không cho phép cưỡng lại.
Trông ông có vẻ ốm yếu hơn trước, như người đang bệnh, lưng hơi c̣ng, đôi mắt sáng có phần đờ đẫn.
- Không ngờ cú dẫm của anh hôm nọ làm tôi đau đến thế.
Ông nói.
- Nhưng tôi không trách, v́ anh chỉ vô t́nh. Người trẻ thường hay vô t́nh.
- Cháu xin lỗi,
Tôi đáp.
- Thế... Thế cái bóng của bác lành lại chưa ạ?
- Chưa. Tồi tệ hơn, vết thương c̣n lây sang chỗ khác. Nên tôi mới thế này .
Tôi do dự một chốc rồi rụt rè hỏi điều cứ làm tôi băn khoăn măi:
- Thú thật với bác, cháu không hiểu v́ sao ai đó có thể thấy đau khi bóng ḿnh bị người khác dẫm lên .
- Đơn giản v́ anh bạn c̣n trẻ. Khi người ta già, từng trải, nếm hết mọi cái vui, cái buồn của đời, người ta sẽ trở nên nhạy cảm hơn với nỗi đau của ḿnh và của người khác.
V́ trẻ anh chưa thấy đau, thậm chí chưa bao giờ nghĩ nghiêm túc rằng, cái bóng là một bộ phận không thể tách rời của anh. Tôi dám chắc nhiều khi anh chẳng chút băn khoăn để bóng anh rơi xuống chỗ bẩn?
Tôi gật đầu một cách thành thật.
Lần sau vào công viên, từ xa tôi thấy ông già đang ôm ngực, cúi người trên ghế đá. Chiếc bóng dưới chân không c̣n dài, màu cũng trở nên nhợt nhạt hơn. Nghĩa là bệnh ông nặng hơn.
Vết rách trên chiếc bóng chắc rộng lắm, có thể đă lan khắp nơi. Hoặc sưng tấy mà tôi không thấy. Tôi ái ngại nh́n ông, ḷng bứt rứt và không dám lại gần.
Lần sau nữa th́ chẳng thấy ông đâu. Có lẽ ông đă chết. Chết v́ vết thương tôi vô ư gây nên.
Từ ấy đến nay đă nhiều năm trôi qua, nhiều đến mức bản thân tôi cũng trở thành một ông già, thỉnh thoảng cũng ra công viên ngồi sưởi nắng. Tôi vẫn thường nghĩ tới ông già có chiếc bóng rách ấy với mặc cảm day dứt của người có lỗi.
Thỉnh thoảng cũng có người vô ư dẫm lên bóng tôi, nhưng tôi chưa bao giờ thấy đau. Việc này thú thật, có làm tôi hơi buồn. Chẳng cắt nghĩa nổi v́ sao nhưng cứ buồn.
Tôi không là người mê tín, không tin vào phép lạ và các chuyện ma quỉ. Đến bây giờ tôi vẫn không hoàn toàn tin chuyện đă xẩy ra với ông già kia, mà tôi có phần can dự. Nhưng cũng không hoàn toàn phủ nhận.
Chí ít th́ sau cái chết của ông, bao giờ tôi cũng nhắc ḿnh cẩn thận không để bóng rơi vào chỗ bẩn thỉu, không dẫm lên bóng người khác và cũng không để người khác dẫm lên bóng ḿnh.
Khuyết Danh
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1003 of 2534: Đă gửi: 07 November 2008 lúc 5:03am | Đă lưu IP
|
|
|
NHÂN QUẢ
Tôi có nghe Ḥa Thượng Thích Giác Hạnh kể về một câu chuyện, mà trong lúc đi tụng kinh trợ niệm và giúp giải nghiệp cho một phụ nữ ,và Thầy kể lại!
Hôm đó Thầy được gia đ́nh một người nữ bị bệnh ung thư, đă rất lâu nhưng không chết được, mời đến tụng kinh trợ niệm cho người nữ này, để giúp cho cô ta giải bớt nghiệp và ra đi sớm!
Khi Thầy đến, điều đầu tiên Thầy thấy đó là nơi vách tường người nữ này nằm, có những cục máu đỏ đă khô lại, mỗi cục máu bằng gần một trái trứng chim cút, những cục máu như thế đầy hết chổ gần người bệnh nằm.
Điều tiếp theo mà Thầy nh́n thấy, đó là một cái thớt có cắm một con dao lớn, để ở trên đầu của bệnh nhân! Sau đó Thầy có hỏi sơ về công việc lúc trước người bệnh này làm nghề ǵ? Th́ được người nhà cho hay, v́ hoàn cảnh quá nghèo cho nên cô này làm nghề giết heo thuê cho người ta...
Thầy biết ngay đây là nghiệp quả mà chính cô đă tạo ra, và bây giờ đang phải trả cái nghiệp quả sát sanh của ḿnh! Điều mà Thầy nói ghê nhất là cứ đúng vào ba, bốn sáng vào đúng giờ mà cô giết heo, th́ cô cũng la y như tiếng heo bị giết vậy!
Cứ nằm la và khạc ra máu như thế suốt gần hai năm, cho tới lúc Thầy tới trợ niệm và giúp cô giải bớt nghiệp chướng của ḿnh. Khi cô ra đi th́ cái đầu của cô nằm cong queo y như h́nh con heo lúc bị giết...
Thầy nói từ đó đến giờ, bao nhiêu cảnh mà Thầy đă từng gặp qua, trong thời gian đi tụng kinh trợ niệm, nhưng đây là một trường hợp khủng khiếp nhất về tội sát sanh mà Thầy gặp.
Thầy có nói những ai đang sát sanh cũng nên biết sám hối tội lỗi của ḿnh, v́ nếu có người nào được chứng kiến tận mắt cái chết đau khổ mà người nữ đó phải trăi qua, nó khủng khiếp như thế nào th́ mới thật sự biết sợ...
Nhân quả mà cô trả khi c̣n tại thế, th́ vẫn nhẹ hơn rất nhiều, so với nhân quả trong thế giới sau khi cô mất nó lớn gấp trăm vạn lần, chứ không phải chuyện đùa.
NGÀY NAY QUẢ BÁO MỘT GIÂY NHĂN TIỀN.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.
Con nguyện cho tất cả mọi người biết sợ nhân quả mà sửa chữa lỗi lầm, và sống tốt hơn biết yêu thương và chia sẻ những khó khăn với tất cả mọi người, mọi loài! Biết kính tin Tam Bảo tu hành tinh tấn, và đặc biệt hăy cố tránh sát sanh, mà phải biết phóng sanh th́ sẽ giúp giải bớt nghiệp chướng của ḿnh...
Khang
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
KimTonCang Hội viên


Đă tham gia: 13 April 2006
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 82
|
| Msg 1004 of 2534: Đă gửi: 07 November 2008 lúc 8:46am | Đă lưu IP
|
|
|
Người da trắng USA đă giết hàng triệu người da đỏ và người Mễ 200 năm trước để cướp đất và lập nên Hiệp Chủng Quốc USA; người da trắng USA đă thả 2 quả bom nguyên tử lên 2 thành phố của nước Nhật giết hại và làm bị thương hàng triệu người Nhật; người da trắng USA bóc lột hăm hiếp đánh đập hàng triệu người da đen Nô Lệ; như vậy Nhân Quả sẽ như thế nào với người da trắng USA ? tương lai của Hiệp Chủng Quốc sẽ ra sao?
Mỗi ngày các nông trại của người da trắng giết hại hàng triệu gia súc (ḅ, gà, heo....); như vậy Nhân Quả sẽ ra sao; những người hàng ngày ăn thịt của những xác chết (gia súc) này th́ Nhân Quả sẽ ra sao? 
Đế quốc La Mă hùng mạnh như vậy, rồi bây giờ chỉ c̣n Rome nhỏ chút xíu. Đế quốc Mông Cổ hùng mạnh như vậy mà bây giờ yếu x́u.
"Nước chảy về nguồn,
Trăng tṛn lại khuyết.
Xuân Hạ Thu Đông,
Vận chuyển tuần hoàn..."
ADIDAPHAT
Sửa lại bởi KimTonCang : 07 November 2008 lúc 8:53am
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1005 of 2534: Đă gửi: 08 November 2008 lúc 12:09pm | Đă lưu IP
|
|
|
ĐỪNG ĐÙA VỚI MA
- Bố thằng Tí ơi, dậy. Dậy, dậy đi nào. Có việc.
Người đàn bà tần ngần đứng bên giường. Chị ta trạc ba mươi tuổi, da nhợt nhạt, gầy đét với đôi mắt mở to vô cảm của người bị chai ĺ bởi cái đói và cái khổ.
Miền núi trời chóng tối. Những ngày mưa ở đây th́ thật buồn và khó chịu. Đang mùa đông, lại hun hút gió thổi lạnh. Chưa đến sáu giờ mà dường như cả cái thị trấn bé nhỏ này đă chui tọt vào nhà đóng chặt cửa. Trong nhà chẳng ấm hơn nhưng có ánh đèn, có người.
- Ǵ thế?
Vẫn nằm yên, đống chăn trên giường càu nhàu.
- Có việc.
- Kệ. Tôi mới đi về. Đêm qua thức trắng rồi. Buồn ngủ lắm. Có các vàng cũng chịu.
- Th́ tôi đă bảo thế nhưng người ta cứ một mực nhờ.
Người đàn bà im lặng một chốc rồi nói tiếp.
- Vả lại tiền công cao. Những một trăm ngh́n đồng. Đưa trước. Mà nhà ḿnh th́ ...
- Một trăm ngh́n? Đi đâu?
- Nghe nói gần đây thôi. Người ta đang chờ ngoài cổng. Bảo không vào.
Con số một trăm ngh́n đă lôi được bố thằng Tí ra khỏi giường. Đó là một gă đàn ông khốn khổ, mặt nhàu nát, da ngăm đen, thấp gầy nhưng có vẻ khỏe mạnh. Chiếc áo đại cán cáu bẩn, thủng một lỗ lớn ở khuỷu tay.
Thời bây giờ mà c̣n mặc áo rách đủ biết giàu nghèo thế nào. Toàn bộ con người hắn toát lên sự chán chường, mệt mỏi, v́ đói ăn, đói ngủ và đói việc. Nhất là đói việc. Hắn cầm khúc sắn luộc vợ đưa cho, vừa ăn vừa đẩy chiếc Minkhơ.
Chờ hắn ngoài đường là một người choàng tấm ni-lông (v́ lúc ấy vẫn mưa lất phất), đội mũ cối, trời lại tối nên không nh́n rơ mặt.
- Có biết bản Pa Cao ở Phú Nghĩa không?
Người choàng ni-lông hỏi.
- Có.
Hắn đáp. Hắn biết tất cả các bản ở cái huyện miền núi rộng lớn này, là vùng trước đây hắn từng nhiều năm lăn lộn kiếm sống. Pa Cao cách đây không xa, độ bốn chục cây số nhưng đường rừng khó đi, nhất là ban đêm, không khéo sẽ lăn xuống vực Phán Ĺn như chơi.
- Ông nói tiền công một trăm ngh́n?
- Ừ. một trăm.
- Ông cùng đi?
- Cùng đi.
- Ngay bây giờ?
- Bây giờ.
- Được.
Hắn lưỡng lự một chốc.
- Vợ tôi nói ông có thể đưa tiền trước? Chả là thằng con đang ốm, phải mua thuốc ngay bây giờ...
Gă kia không đáp, lẳng lặng rút hai tờ năm mươi ngh́n đưa cho hắn. Hắn gọi vợ ra lấy tiền rồi theo gă đi. Không ai nói thêm ǵ nữa.
Hắn thầm ngạc nhiên khi thấy không tới bệnh viện như mọi lần, nhưng vẫn im lặng. Cuối cùng họ bước vào một ngôi nhà nhỏ với ngọn đèn điện tù mù.
- Đây, anh giúp tôi đưa người này về Pa Cao.
Gă kia nói, tay chỉ một ông già nằm thẳng đơ trên sàn, tấm chăn chiên Trung Quốc che đến cổ.
- Người nhà của ông à?
- Không cần biết.
Lúc này có đèn, hắn mới thấy mặt gă. Một khuôn mặt choắt, độc ác và gian xảo như của loài cáo, trên to phía dưới nhọn dần, gần như h́nh tam giác. Cử chỉ và cách nói nhát gừng của gă cũng để lộ bản chất cáo gian xảo.
Kinh nghiệm xe ôm nhiều năm giúp hắn biết nhận xét người nhanh và chính xác. Hắn thoáng hối hận đă nhận lời, nhưng tiền lấy rồi, có muốn thôi cũng chẳng được. Hắn đành tự an ủi rằng khi liên quan đến một việc thế này, không ai nỡ có ḷng nào hoặc tâm trí nào làm hại hắn.
Gă kia kéo chăn. Ông già chết đă lâu, xác cứng đờ như cây củi, khiến gă phải đem hết sức bẻ gập người ông lại. Có tiếng răng rắc như xương găy. Rồi gă nhẹ nhàng bê xác người bị gập thành h́nh vuông ấy ra xe, đặt lên yên. Hắn nổ máy. Gă kia, bằng hai động tác nhanh và gọn, bẻ gập tay ông già cho ôm vào bụng hắn rồi cũng ngồi lên xe.
- Đi!
***
Có lẽ trên đời không nghề nào khốn khổ như nghề của hắn, nghề chở xác chết bằng xe ôm. Số là ở thị trấn hắn đang sống có một bệnh viện nhỏ. Bệnh nhân chủ yếu là người miền núi. Nhu cầu đẻ ra nghề, đúng thế.
Có bệnh viện là có người chết hoặc người bị trả về nhà chờ chết, trong khi đó lại không có đường ô tô về làng bản. Mà nếu có, chưa hẳn ai cũng đủ tiền thuê thứ phương tiện hiện đại và tiện lợi ấy. Vậy chỉ c̣n cáng cơng hoặc thuê xe ôm. Từ đó mà thành nghề.
Có thể nói hắn là ông tổ, khai sinh ra nghề này ở đây, với thâm niên hơn mười năm, tức là ngay từ ngày xe máy xuất hiện nhiều, dần dần thay thế xe đạp. Công bằng mà nói, nghề này kiếm tiền khá hơn nghề xe ôm chở người b́nh thường. Chỉ cái đáng sợ.
Hắn lại nhát gan, bản tính hiền lành, hay sợ ma và đủ các thứ sợ khác. V́ những lư do dễ hiểu, người ta thường yêu cầu hắn chở vào ban đêm. Sợ lắm. Suốt cả mười năm qua, lần nào hắn cũng sợ, nhưng c̣n có cái khác đáng sợ hơn, là thiếu tiền. Hắn luôn thiếu tiền. Để lo cái ăn và nhất là thuốc thang cho mấy đứa con oặt ẹo.
Thành ra không bao giờ hắn từ chối khi có việc. Cả những việc đáng sợ nhất và ít tiền nhất mà đồng nghiệp hắn từ chối. Nói chung th́ cái ǵ làm măi cũng quen, cái sợ nào sợ măi rồi cũng hết, nhưng với hắn, cái sợ khi phải chở xác chết một ḿnh giữa rừng trong đêm khuya, th́ lần nào cũng mới nguyên như lần đầu.
Cả lúc này hắn cũng đang rất sợ, sợ đến mức tay lái run run, và mặc dù trời lạnh, từ thắt lưng trở lên người hắn đẫm mồ hôi. Hai tay ông già ôm chặt bụng hắn. Các ngón tay bấm sâu vào da như những mũi ḱm. Cằm ông ta t́ lên vai hắn. Chiếc mũi chạm vào gáy nhồn nhột.
- Ông cụ mắc bệnh ǵ mà chết?
Hắn lên tiếng cho đỡ sợ.
- Đi đi!
Gă kia nói như ra lệnh.
- Chú ư nh́n xuống đường kẻo ngă chết cả nút bây giờ.
Hắn thấy sợ cả thằng này. Một thằng cha bí hiểm, kỳ cục. Hắn nghĩ thà đi một ḿnh với ông già c̣n hơn. Rồi hắn nhớ năm ngoái đêm khuya hắn chở một xác chết không người đi kèm lên Mèo Xị. Đó là một phụ nữ đang có bầu bị bệnh lao, xác cũng cứng queo, và hắn phải hồi lâu lúng túng cột ngang yên xe như khúc gỗ, dọc đường mấy lần tuột, phải xuống buộc lại.
Thế mà đi năm mươi cây số đến nơi, cả nhà người chết chạy vay hàng xóm măi mới được mười ngh́n đồng trả công. Hắn cám cảnh không lấy, chỉ tu một hơi hết nửa chai rượu ngô vừa nhạt vừa chua, thắp nén hương cho người chết rồi lại đang đêm phóng xe về nhà.
Lần khác, mới đây thôi, có anh con trai phải đưa bà mẹ hấp hối về cho kịp chết ở nhà. Bà cụ cũng ngồi giữa, ôm chặt hắn như ông già bây giờ. Anh con ngồi giữ phía sau. Giữa đường bà cụ chết lúc nào. Khi tới nơi th́ tay chân đă cứng, gỡ măi mới ra. May nhà có tiền trả hắn.
Những trường hợp như thế có nhiều, lần nào cũng đáng sợ, nhưng không hiểu sao lần này hắn thấy sợ hơn cả, thậm chí linh tính như có điều chẳng lành sắp xẩy ra. Có lẽ từ cái thằng c̣n sống đang ngồi lầm ĺ phía sau.
Không lẽ gă sẽ giết hắn để lấy chiếc Minkhơ cà tàng này? Giết người đang chở xác bố hoặc người thân hắn? Không thể thế được. Ai nỡ làm điều ấy? Hắn cảm thấy yên tâm hơn, nhưng hễ nhớ lại cái mặt cáo của gă, hắn lại thấy sợ. Vu vơ nhưng vẫn sợ.
Trời ngớt mưa, đỡ gió, đỡ lạnh hơn. Chẳng nghe ǵ, thấy ǵ xung quanh, ngoài tiếng xe nổ tành tạch và vệt đèn đỏ quạch trước mặt. Cuối cùng xe đến chân đèo Phán Ĺn. Con đèo ngắn nhưng dốc. Bên kia đă là Pa Cao, chừng dăm cây số nữa. Hắn cài số lùi cho xe từ từ leo lên, hơi cúi về phía trước.
Thật lạ, hắn có cảm giác cái xác khô cứng của ông già h́nh như cũng cúi gập theo hắn. Hơn thế, hắn c̣n nghe cả tiếng thở của ông phả vào gáy. Hay gă kia? Không. Gă ngồi tít phía sau. Hai cánh tay đang ôm bụng hắn mềm ra, các ngón mân mê lớp da bụng hắn. Một lần hắn nghe ông già khẽ ho, nhưng v́ tiếng xe nổ to nên không dám chắc điều này.
Hắn đánh bạo bỏ tay trái, sờ vào đùi ông già, thấy mềm như da thịt người sống. Chắc ông cụ sống lại? Hắn muốn hỏi mà không dám. Áo hắn bây giờ ướt đấm hoàn toàn. Ông già dán người vào hắn, tay ôm chặt hơn, hơi thở phả vào gáy hắn mạnh hơn, nóng hơn. Giờ th́ hắn tin ông thực sự đă sống lại. Tuy sợ nhưng hắn thầm mừng, v́ có thêm ông, một người có vẻ tử tế, nếu gă kia định làm điều ǵ xấu sẽ phải suy nghĩ lại...
- Dừng lại hút điếu thuốc đă!
Bất chợt gă lên tiếng khi lên đến đỉnh đèo.
Hắn thót tim, thầm lo sợ điều xấu nhất. Sát bên đường là bờ vực dựng đứng. Nó sẽ đánh ḿnh chết, xô xuống vực rồi cướp xe! Hắn định cứ đi tiếp, hy vọng tên kia không dám đánh khi hắn đang cầm lái, v́ có chuyện ǵ cả gă cũng chết. Tuy nhiên, như bị thôi miên, không hiểu sao hắn vẫn dừng xe.
Đúng đỉnh đèo, sát vực. Gă kia xuống trước, châm thuốc hút rồi đưa cho hắn một điếu. Có vẻ như gă muốn dừng lại chỉ để hút thuốc thật. Ông già vẫn ngồi trên yên, không hiểu v́ c̣n sống hay v́ hai chân cứng đờ kẹp chặt vào xe nên không ngă. Hắn không đủ b́nh tĩnh để kiểm tra.
Hai người im lặng đứng hút thuốc cạnh chiếc xe và ông già. Hắn vẫn luôn để mắt canh chừng. Khi hút xong, vừa nh́n theo mẩu thuốc bị vứt đang bay xuống vực, hắn chợt thấy gă rút trong ngực ra cái ǵ đó ngắn và to như chiếc búa. Hắn né người tránh, nhưng cũng đúng lúc ấy thấy gă kia lại ngă gục v́ cú đánh mạnh của chính chiếc búa gă vừa giơ lên.
V́ ngă ngay mép vực, gă quằn quại một lúc rồi từ từ lăn xuống rất sâu phía dưới. Hắn bàng hoàng không hiểu chuyện ǵ vừa xẩy ra. Dứt khoát thằng kia không thể tự đánh vào đầu ḿnh. Vậy chỉ có ông già. Ông vẫn ngồi bất động trên xe. Chiếc búa sắt nằm ngay dưới chân. Có thể ông kịp giật chiếc búa mà hắn không nh́n thấy. Nhưng ông đă chết. Hắn lại gần sờ lên vai, lên mặt. Quả ông chết thật, người cứng đơ.
Làm ǵ bây giờ? Hắn ngồi xuống vệ đường, ngơ ngác tự hỏi.
- Lại c̣n cái xác này nữa!
Mười lăm phút sau hắn đứng dậy, quyết định chở ông già về Pa Cao. Ở đấy chịu khó hỏi, chắc sẽ t́m được người thân của ông. Hắn vốn thương người, nghĩ không thể để ông nơi này một ḿnh, lại càng không thể vứt xuống vực. Biết đâu chính ông đă cứu sống hắn.
Hắn ngồi lên xe, nổ máy. Mưa bắt đầu nặng hạt trở lại. Đi được một quăng, hắn nghe có tiếng rơi đánh bộp sau lưng, ngoái lại th́ thấy ông già đang nằm dưới đường. Hắn lúi húi đặt cái xác lên xe, bẻ tay cho ôm chặt bụng ḿnh, rồi đi. Rồi lại rơi. Cuối cùng hắn lấy dây cao su cột chặt ông vào người hắn và yên ổn đi tới tận Pa Cao, nơi hắn rẽ vào ngôi nhà đầu tiên có ánh lửa cách đường khoảng mươi mét.
Ngẫu nhiên hắn vào đúng nhà ông thầy mo, chính xác hơn, trước đây là thầy mo.
- Thằng ấy tôi biết. Cứ để nó nằm dưới vực cho quạ rỉa. Đồ bất lương.
Ông thầy mo nói khi nghe hắn kể hết mọi chuyện. Ông ta sống một ḿnh, vẻ khắc khổ và cũng thuộc loại người khó đoán tuổi. Lúc ấy ông ta đang ngồi uống rượu một ḿnh với mấy củ sắn luộc bên bếp.
- Thế ông già này là ai và v́ sao lại chết?
Hắn hỏi, chỉ tay vào cái xác.
- Chuyện dài lắm. Anh chẳng cần biết làm ǵ. Thôi, uống rượu đi cho ấm bụng.
Hắn đỡ lấy chai rượu, tu một hơi hết sạch. Chủ nhà lấy thêm chai nữa. Hắn lại uống. Vốn không phải sâu rượu nhưng lúc này tự nhiên hắn muốn uống thật nhiều để quên đi những ǵ vừa trải qua. Ông kia quí cái tính thật thà và thương người của hắn. Hắn cũng thấy mến ông.
- Cháu ở dưới thị trấn, cạnh bệnh viện, cứ hỏi Tí xe ôm, ai cũng biết.
Hắn nói to, thậm chí c̣n cười. Lúc này rượu đă ngấm và hắn bắt đầu say.
- Tết này rỗi, mời hai bác xuống nhà cháu chơi.
Ông thầy mo nheo mắt cười, chỉ tay vào xác chết bên cạnh:
- Ở đây chỉ có tôi và ông này. Anh định mời cả ông ấy nữa à?
Hắn đớ người một lúc rồi cũng cười:
- Th́ mời cả ông ấy nữa! Ông ấy chẳng đă cứu cháu thoát chết đó sao.
- Được, thế th́ sớm muộn chúng tôi cũng tới thăm anh.
Ông kia đáp rồi quay sang xác chết.
- Có đúng thế không, ông A Lẩu?
Cái xác được gọi là A Lẩu không đáp, nhưng hắn thấy nó gật đầu. Hắn dụi mắt ngạc nhiên, đến sờ vào người ông, thấy vẫn cứng đờ. Chắc ḿnh nh́n nhầm, hắn nghĩ, và v́ đang say nên hắn chẳng nghĩ nhiều về điều đó.
Hai người c̣n ngồi uống rượu thêm hồi lâu, rồi hắn cùng ông thầy mo đem xác A Lẩu ra chôn trên mé đồi sau nhà. Khi xong việc th́ trời gần sáng. Mệt quá, hắn ngủ một giấc gần trưa mới lên xe về nhà.
***
Cuộc sống và công việc của hắn lại tiếp tục như cũ, với hai nỗi sợ thường trực là nghèo đói và những xác chết, mà hắn phải chở vào ban đêm, ở vùng miền núi hoang vu hẻo lánh này. Khó nói cái nào đáng sợ hơn. Cái đói thúc bách hàng ngày, đ̣i có tiền. Các xác chết kinh khủng thật, nhưng lại cho tiền, dù không phải hàng ngày.
Đội quân xe ôm gồm những người cũng nghèo như hắn, làm cùng nghề như hắn đang đông dần. Cũng tranh dành nhau như ở bến xe hay sân ga. Cũng có cả chuyện quỵt tiền công và bắt chẹt khách, những người đang hấp hối hoặc đă chết.
Tóm lại, nó gần như một nghề b́nh thường, và hắn tiếp tục sống bằng nghề ấy. Thậm chí cái đêm kinh khủng suưt bỏ mạng kia cuối cùng cũng trở thành một như rất nhiều các kỷ niệm khác.
Tối mồng hai Tết năm ấy nhà hắn có khách từ dưới xuôi lên. Dẫu nghèo, hắn cũng lo nổi một bữa tử tế đăi họ. Đang vui, hắn nghe có tiếng gơ cửa, vội đi ra. Vợ hắn bận ǵ dưới bếp.
- Tôi đến theo lời mời của anh. Quên nhau rồi à?
Hắn há hốc mồm, nh́n người đứng trước mặt. Đúng hơn không phải người mà là một xác chết đang thối rữa, lủng lẳng những miếng thịt trên tứ chi chưa kịp rứt khỏi xương. Nhưng khuôn mặt th́ c̣n nguyên. Hắn thấy quen quen.
- A Lẩu...
- Vâng, tôi là A Lẩu đây. Ông thầy mo hôm nay bận nên tôi đến một ḿnh. Hai chúng tôi quí anh lắm.
Cái xác cười, miệng đỏ ḷm.
- Sao, không mời khách vào nhà à? Cách đây ba tháng, ở Pa Cao anh chẳng mời chúng tôi Tết này đến nhà chơi đấy ư?
- Ờ, vâng... vâng...
Hắn ấp úng.
- Đừng lo. Không ai nh́n thấy tôi và ngửi thấy cái mùi nằng nặng đang bốc ra từ người tôi đâu.
Cái miệng đỏ lại cười khi thấy hắn chần chừ.
- Vâng, không ai ngoài anh. Mà anh với tôi là chỗ bạn bè, chuyện ấy có ǵ quan trọng.
Nói đoạn, A Lẩu cứ thế bước vào nhà. Hắn đành miễn cưỡng đi theo. Ông già thản nhiên ngồi xuống một chỗ c̣n trống trên chiếc chiếu để đầy thức ăn giữa nhà, thản nhiên rót rượu và dùng những ngón tay chỉ c̣n trơ xương trắng bốc thức ăn.
H́nh như mọi người không nh́n thấy ông, không ngửi thấy ǵ thật. Không ai rú lên, cũng không ai kêu thối. Hắn thấy một người chạm tay vào ông mà không vướng, không có cảm giác ǵ. Lạ thật.
- Anh vẫn phải làm cái nghề khốn khổ ấy à?
A Lẩu hỏi.
- Vâng, bác thấy đấy, c̣n biết làm ǵ khác nữa ở đây.
- Ừ, để kiếm sống, ai cũng phải làm một nghề nào đó. Nghề của anh c̣n lương thiện chán. Không như thằng thuê anh chở tôi về Pa Cao ngày nào...
- Có phải bác giết nó khi nó định đập búa vào đầu cháu không?
Hắn vội hỏi điều băn khoăn lâu nay.
- Không có bác, chắc cháu đă chết. Cháu xin cảm ơn.
- Ơi với huệ ǵ. Anh cũng không vứt tôi xuống vực. Coi như huề.
Ông già với tay lấy chiếc đùi gà ở góc chiếu đối diện, đúng lúc có người khách giơ bát gắp cái ǵ đấy. Một miếng thịt rữa rơi từ tay A Lẩu xuống đúng chiếc bát. Hắn nhắm mắt, suưt kêu lên. Mở ra, đă thấy người kia ăn hết một cách ngon lành mà không nhận thấy ǵ khác thường.
Cuối cùng ông già đứng dậy.
- Cảm ơn anh. Bữa ăn rất ngon. Năm mới, tôi cũng có chút quà.
Ông lấy đâu đó trong người ra chiếc bọc nhỏ bằng vải đỏ gấp vuông vức, đặt lên đầu giường.
- C̣n đây là thuốc chữa bệnh cho mấy đứa trẻ. Có giấy ghi cách sử dụng trong đó.
Ông đưa thêm chiếc lọ thuỷ tinh màu đen.
Tới cửa, lúc chia tay, A Lẩu nói thêm:
- Anh có nhă ư mời tôi th́ tôi cũng phải mời lại anh cho đúng phép. Mai giờ này tôi đến đây đón anh cùng đi.
Nói đoạn, ông từ từ biến mất trước con mắt ngỡ ngàng của hắn.
Không ai biết tối hôm sau hắn được đưa đi đâu, mời ăn những ǵ, chỉ thấy buổi sáng quay về hắn luôn mồm nôn ọe. Rồi ốm, nằm mê sảng đúng một tuần mới khỏi.
Cũng không ai biết có ǵ trong chiếc bọc vải đỏ ông già A Lẩu tặng hắn. Nhưng một điều ai cũng nhận thấy là từ đó gia đ́nh hắn trở nên khá hơn. Con cái khỏi bệnh, nhà có đồng ra đồng vào, thậm chí c̣n sắm được chiếc ti-vi Tàu. Tất nhiên hắn vẫn phải hàng ngày chầu chực dành nhau từng xác chết ngoài cổng bệnh viện.
Nhưng được thế cũng là đổi đời lắm rồi. Có thể nhờ A Lẩu mà số khách người chết của hắn nhiều hơn khách c̣n sống. Cũng có nghĩa là kiếm được nhiều tiền hơn, dù đôi khi phải rợn tóc gáy. Hắn vẫn chưa và có lẽ không bao giờ quen được với nỗi sợ ấy.
Cứ thế hắn làm ăn phát đạt, đến mức cuối cùng dám quyết định đưa cả nhà về sống ở một thành phố lớn. Vẫn làm nghề xe ôm, nhưng ở ga xe lửa. Mấy đứa con đă lớn. Cu Tí, đứa đầu học lớp năm, có một tập giấy khen Học sinh tiên tiến. Đứa sau, cũng con trai, học hơi dốt, phải đúp lớp hai, nhưng nhờ trời, luôn khỏe mạnh và thông minh trong mọi việc, trừ học.
Vợ hắn, người đàn bà ẻo oặt với đôi mắt vô hồn ấy, nay cũng bắt đầu có da có thịt, nhiều khi c̣n cười rất dễ coi, nhất là những hôm không ế mấy thứ hàng rau quả. Vậy là ổn. Hắn lấy làm hài ḷng, gần như thỏa măn. Hắn biết có được như ngày nay một phần nhờ A Lẩu.
Ông già vẫn đều đặn đến thăm hắn mỗi năm một lần đúng vào đêm mồng hai Tết. Và luôn có quà, vẫn chiếc bọc nhỏ vải đỏ gói vuông vức đựng cái ǵ bên trong không ai biết.
Bây giờ ông chỉ c̣n là bộ xương trắng hếu, không kèm theo mùi hôi thối, nhưng giọng nói, cách cư xử và nhất là t́nh cảm của ông đối với hắn th́ không thay đổi. Hắn chẳng c̣n sợ như trước, v́ biết lệ, không mời ai đến nhà vào tối ấy. Hắn đă có thể b́nh tĩnh ngồi uống rượu, chuyện tṛ với vị khách, bộ xương.
Cái hắn sợ là hôm sau phải làm khách của ông, v́ lần nào trở về, hắn cũng nôn ọe măi và ốm, mê sảng đúng một tuần như lần đầu. Cả cái sợ này hắn cũng không thể nào quen nổi, đến mức nhiều khi hối hận rằng ở Pa Cao do say rượu đă trót mời A Lẩu đến thăm nhà ḿnh. May mà mỗi năm chỉ một lần.
Ǵ th́ ǵ, cũng đừng nên bao giờ đùa với ma , hắn thở dài nghĩ bụng. Và nhẫn nhục chờ Tết năm tới.
Thái Bá Tân
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1006 of 2534: Đă gửi: 08 November 2008 lúc 11:14pm | Đă lưu IP
|
|
|
CHẾT KÉO THEO
Như một sự chia sẽ đến với các bạn. Chuyện này xảy ra trong chính gia đ́nh người bác của tôi và tất nhiên 100%.
Anh của mẹ tôi lấy vợ, và câu chuyện này trong gia đ́nh bác gái của tôi, mới xảy ra vỏn vẹn chưa đầy hai năm. Anh của bác gái tôi có một người anh họ bị tai nạn qua đời mà một điều làm nhiều người hết sức ngạc nhiên, là ông ấy chết nhưng người vẫn ấm áp hồng hào, nhưng để nhiều ngày tim không đập nên mọi người khẳng định là đă chết và đem an táng.
Trong ṿng hai tháng sau, lần lượt hai người con trai của ông anh họ, của anh bác gái tôi qua đời, làm cho mọi người rất shock, và lại đặc biệt nữa người chết nhưng cơ thể vẫn hồng hào ấm áp không như những người chết khác là lạnh và cứng, ở đây lại ấm và mềm như người sống.
Mọi người cảm thấy lạ nhưng không hiểu tại sao. Vài tháng sau vợ của ông ta cũng qua đời tương tự. Và cốt truyện chính là ở đây, ít lâu sau anh của bác gái tôi cũng mất và tất nhiên là...... tương tự ấm và mềm.
Bác gái tôi cũng tham dự đám tang, ai cũng bỡ ngỡ về việc này, và đột nhiên có một người bạn quen với anh bác gái tôi nói rằng:
- Gia đ́nh cẩn thận chết kéo theo đó.
Ông này kể cho mọi người nghe về cái này, nhà có ai chết kiểu như thế, nếu không biết cách trị th́ người chết sẽ lần lượt đem người nhà đi theo hết, mọi người rất lo sợ, v́ nếu như vậy bác gái tôi sẽ là người sẽ "cất bước" ra đi tiếp theo.
Ông ấy dẫn một người tới, người nảy nói muốn cứu mọi người th́ phải kiếm cho ông ta một bộ bài trắng, giải thích là bộ bài chỉ có bên Phật dùng, mà phải là bài xài rồi.
Nhà tôi đạo Chúa nên không biết t́m đâu ra, mọi người trong nhà chạy nhau đi t́m, nhưng t́m hoài không ra cái bộ bài đó. May sao gọi điện lên Sài G̣n có một người biết nơi có, liền đến xin cấp tốc đem về.
Ông này cầm bộ bài xếp xung quanh người chết, rồi làm cái ǵ nữa tôi không rỏ, nhưng cuối cùng ông ta lấy bốn con tướng ra, kêu mọi người đem đốt đi.
Và đă hơn một năm mọi chuyện vẫn êm xuôi. Cam đoan tất cả là thật, sự thật 100% kể cho các bạn nghe để mọi người cùng biết, và nếu bị như thế th́ hăy cận thẩn, t́m cách gỡ đừng vội vàng mà chôn không th́ được chôn tập thể đấy.
ST
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1007 of 2534: Đă gửi: 09 November 2008 lúc 12:29pm | Đă lưu IP
|
|
|
MA TRONG CH̉I GÁC
Câu chuyện này cậu tôi kể lại cho tôi nghe đă lâu, xin kể lại cho cả nhà cùng nghe. Cậu nhập ngũ sau khi nghe phong phanh có tên trong danh sách, cậu đă tự nguyện lên xin nhập ngũ để lấy tiếng, v́ đằng nào cũng phải đi, chứ không có hăng hái, hùng hổ và phấn khởi như tivi thường nói…
Được một năm th́ bị điều lên chiến khu phía bắc, thuộc tỉnh nào th́ ḿnh ko c̣n nhớ rơ nữa, chắc là tuyên quang hay thái nguyên ǵ đấy, đại khái là mấy tỉnh có nhiều rừng nhiều núi.
Đơn vị nơi cậu đóng quân có lối kiến trúc như kiểu nhà tập thể ở Việt Nam những năm chín mươi trở về trước, bao gồm một dăy nhà cấp bốn nối sát nhau, mỗi pḥng có khoảng bảy đến mười lính, ở đầu có pḥng gác, chỉ là pḥng b́nh thường chứ không phải cḥi gác trên cao như hay thấy trong phim, cả dăy nhà dựa lưng vào chân núi và nh́n ra là rừng.
Sau hai, ba ngày ổn định chỗ ở và bố trí công việc, th́ cậu được giao nhiệm vụ gác đêm. Là lính nhất là lính miền bắc vốn vẫn được ví như khỉ trường sơn, th́ gác đêm là chuyện b́nh thường, không có ǵ phải suy nghĩ. Nhất là vùng này đang không phải là điểm nóng, cho nên thực chất của việc gác chỉ là đến căn pḥng gác, rồi làm ǵ ở đó th́ làm cho đến sáng.
Ăn cơm xong cậu tôi xách súng không có đạn, bởi v́ vùng này nằm trong vùng an toàn, nên đạn dược được cấp rất ít, chỉ khi cần kíp th́ mới dùng đến vui vẻ đến pḥng gác.
Đó là một căn pḥng khá rộng, diện tích khoảng 20m2. Góc trong bên phải có một cái giường chiếc, có cả mùng màn, không phải mắc để cho lính gác ngủ, mà v́ vùng này là rừng núi, con muỗi to bằng con chuồn chuồn, và con vắt to bằng con lươn, nên lính thường chui vào trong màn cho đỡ bị muỗi đốt vắt cắn.
Đối diện với cửa ra vào là cửa sổ, được đóng kín bằng cót ép. Ở gần đầu giường có một chiếc bàn nhỏ và hai cái ghế, trên bàn có chiếc ấm sứt ṿi cùng vài chiếc chén nát, dưới chân bàn có cái phích cũ không c̣n nắp đậy, cái này là để hỗ trợ cho lính gác pha trà uống cho tỉnh táo, nhưng v́ không có tiền mua trà nên cũng coi như là trang trí thôi.
Cửa ra vào làm bằng cót ép hư hỏng nhiều chỗ rồi, nên dù có đóng lại th́ vẫn có thể nh́n rơ ràng cảnh rừng âm u ở bên ngoài.
Cậu tôi ngồi ở ghế một lúc th́ mang súng lên giường nằm, đặt ở đầu giường, khoanh hai tay lại đè lên súng và gối đầu lên tay. Khi c̣n sớm th́ c̣n có tiếng người qua lại nên cũng đỡ buồn, nhưng bây giờ đă khuya, mọi người đi ngủ hết, cậu mới thấy tĩnh mịch đáng sợ.
Ánh sáng từ cây đèn dầu leo lét trong pḥng hắt ra không soi được khoảng rừng tối om om trước mặt. Tiếng côn trùng kêu, dế gáy… h́nh như càng làm cho người ta có cái cảm giác lạnh lẽo hơn. Nằm được một lúc th́ cậu thiu thiu ngủ. Cậu cũng cố mở mắt ra nhưng mà không thể nào chiến thắng nổi cơn buồn ngủ, hai mắt nặng trịch không theo sự điều khiển của chủ nhân.
Tưởng ngon giấc rồi, ai ngờ lúc ấy trời bỗng trở gió, một luồng gió lạnh thốc vào pḥng khiến cậu rùng ḿnh tỉnh giấc. Và trong lúc nửa say nửa tỉnh, cậu thấy chiếc màn trên giường ḿnh bị tung lên theo gió, phấp phới và quệt cả vào mặt cậu.
Ngoài kia cánh cửa cót ép cũ kỹ đong đưa và phát ra những tiếng ken két đúng như cậu vẫn thường nghe trong những câu chuyện ma. Liên tưởng đến một số t́nh tiết rùng rợn trong những câu truyện ma truyền miệng do mọi người kể lại, cậu bỗng thấy rùng ḿnh, và gió lạnh khiến tóc gáy trong người cậu dựng ngược cả lên, gai ốc nổi đầy ḿnh.
Đang định ngồi dậy làm vài động tác thể dục trấn tĩnh lại, cậu chợt thấy có chuyển động ở khoảng rừng phía ngoài cửa. Chết điếng người v́ nghĩ là có kẻ gian đột nhập cậu nắm chắc súng và đang định đứng lên, th́ bất chợt bóng đen bên ngoài bước vào cửa.
Chưa bước vào khoảng ánh sáng thấy rơ của đèn, cậu đă nhận ra đấy là một người đàn bà mặc áo dài trắng, tóc dài quá vai, hai tay th́ dài quá đầu gối, tay áo trắng phủ đến sát các ngón tay. H́nh ảnh ấy làm cho cậu rụng rời, gai ốc lại nổi lên khắp người. Người đàn bà ấy đi thẳng vào pḥng, đến chân giường, rồi đầu giường. Bà ta cứ đi đi lại lại trong pḥng như vậy.
Các bạn có thể h́nh dung lúc đó cậu tôi sợ hăi đến mức nào không? Cậu muốn bật dậy thật nhanh và chạy sang pḥng khác, hoặc làm một cái ǵ đấy, như hét lên thật to cho mọi người biết, hay cho “con ma” một báng súng vào đầu chẳng hạn, nhưng mà chân tay cậu tê cứng như bị đóng băng, không thể nào nhúc nhích được.
Vẫn có ư nghĩ đây là kẻ gian, sợ nó cướp mất súng, nếu để mất súng sẽ bị kỷ luật khá nặng, cậu gh́ chặt hai tay vào khẩu súng và nằm bất động. Các bạn thử h́nh dung xem, trong căn pḥng màn bay phấp phới, cánh cửa mở ra đóng vào cứ kẽo kẹt, và một người đàn bà mặc đồ trắng cứ đi đi lại lại, đáng sợ biết chừng nào.
Trong suốt khoảng thời gian ấy, cậu tôi cố gắng nh́n cho rơ mặt người đàn bà, nhưng kỳ lạ là không làm sao nh́n rơ được. Không hề bị tóc che phủ, không hề đeo mặt nạ, nhưng vẫn không thể nào h́nh dung khuôn mặt ra sao!
Đi lại khoảng mười phút như vậy, th́ “con ma” bỏ ra ngoài. Cậu tôi nằm im như một xác chết, và sau khi thấy tất cả mọi vật im lặng trong năm phút, cậu tôi mới vùng dậy chạy như bay sang căn pḥng kế bên, là pḥng của viên chỉ huy. Cậu đập cửa như điên.
Viên chỉ huy dường như cũng vừa bị ma nhát, mặt xanh như tàu lá mở cửa cho cậu tôi, hỏi dồn:
- Có chuyện ǵ xảy ra à?
Cậu tôi trả lời giọng c̣n run lẩy bẩy:
- Tao vừa bị ma dọa.. thôi! mấy người muốn cho ai canh th́ canh.. thà chết cũng không dám vào pḥng đó nữa đâu...
Viên chỉ huy mặt càng xanh tái mét hỏi cậu tôi:
- Mày thấy ǵ hả...?
Ngồi một lúc cho hoàn hồn cậu tả lại câu chuyện. Ông ta cho cậu tôi biết, thực ra ở đây ai cũng gặp “nó” một lần rồi, cứ gác ở pḥng đó là kiểu ǵ cũng gặp, riêng ông ta th́ chưa gặp v́ là chỉ huy không phải gác.
Lâu nay đến phiên ai trực, người đó thường đợi mọi người đi ngủ rồi cũng trốn về pḥng ngủ luôn, đến gần sáng mới ra đó ngồi, chứ không ai dám ở đó nguyên đêm cả, v́ cậu tôi là người mới nên họ không cho biết.
Vậy là từ đó cậu tôi cũng như mọi người, không ai dám gác ở căn pḥng đó nữa, mà cũng không dám ngủ một ḿnh nữa, bị một lần khiến cho cậu tôi từ can đảm cũng thành nhát.
Sau này khi nhận nhiệm vụ ở một nơi khác, cậu tôi c̣n gặp một t́nh huống nữa cũng rất đáng để nghe. Khi nào có thời gian tôi sẽ kể cho các bạn.
ST
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1008 of 2534: Đă gửi: 10 November 2008 lúc 5:57pm | Đă lưu IP
|
|
|
NHỮNG TRÁI TIM BỊ MẤT
Như tôi c̣n nhớ chắc chắn vào tháng chín năm 1811, một chiếc xe ngựa trạm đi đến trước cửa toà nhà Aswarby Hall ở trung tâm Lincolnshire. Một cậu bé, hành khách duy nhất trong xe, nhảy ngay ra ngoài khi xe dừng và nh́n quanh một cách ṭ ṃ trong khoảng thời gian ngắn ngủi giữa lúc bấm chuông và lúc cửa gian sảnh mở ra.
Cậu trông thấy một toà nhà gạch cao, vuông vắn, kiểu từ thời nữ hoàng Anne, một cái cổng có cột đá tôn thêm nét cổ kính của hồi 1790, các cửa sổ rất nhiều đều cao và hẹp với các ô kính nhỏ, khung là gỗ trắng dày.
Bên phải bên trái đều có nhà nối với nhau bằng những hành lang sáng lấp lánh một cách kỳ lạ, cũng đều có cột nâng, giữa là khối nhà chính. Hai bên cánh chỉ là chuồng ngựa cũng văn pḥng. Bên trên mỗi cánh nhô lên một cái ṿm trang trí với chiếc chong chóng gió thếp vàng.
Ánh đèn buổi tối chiếu ra từ toà nhà làm các ô kính cửa sổ long lanh như muôn vàn tia lửa. Phía trước gian sảnh là một công viên bằng phẳng, điểm đây đó những cây sồi, riềm là những cây sam. Chiếc đồng hồ trên tháp chuông bị che lấp bởi những cây cao ở bờ công viên, riêng có chiếc chong chóng chỉ chiều gió là lộ ra ánh sáng.
Đúng sáu giờ, tiếng chuông đồng hồ vang êm đềm trong gió. Toàn cảnh đem lại một cảm giác vui tươi, tuy đượm vẻ buồn của buổi chiều đầu thu, nhuốm vào tâm trạng cậu bé đang đứng ngoài cổng chờ người ta mở cửa cho ḿnh.
Chiếc xe trạm đưa cậu từ Warwickshire tới, nơi mà sáu tháng trước đây cậu trở thành cậu bé mồ côi. Giờ đây nhớ lời đề nghị hào hiệp của ông anh họ lớn tuổi, ông Abney, mà cậu tới ở Aswarby.
Lời đề nghị rất bất ngờ, bởi tất cả những người biết ông Abney đều coi ông là một người ở ẩn khá khắc nghiêt, một cậu bé tự nhiên đi vào cuộc sống ổn định của ông hẳn sẽ là một điều mới lạ, không thích hợp chút nào.
Sự thực là ít ai hiểu ông Abney theo đuổi cái ǵ và tính t́nh ông ra sao. Vị giáo sư tiếng Hy lạp ở Cambridge nghe nói đă từng tuyên bố không ai hiểu biết về tín ngưỡng của những người theo tà giáo nhiều hơn ông chủ của Aswarby này.
Quả thật thư viện của ông đầy những quyển sách hồi đó có thể t́m được, nói về các bí mật, các bài thơ bí hiểm, việc thờ phụng các thần Mithras, Một vị thần của tôn giáo Ấn độ hồi năm 1300 trước Công nguyên mà sự thờ phụng mang nhiều bí ẩn. Và những người theo học thuyết Platon: triết gia Hy lạp 427-347 trước Công nguyên mới.
Trong gian sảnh lát đá hoa cương người ta thấy một nhóm tượng các thần Mithras đang giết một con ḅ, mua khá đắt từ Levant đem về. Chủ nhân đă viết một bài mô tả nhóm tượng cho tờ Tạp chí Người Phong Lưu, và cũng viết một loạt bài báo đáng chú ư trong tờ Bảo tàng, về sự mê tín của những người La Mă đối với Đế chế Thấp. Đế chế La Mă thấp gồm các vùng Aulu-gettle, Ausone, Claudien, Macrobe, Végèce.
Một cách chính xác, mà ta được nh́n nhận như một người được bao bọc trong sách vở, thành thử láng giềng đều lấy làm lạ ngay từ việc ông ta có nghe nói tốt người em họ là Stephen Elliott chứ đừng nói tới việc ông ta đem cậu bé về ở cùng Aswarby Hall với ḿnh.
Dù cho hàng xóm có chờ đợi ǵ đi chăng nữa, điều chắc chắn là ông Abney người đàn ông cao gầy, nghiêm khắc có vẻ như đón chào người họ hàng nhỏ tuổi khá tử tế. Cửa gian sảnh vừa mở, ông đă từ pḥng học chạy ra vui vẻ xoa tay.
- Cậu bé khoẻ chứ Khoẻ không ? Bao nhiêu tuổi ấy nhỉ ? Hy vọng cậu không đến nỗi mệt lắm v́ đi đường. Ăn bữa tối nhé.
Ông ta nói.
- Dạ không xin cám ơn ông.
Cậu bé nói:
- Tôi khoẻ ạ.
- Ngoan quá. Thế cậu bao nhiêu tuổi ?
Ông ta hỏi. Kể cũng hơi lạ, mới gặp có hai phút mà ông ta có vẻ quá quan tâm đến việc này
- Đến sinh nhật này tôi mười hai ạ.
Stephen đáp.
- Sinh nhật là vào hôm nào ? Mười một tháng chín phải không? Hay lắm! Tốt. Gần một năm nữa đấy nhỉ ? Ha! Ha! Tôi phải ghi vào sổ mới được. chắc chắn là mười hai chứ ?
- Dạ vâng, chắc ạ.
- Tốt, tốt. Ông Parkes đưa cậu ta đến pḥng bà Bunch, để cậu dùng trà hay ăn tối, ǵ ǵ cũng được.
- Vâng ạ.
Ông Parkes điềm đạm đáp rồi đưa cậu bé xuống nhà dưới. Bà Bunch là người đàn bà dễ chịu nhất và gần gũi nhất mà Stephen gặp ở Aswarby. Bà làm cậu cảm thấy như ḿnh đang ở nhà, chỉ mười lăm phút sau hai người đă trở thành bạn và họ là những người bạn lớn của nhau măi măi.
Bà Bunch sinh trưởng ở vùng lân cận khoảng năm mươi năm, trước ngày cậu bé đến Aswarby và ở Aswarby Hall đă hai chục năm nay. V́ vậy bất kỳ ai từng ra vào toà nhà này, cũng như vùng này bà đều biết, và rất sẵn sàng phổ biến thông tin đó cho người khác.
Dĩ nhiên có biết bao điều mà Stephen muốn biết, kể từ toà nhà cho đến khu vườn v́ cậu có đầu óc phiêu lưu thích t́m hiểu.
"Ai xây ngôi đền ở cuối chặng đường liều chỗ kia ? Ai là ông già có ảnh treo ở cầu thang, đang ngồi bên bàn tay cầm một cái sọ người ?
Những điều như thế và giống như thế được trí nhớ khá vững của bà Bunch làm sáng tỏ, tuy nhiên vẫn c̣n một số điều giải thích chưa được rơ ràng.
Một buổi tối tháng Mười một, Stephen ngồi bên ngọn lửa trong pḥng bà coi nhà, ngẫm nghĩ về mọi thứ xung quanh, bỗng dưng cậu lên tiếng hỏi:
- Ông Abney có phải là người tốt không bà, và ông có được lên Thiên đường không ?
Đây là câu hỏi mà trẻ con thường có ḷng tin đặc biệt vào người lớn có khả năng trả lời, tính chất những câu hỏi này chỉ dành riêng cho toà án.
- Trời! Tội nghiệp cậu bé.
Bà Bunch nói:
- Ông chủ là loại người tốt tôi chưa thấy bao giờ. Thế tôi chưa kể cậu nghe ông đă từng nhặt một đứa bé ngoài đường về nuôi cách đây bảy năm. Lại c̣n cô gái nhỏ, hai năm sau ngày tôi đến đây làm.
- Chưa ạ. Bà chưa kể. Bà hăy nói cho tôi nghe ngay đi!
- Thế này nhé.
Bà Bunch kể.
- Cô gái nhỏ th́ tôi không nhớ rơ lắm. Chỉ nhớ một hôm ông đi dạo về đem theo cô bé và ra lệnh cho bà Ellis, lúc đó là người giữ nhà, trông nom thật chu đáo. Cô bé tội nghiệp không c̣n một người thân thích nào chính cô bé bảo tôi vậy và sống ở đây với ông chủ ba tuần th́ phải.
Sau đó cô ta gặp một người gypsy cùng ḍng máu với cô ta hay sao đấy, chỉ biết là một buổi sớm mai cô dậy sớm hơn tất cả chúng tôi rồi đi đâu mất, không ai nh́n thấy nữa. Ông chủ rất tuyệt vời, cho tát tất cả các ao, nhưng theo tôi th́ cô ta trốn đi theo bọn gypsy v́ đêm hôm cô ta bỏ đi, quanh nhà có tiếng hát cất lên độ một giờ đồng hồ.
Parkes nói là có nghe tiếng gọi từ trong rừng vẳng ra.
- Trời ơi! Cô bé mới lặng lẽ làm sao, cái cách cô ta bỏ đi như thế chẳng giống chút nào, với tính cách thuần thục của cô ta, tôi thật lấy làm lạ.
- Thế c̣n chú bé kia th́ sao?
Stephen hỏi.
- A! Cái chú bé tội nghiệp ấy!
bà Bunch thở dài.
- Chú bé là người ngoại quốc tên là Jevanny, vừa đi lên con đường vào nhà vừa quay một chiếc đàn quay vào một ngày mùa đông, ngay phút đó ông chủ đón chú ta ngay và hỏi cậu từ đâu tới, bao nhiêu tuổi, làm thế nào sinh nhai, họ hàng ở đâu…rất tử tế.
Nhưng cũng giống như cô bé kia, một hôm chú ta bỏ đi vào một buổi sáng, v́ sao bỏ đi, bỏ đi làm ǵ, hàng năm sau chúng tôi vẫn tự hỏi, bởi cây đàn quay vẫn c̣n để lại trên giá không mang theo.
Suốt thời gian c̣n lại của buổi tối, Stephen hỏi bà Bunch rất tỉ mỉ cố xem có gợi ra được một điệu nhạc nào từ chiếc đàn quay không. Đêm hôm đó cậu mơ một giấc mơ kỳ lạ.
Cuối hành lang lên tầng trên cùng của ngôi nhà, nơi có pḥng cậu ở, có một cái buồng tắm cũ nay không dùng, được khoá kỹ, tuy thế phần trên cửa ra vào vẫn nh́n qua được, v́ là kính mà màn cửa bằng vải tơ đă ră hết, thấy được cả ống dẫn nước bằng ch́ gắn vào trong tường mé bên phải, đầu ống nước quay về phía cửa sổ.
Đêm hôm mà tôi nói ở trên, Stephen tự nhiên nh́n qua kính cái cửa ra vào đó. Ánh trăng chiếu qua cửa sổ, cậu nh́n thấy một h́nh người nằm trong bồn tắm.
Mô tả của cậu làm tôi nhớ lại có lần chính mắt tôi đă nh́n thấy trong ṿm nhà thờ St. Michan nổi tiếng ở Dublin những xác người chết được lưu giữ sao cho không bị rữa từ nhiều thế kỷ. H́nh người cậu nh́n thấy gầy và thường không tưởng tượng được, màu xám như ch́, bọc trong tấm áo giống khăn liệm, đôi môi nở nụ cười nhợt nhạt dễ sợ, hai tay chắp lại để trên ngực nơi trái tim.
Cậu vừa nh́n vào th́ nghe có tiếng rên rỉ khe khẽ thốt ra từ đôi môi, và hai cánh tay thây người hơi cử động. Hoảng hồn cậu lùi lại, tỉnh lại cậu thấy ḿnh quả đang đứng trên sàn gỗ lạnh toát trong hành lang vằng vặc ánh trăng.
Với một ḷng can đảm phi thường, mà tôi cho rằng trẻ con ở tuổi ấy khó có thể có được, cậu bé tới cánh cửa pḥng tắm nh́n vào, xem có thực là trong bồn tắm có người nằm không. Không. Thế là cậu vào lại giường, đi ngủ.
Sáng hôm sau bà Bunch rất bị ấn tượng bởi câu chuyện cậu bé kể, và thay ngay tấm màn mới vào cửa kính buồng tắm. Ông Abney nghe cậu kể vậy vào bữa ăn sáng có vẻ quan tâm ghê lắm, và nói là phải ghi vào "quyển sách của ông ta"
Tiết xuân sắp đến. Cũng như mọi khi ông Abney nhắc người họ hàng trẻ rằng, thời tiết này các cụ ngày xưa coi là rất nguy hiểm cho người ít tuổi, Stephen phải lo giữ sức khoẻ, phải đóng cửa sổ khi đi ngủ, việc nhắc nhở đó c̣n kèm theo vài nhận xét khá giá trị, bởi thời kỳ này c̣n hai sự kiện nữa tác động đến tâm trí Stephen.
Sự kiện đầu tiên xảy ra sau một đêm cậu trằn trọc khó ngủ. mặc dù cậu không mơ thấy giấc mơ nào đặc biệt như hôm nọ. Tối hôm bà Bunch lo vá cho cậu tấm áo ngủ
- Trời ạ, cậu Stephen
Bà kêu lên có vẻ giận dữ.
- Sao cậu lại xé cái áo ngủ tan nát ra thành từng mảnh thế này ? Này, mời cậu nh́n xem, làm khổ đầy tớ phải vá víu như thế này đây. Thật đúng là một kiểu phá hoại tinh nghịch.
Cái áo bị xé từng rạch, phải tài t́nh lắm mới vá nổi. Đặc biệt bên ngực trái, những vết rạch dài khoảng mười lăm phân một, một số vết rạch không đứt hẳn lần vải. Stephen hoàn toàn không biết ǵ về chuyện này. Đêm qua chắc chắn không như thế.
- Nhưng bà Bunch ạ, chúng giống hệt những vết cào trên cánh cửa buồng ngủ của tôi, mà đảm bảo với bà là tôi không hề động chạm ǵ đến cánh cửa cả.
Bà Bunch nh́n vào Stephen, miệng há hốc, sau khi thắp cây nến, vội vă rời khỏi pḥng ḿnh, lên gác. Vài phút sau bà đi xuống.
- Phải đấy cậu Stephen ạ, kỳ lạ thật, những vết đó phải có ai đến tạo ra chứ chó hoặc mèo không với tới được, chuột càng không thể. Chúng cứ như móng tay người bán đồ sứ cào vào ấy.
Chú tôi là người buôn trà thường bảo chúng tôi như vậy khi chúng tôi c̣n nhỏ. Thôi tôi sẽ không bảo là cậu gây nên những tổn hại này nữa đâu, khi đi ngủ cậu nhớ khoá cửa buồng vào.
- Tối nào cầu kinh xong tôi cũng khóa đấy bà ạ.
- À, cậu bé này ngoan đây, đêm nào cũng cầu kinh, chẳng ai làm hại cậu được đâu.
Bà Bunch vừa nói một ḿnh vừa vá chiếc áo rách và suy nghĩ, cho đến lúc đi ngủ. Đó là một đêm thứ sáu tháng ba năm 1812.
Chiều tối hôm sau, buổi đàm thoại thường xuyên giữa bà Bunch và Stephen sôi nổi thêm v́ có ông Parkes, quản gia, vốn có xu hướng ở một ḿnh trong căn pḥng nhỏ phía sau của ḿnh. Thoạt vào, ông ta không nh́n thấy Stephen ở đó. Ông có vẻ xôn xao hơn và nói nhanh hơn.
- Ông chủ có muốn tự ḿnh đi lấy rượu th́ lấy, vào buổi tối ấy.
Đó là lời nhận xét đầu tiên của ông ta.
- Tôi chỉ đi lấy rượu ban ngày thôi. Không hiểu là cái ǵ, trong hầm rượu có chuột hay sao ấy, hay chỉ là gió cũng nên. Tôi đâu c̣n trẻ con như trước nữa, giờ tôi chịu không nổi những thứ ấy như trước kia.
- Ồ, ông Parkes, chuột th́ thích nhất là ở pḥng ăn lớn chứ.
- Tôi không chối căi điều đó bà Bunch ạ, và có điều chắc chắn là tôi đă nghe nhiều người ở xưởng đóng tàu, bảo chuột có thể nói được. Trước đây tôi không tin, nhưng đêm nay nếu tôi hạ ḿnh ghé tai vào cánh cửa của ngăn bên kia hầm rượu, dám chắc tôi nghe được lũ chuột nói ǵ.
- Ồ ông Parkes, tôi không chịu nổi những thứ ông tưởng tượng ra nữa. Ai đời chuột nói chuyện với nhau trong hầm rượu bao giờ.
- Bà Bunch tôi không lư sự với bà nữa, tôi chỉ muốn nói với bà có mỗi một điều thôi. Nếu như bà đi tới thùng rượu phía cuối, ghé tai vào cánh cửa, bà sẽ hiểu những điều tôi nói, chỉ trong vài phút thôi.
- Sao ông cứ nói những chuyện vớ vẩn thế nhỉ, đâu phải chuyện cho trẻ con nghe. Ông không sợ làm cậu Stephen đây hoảng lên sao ?
- Cậu Stephen ở đây ư ?
Đến lúc này ông Parkes mới nhận ra sự có mặt của Stephen.
- Cậu ấy phải hiểu là tôi chỉ nói đùa với bà thôi.
Thực tế Stephen biết quá rơ ông Parkes ngay từ đầu có định đùa hay không. Cậu không vui vẻ ǵ lắm, nên lưu tâm ngay đến t́nh h́nh này, tuy nhiên làm thế nào cũng không moi thêm được chi tiết nào nữa, từ ông quản gia về những ǵ xảy ra trong hầm rượu.
Chúng ta đă tới ngày 24 tháng ba năm 1812, một ngày mà Stephen chứng kiến nhiều chuyện lạ xảy ra. Ngày hôm đó náo động và nhiều gió, nó làm cho cả ngôi nhà lẫn khu vườn có một cảm giác không yên.
Stephen đứng bên hàng rào của ngôi nhà nh́n ra công viên. Cậu cảm thấy như thể có rất nhiều người vô h́nh cứ diễu qua trước mặt cậu trong làn gió, họ lướt qua vô mục đích, nhưng cũng không sao ngăn họ lại được, không sao nắm được một cái ǵ để làm họ đừng bay nữa, cho họ tiếp cận trở lại với thế giới sống mà họ từng là một phần trong đó.
Sau cơm trưa ông Abney bảo cậu:
- Stephen ạ, tối nay cậu thu xếp đến gặp tôi muộn một chút, lúc mười một giờ, trong pḥng học được không? Tôi bận suốt ngày, lúc đó mới rảnh.
Tôi sẽ cho cậu xem một thứ liên quan đến tương lai cậu mà cậu cần biết, v́ nó rất quan trọng. Cậu đừng nói việc này với bà Bunch hoặc bất cứ ai trong nhà nhé, cậu cứ về pḥng ngủ vào giờ thường lệ.
Lại thêm một kích thích nữa đối với cuộc sống. Stephen hăm hở nắm lấy ngay dịp được thức khuya đến mười một giờ đêm. Trên đường lên cầu thang cậu liếc nh́n vào cánh cửa thư viện.
Cậu thấy một cái ḷ than xưa nay vẫn để trong góc pḥng, nay được đưa ra cạnh ḷ sưởi, một cái cốc cổ viền bạc đặt trên bàn trong đựng đầy rượu vang đỏ, bên cạnh là mấy tờ giấy. Ông Abney đang rắc trầm hương vào ḷ, từ một chiếc hộp tṛn bằng bạc mà không để ư tới bước chân cậu.
Gió đă lặng. một đêm yên tĩnh. Trăng tṛn. Lúc mười giờ Stephen đứng bên cửa sổ nhin ra ngoài. Mặc dù đêm lặng lẽ êm đềm nhưng đoàn người bí ẩn trong những cánh rừng sáng trăng vẫn không ngủ yên.
Thỉnh thoảng vẫn có những tiếng kêu như của những kẻ lang thang lạc đường tuyệt vọng vẳng lên qua ao hồ. Chẳng lẽ lại là tiếng cú kêu, tiếng những con chim sống trên mặt nước ? không giống tiếng của chúng.
Liệu những tiếng kêu đó có tới gần không ? Lúc này nghe như chúng đă ở bên bờ ao bên này, chẳng mấy chốc nữa mà bay tới các bụi dâu. Rồi bỗng im.
Stephen đang định đóng cửa sổ, vào pḥng đọc nốt quyển sách Robinson Crusoe, th́ bỗng nh́n thấy trên nền đất rải sỏi chạy dọc theo phía vườn của ngôi nhà, có hai dáng h́nh người đang đứng.
Một cô con gái và một cậu con trai, họ đứng bên nhau, nh́n lên các cửa sổ. Cô gái gợi lại giấc mơ của cậu, đúng là h́nh người nằm trong bồn tắm. Cậu con trai khiến Stephen kinh hoàng hơn.
Trong khi cô gái đứng yên hơi mỉm cười, hai tay chắp trước chỗ trái tim, th́ cậu con trai rất gầy tóc đen, áo quần tơi tả, giơ cao cánh tay với vẻ dọa dẫm đồng thời lộ vẻ mong chờ. Ánh trăng chiếu vào hai bàn tay trong suốt của cậu bé, những móng tay dài cũng trong suốt, trăng chiếu qua được.
Đứng giơ tay như thế lộ ra một cánh tượng khủng khiếp, sườn trái cậu bé là một kẽ nứt đen ng̣m, và từ óc Stephen th́ đúng hơn là từ tai, cậu nghe thấy những tiếng kêu tuyệt vọng, mà lúc chập tối vẳng tới từ rừng Aswarby. Được một lúc th́ cả đôi di chuyển không tiếng động trên lớp sỏi, không c̣n nh́n thấy đâu nữa.
Sợ hăi khôn tả Stephen cầm cây nến xuống pḥng học của ông Abney, v́ cũng sắp đến giờ hẹn. Pḥng học hay thư viện một bên mở ra sẳn, và Stephen do quá sợ, tới chỗ đó rất nhanh. Nhưng không dễ vào.
Cửa không khoá, ch́a khoá vẫn cắm ngoài nhưng gơ măi không thấy tiếng trả lời. Ông Abney đang bận. Ông đang nói. Ủa! Sao ông lại kêu lên thế nhỉ ? Tiếng kêu như nghẹn trong cổ họng. Hay là ông cũng nh́n thấy hai đứa trẻ kia ? Thế rồi yên lặng. Stephen đẩy cửa vào không khó khăn ǵ.
Trên bàn ông Abney có một vài tờ giấy chỉ rơ cho Stephen hiểu được ngọn ngành câu chuyện. Có một số câu quan trọng như sau:
- "Cổ nhân đa số tin tưởng vững chắc, tôi đă thể nghiệm sự khôn ngoan của họ trong những vấn đề này, từ đó đưa tôi đến chỗ tin tưởng ở sự khẳng định của họ rằng, nhờ một vài quá tŕnh nào đó, những quá tŕnh mà người tân tiến chúng ta coi là man rợ, có thể đạt được ở con người một năng lực tinh thần rất đáng kể.
Thí dụ như nếu hấp thụ những cá tính của một số đồng loại, th́ một cá thể có thể vươn lên hoàn toàn khỏi cái trật tự, của các sinh vật có linh hồn vốn đang điều hành, những thế lực cơ bản của thế giới chúng ta.
Simon Magus có thể bay trên không, trở nên vô h́nh hoặc biến thành bất cứ h́nh thù nào mà ḿnh thích, nhờ lực của linh hồn một cậu bé mà ông ta "đă ám sát", từ này có tính cách bôi nhọ tác giả của Clementine recognittons dùng.
Hơn nữa tôi c̣n t́m thấy khá nhiều chi tiết trong các bài viết của Hermes Trismegistus, cho biết những kết quả tốt đẹp tương tự, có thể đạt được nếu người ta hấp thụ, ít nhất là ba trái tim của ba con người dưới hai mươi mốt tuổi.
Nhằm chứng minh sự thật này, tôi đă dành phần lớn thời gian của hai mươi năm cuối cùng, vào việc lựa chọn ra các corpora vilia (thân thể hèn hạ) cho việc thực nghiệm, tức là những người mà nếu có mất đi cũng không gây tổn thất ǵ cho xă hội.
Bước đầu tôi loại trừ một cô bé gypsy tên Phoebe Stanley ngày 24 tháng ba 1792.
Người thứ hai là một cậu bé con người Ư tên Gionvanni Paoli, đêm 29 tháng ba 1805.
Nạn nhân cuối cùng, từ này làm tôi kinh tởm hết sức, sẽ là em họ tôi Stephen Elliott, và vào ngày 24 tháng ba 1812.
Phương thức hấp thụ tốt nhất là lấy từ trái tim người sống ra, đốt thành tro, trộn vào một phần tư lít rượu vang đỏ, tốt nhất là rượu porto. Xác hai người đầu tiên rất dễ giấu. Vào một buồng tắm bỏ không dùng hoặc là hầm rượu, hai địa điểm thuận lợi cho việc giấu xác.
Cái bất tiện là ở cái phần hồn của họ mà dân gian thường gọi là ma. Nhưng đối với người có tính khí triết nhân, mà đối với họ chỉ thí nghiệm là quan trọng, th́ họ nề hà ǵ đến cố gắng yếu ớt của người chết lo trả thù họ.
Tôi rất thoả măn nh́n nhận cuộc đời được mở rộng và giải phóng của ḿnh, mà thí nghiệm này nếu thành công sẽ mang lại cho tôi, v́ nó không những khiến cho cái người ta gọi là công lư của con người, không tầm nă nổi tôi, mà c̣n có thể loại trừ cho tôi khỏi cái chết".
Ông Abney được t́m thấy trong ghế bành, tư thế ngồi, đầu ngửa ra, nét mặt mang đầy vẻ căm hờn, sợ sệt, đau đớn của cái chết. Bên trái là một vết thương mới bị rạch, để lộ ra trái tim.
Tay ông không máu, con dao để trên bàn vẫn sạch nguyên. Có lẽ một con mèo rừng đă gây nên vết thương này. Cửa sổ mở. Theo cảnh sát tư pháp, ông Abney chết do lực của một con thú hoang dă. Nhưng Stephen Elliott đă được đọc mấy tờ giấy trên kia, th́ lại đi đến kết luận khác hẳn.
Montague Rhodes James
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1009 of 2534: Đă gửi: 12 November 2008 lúc 4:02pm | Đă lưu IP
|
|
|
CHUYỆN HUYỀN BÍ CÓ THẬT CHUYỆN MA ĐỜI LÍNH
Nhắc đến Ma hay nhắc đến những chuyện huyền bí thuộc thế giới siêu h́nh th́ có lẽ không ai đă không một lần nghe nói tới hoặc đă được nghe kể lại. Nhưng nói đến việc trực tiếp gặp ma, đối diện với ma, chuyện tṛ hay giao hữu với ma, xa hơn chút nữa là sự cảm thông hoặc bị ma nhập hẳn vào một người nào đó, để chế ngự thân xác và tâm thức của họ, th́ không phải ai ai cũng đều có cơ duyên để chứng nghiệm.
Và đó chính là nguyên nhân càng khiến cho những định kiến của thế gian nghĩ về quỷ ma, nghĩ về thế giới siêu h́nh, đôi khi trở nên rẫy đầy những điều kỳ bí, và thường bị thêu dệt quá đáng theo một thiên kiến ghê gớm kinh dị, để cho những người chưa bao giờ gặp ma trở nên hăi hùng khiếp sợ.
Thật ra chúng ta đều nhận biết một cách rất rơ ràng rằng, những điều gớm ghê kinh dị không phải chỉ xảy đến từ những hoạt động của âm giới, mà ngay cả trong đời sống hiện thực của chúng ta hằng ngày, cũng đâu có thiếu ǵ những sự kiện c̣n kinh dị hơn gấp bội.
Những sự kiện đó c̣n đưa đến những hậu quả đầy kinh hoàng khác hơn thế nữa. Nhưng đối với điều đó, tác giả không có chủ đích để bàn luận trong câu chuyện huyền bí này, chúng tôi chỉ đề cập đến một cách phiến diện.
Trước khi kính mời quư vị cùng tham dự vào câu chuyện, một người lính chiến thuộc VNCH có đời sống rất b́nh thường, và anh đă chẳng bao giờ muốn mà vẫn cứ có nhiều cơ duyên, phải gặp gỡ những vong hồn đă khuất mày khuất mặt, ở bên kia thế giới trong suốt quăng đời binh nghiệp...
Người lính chiến có duyên cơ với ma, với những sinh hoạt thuộc âm giới đó tên của anh là Long, là một quân nhân vạm vỡ khỏe mạnh. Tánh t́nh Long hồn nhiên yêu đời và rất vui tính.
Lúc nào Long cũng có trên môi nụ cười cởi mở hiểu theo đúng nghĩa đen, tức là miệng cười của Long lúc anh hoan hỉ th́ ngoài tiếng cười ḍn như sấm nổ, hai vành môi của anh c̣n cởi và mở hẳn ra để lộ diện thật rơ ràng hai hàm răng vừa to quá khổ vừa trắng hếu, trông anh rất đỗi vô tư.
Và không ai có thể nh́n anh mà nín được cười. Đă vậy khi nói chuyện, Long c̣n có giọng nói sang sảng, đứng ở xa anh đến cả trăm thước, chúng tôi vẫn có thể nghe rơ mồn một tiếng Long nói cười. Anh cũng là người có bản chất mộc mạc, thích ḥa đồng và vui tính.
Vui tính và vô tâm đến nỗi có những lúc bạn bè gặp phải chuyện không vui, rất không cần đến sự vui tính của anh, Long cũng cứ tự nhiên xen vào làm cho bầu tâm sự, hoặc câu chuyện tâm t́nh của bạn bè bị anh phá đám một cách lăng nhách. Thỉnh thoảng có người trực tính, cự nự lại cái bản chất vô tư lự của Long th́ anh toét hẳn miệng ra cười đáp lại:
- Tao đâu có biết chúng mày đang có những chuyện quá nghiêm trọng đến như vậy. Sao không chịu nói trước ...
Nói là nói cho có lệ như vậy, chứ chẳng ai lấy thế làm phiền ḷng. Vă lại tánh t́nh của Long trẻ trung như vậy th́ bạn hữu, ai cũng đă biết, chẳng ai nỡ để tâm giận anh mà làm ǵ.
Ngay từ đêm đầu tiên mấy trăm quân nhân tập sự chúng tôi, vừa từ Sài G̣n được chiến hạm Hải Quân chuyển vận ra Nha Trang, thụ huấn quân sự ở quân trường thuộc vùng cát trắng này, cả khóa lính mới của chúng tôi đă có dịp biết đến tên tuổi của Long vào một dịp t́nh cờ.
Số là chiến hạm chuyên chở chúng tôi vừa mới cập bến trong lúc đêm đă về khuya, nhưng tất cả khóa sinh đều phải hoàn tất mọi thủ tục nhập trại, cho nên mọi người được cán bộ huấn luyện quân trường ra lệnh, phải tề tựu tập họp trước sân cờ để lănh quân trang quân dụng, để rồi sau đó mọi người được phân chia theo từng đại đội, trung đội rồi tiểu đội để tạm thời t́m chỗ ngủ qua đêm.
Và bởi v́ đêm đă quá khuya, tất cả khóa sinh tân binh chúng tôi được lệnh phải phân tán theo từng đơn vị vừa mới được gấp rút phân chia, để tự t́m lấy chỗ ngủ tạm qua đêm trong một dăy building, ṭa nhà bị trống trơn, dường như đă xây khá lâu năm nằm ngay sát hàng rào doanh trại, ngoài kia không xa lắm là bờ biển với tiếng sóng vỗ ŕ rào suốt đêm ngày.
Người khóa sinh tiểu đội trưởng tiểu đội của tôi chấp hành lệnh điểm danh quân số, báo cáo lên cán bộ huấn luyện, trước khi đến chỗ nằm đă được chỉ định. V́ là lính mới, chúng tôi chưa thuộc hết tên tuổi và mặt mũi của nhau.
V́ vậy người khóa sinh vừa được chỉ định làm tiểu đội trưởng, loay hoay điểm danh tới điểm danh lui, măi một lúc sau mà vẫn c̣n thấy vắng mất một người. Anh ta vội báo cáo lên vị sĩ quan cán bộ huấn luyện, về sự vắng mặt của anh tân binh kỳ lạ này.
Cán bộ huấn luyện gào rát cả cổ trong đêm thâu vừa vắng vẻ vừa bị lạnh cóng, bởi những cơn gió tạt mạnh từ bờ biển thổi vào, để réo gọi cái tên Nguyễn Trần Long, đến một hồi lâu mới có người lên tiếng từ một góc thật xa trong quân trường, khiến mọi người dồn tất cả mọi cặp mắt về hướng phát ra tiếng nói, mọi người tỏ ra có vẻ rất nhốn nháo:
- Có mặt!
Không một ai biết được anh tân binh này v́ cớ ǵ mà bỗng nhiên biến về phía xa đó. Lúc bấy giờ Nguyễn Trần Long mới từ hướng phát ra tiếng nói, vừa thắt lưng quần. Té ra anh ta bị trở dạ th́nh ĺnh t́m chỗ giải quyết cấp thời. Kết quả là toàn bộ tiểu đoàn khóa sinh chúng tôi, đă phải vác túi ba lô nặng trĩu vừa mới được nhận lănh, nối gót nhau chạy thục mạng để thanh toán cho đủ mười ṿng sân cờ.
Nguyễn Trần Long đă được mọi người biết đến tên anh từ lúc đó, với tất cả sự hậm hực oán trách của mọi người, vừa đói vừa lạnh vừa mệt đến bở hơi tai v́ h́nh phạt quân sự đầu tiên, mở màn cho cuộc đời binh nghiệp.
Về đến chỗ nằm chúng tôi chia nhau ra tản mạn mỗi người một góc, cố gắng thu vén chuẩn bị thật nhanh cho giấc ngủ sắp tới. Nguyễn Trần Long cũng đang tháo vát dọn lấy một chỗ nằm. V́ tất cả mọi người, không ai có giường để nằm, đành phải trải đại khăn trên nền xi măng lạnh ngắt.
Riêng Nguyễn Trần Long th́ quư phái hơn người, anh t́m được một góc chỗ nằm vắng khuất với một tấm gỗ phong dày, được anh tự động gỡ ra từ một cánh cửa, làm cho khung cửa biến thành một lỗ hổng lớn, không thể dấu được mắt nh́n của mọi người. Nh́n qua lỗ hổng của khung cửa, dường như thấy có điều ǵ bất thường, một sĩ quan cán bộ huấn luyện lớn tiếng cảnh cáo:
- Anh nào vừa mới tháo cánh cửa đó ra, hăy mau mau gắn trở lại. Tất cả mọi người, ai cũng phải nằm trên mặt xi măng mà thôi.
Long nghe cán bộ quân trường ra lệnh, anh lại phải lục đục gắn lại tấm cánh cửa vào chỗ cũ, nhưng trong thâm tâm, đợi cho viên cán bộ đă ra khỏi, anh lại vẫn nhất định lấy tấm gỗ đó để lót xuống chỗ nằm cho đêm đỡ lạnh. Chẳng bao lâu đó cả tiểu đoàn khóa sinh chúng tôi, ai cũng đă quá mệt mỏi sau chuyến hành tŕnh bằng đường biển, lại chịu thêm h́nh phạt chạy đủ mười ṿng sân cờ nên ai nấy đều đi vào giấc ngủ nhanh chóng.
Cho đến tảng sáng hôm sau, mọi người lại một phen nhốn nháo cả lên, v́ có tin khóa sinh Nguyễn Trần Long cùng với tấm ván cửa, đă bị ai bí mật khiêng anh ra nằm ngủ ở trên băi cát ngoài bờ biển trong đêm, cho đến khi người lính gác phát hiện và hô hoán lên.
Người ta phải đổ ra đánh thức anh dậy để đưa anh về bệnh xá của quân trường, và phải mất cả một buổi sáng tịnh dưỡng, Nguyễn Trần Long mới trở lại được trạng thái b́nh thường, sau một đêm anh nằm phơi ḿnh trong đêm sương gió lạnh ngoài bờ biển.
Về sau này v́ cùng chung một tiểu đội khóa sinh với nhau, chúng tôi có nhiều thời giờ để cật vấn Long về chuyện lạ lùng đă xảy ra, Long chỉ toét miệng cười:
- Tao cũng như chúng mày đâu có biết chuyện ǵ, cứ ngủ say như chết. Đến khi nghe tiếng người gọi, tao mới biết rằng ḿnh đang nằm ngủ ngay trên băi cát.
Đó mới chỉ là giai thoại lạ lùng đầu tiên xảy ra với Long. Cho măi đến lúc sau này, Long c̣n là người chạm mặt với ma trong nhiều trường hợp khác nữa, kể cả thời gian chúng tôi đă tốt nghiệp, ra trường, được điều động chung với Long về đơn vị, chúng tôi cũng nhờ vậy mà chứng kiến thêm rất nhiều sự huyển hoặc vô h́nh khác.
Trở lại những tháng ngày chúng tôi phải tập tành gian khổ cùng những kỷ luật sắt thép ở quân trường, đối với Nguyễn Trần Long, anh c̣n có nhiều dịp để và chạm với cơi vô h́nh khác nữa.
Những sự kiện này đối với bọn khóa sinh chúng tôi, lúc đầu c̣n kinh ngạc và khiếp hăi, nhưng sau khi đă chứng kiến thường xuyên hơn, lại thỉnh thoảng được cán bộ ṭng sự lâu năm ở quân trường, cho biết một cách xa xôi bóng gió rằng, ở chốn đ́u hiu hút gió này có rất nhiều h́nh thức ma quỷ hiện h́nh quấy phá các khóa sinh thụ huấn.
Lâu dần chúng tôi cũng đỡ được phần nào sợ hăị Nhưng đối với những đứa nhát gan, th́ ma quái hiện ra phá phách trong đêm, vẫn là điều làm cho mọi người phải khiếp sợ.
Nguyễn Trần Long th́ có lẽ bởi anh được lũ ma thiêng tinh nghịch ở quân trường này, nhắm vào để phá phách thường xuyên trong suốt khóa học, cho nên anh tỏ ra tức bực nhiều hơn là sợ sệt. Long thường nói đùa với chúng tôi:
- Thằng nào muốn gặp hay muốn trông thấy ma, chúng mày cứ đi theo tao sẽ gặp liền.
Có người trong bọn khóa sinh hỏi lại Long:
- Gặp ma hoài, mày có ngán không Long?
Long hồn nhiên trả lời:
- Không phải vào quân trường này tao mới có duyên bị ma hiện về phá rối, tao đă gặp ma nhiều rồi, ngay cả dạo trước c̣n ở ngoài dân sự, vào những đêm thức khuya gạo bài thi, ma cũng đến với tao hoài.
Lúc mới đầu th́ tao sợ thật. Nhưng gặp ma măi cũng nhàm. Bây giờ tao khỏi có sợ nữa. Chúng mày không tin tao làm thử cho coi. Cả bọn chúng tôi ngồi yên lặng nghe Long nói chuyện, cũng chẳng biết Long bảo chúng tôi không tin chuyện ǵ. Có người nhanh nhẩu đáp:
- Tin! Tụi tao tin mày chứ! Nhưng như mày vừa nói, mày sẽ làm ǵ với lũ ma vậy Long?
Long cười hềnh hệch:
- Tao chẳng làm ǵ cả, chỉ sẽ dẫn chúng mày đi gặp ma ngay trong quân trường này, để đừng có đứa nào nói rằng tao bịa chuyện. Đứa nào sợ th́ đừng tham dự kẻo lại trách tao.
Long cho mọi người biết rằng:
- Địa thế heo hút của quân trường này hiện có rất nhiều ma. Chúng nó thường xuất hiện nhiều nhất ở các phía nhà bếp, nhà vệ sinh và ngay cả trong khu bệnh xá của quân trường, và ở cả khu bỏ hoang ở sát hàng rào, chỗ bọn ḿnh phải ngủ tạm trong đêm đầu tiên đó, chúng mày c̣n nhớ không. Con ma đă khiêng tao ra ngoài mép biển mà mấy người lính gác đêm đâu có thấy ǵ.
Chúng tôi sẵn đà hỏi tới:
- Sao mày biết có ma ở những chỗ này. Mày đă gặp chúng ở những nơi đó hay sao mà rành quá vậy
Long gật gù:
- Có chỗ tao đă gặp, có chỗ chưa. Nhưng tự nhiên tao linh cảm thấy những chỗ đó thường là chỗ có ma và cũng tự nhiên, tao biết cảm giác của tao không có sai lầm. Thằng nào không tin tao cũng mặc kệ. Nhưng tao dặn trước, hễ nhát gan th́ đừng bao giờ đêm hôm khuya khoắt bén mảng đến những nơi này, không nghe tao bị ma nhát ráng chịu.
Măi về sau khi khóa thụ huấn đă gần xong, chúng tôi chuẩn bị cho ngày lễ măn khóa ra trường. Mối quan hệ giữa tiểu đoàn khóa sinh với các thành phần cán bộ huấn luyện của quân trường, không c̣n nhiều kỷ luật ngăn cách nữa, các cán bộ ở đây đă xác nhận là có rất nhiều ma trong quân trường này, cùng với những hiện tượng khác thường, mà chính Nguyễn Trần Long đă gặp và kể lại.
Khu vệ sinh của quân trường nằm về phía tây, là nơi tương đối rất vắng vẻ cả đêm cũng như ngày, chung quanh hai dăy nhà dài đó, dạo trước có những cḥm cây rừng lâu năm cao lớn và um tùm, nhưng đă được cưa đốn tận gốc rất quang đăng.
Về ban đêm đèn điện được thắp sáng trưng cả trong lẫn ngoài. Tuy nhiên đối với bọn khóa sinh tuy có ngang ngược, nhưng lại cũng rất nhát ma như chúng tôi, mỗi khi phải bắt buộc sử dụng chỗ này về đêm th́ cũng thấy ớn lạnh vô cùng. Cực chẳng đă, chúng tôi mới phải rủ rê đôi ba đứa, mới dám đến đó về đêm. Vậy mà trong khoảng thời gian thụ huấn lâu dài, chuyện ma quái lộng hành phải đến đă đến.
Có lần sau một cuối tuần, khóa sinh được cho giấy phép đi ra ngoài khu dân cư, để giải trí hoặc mua những thứ cần thiết cá nhân. Những lần đi phép cuối tuần này là những lần các khóa sinh quân sự chúng tôi, được tạm thời tự do muốn làm ǵ tùy ư trọn một ngày, cho nên người nào trong chúng tôi cũng đều sung sướng ra mặt.
Người nào cũng có chút ít tiền để mua sắm hoặc ăn uống phủ phê, để bù đắp lại những ngày tù túng và kham khổ trong quân trường. Được ra ngoài ăn uống lung tung mọi thứ, như một lũ đói khát đă lâu, lúc ban chiều trở về trại liền bị cái bao tử nó hành. Và đó chính là dịp để những đứa tham ăn ban ngày, cho dù bây giờ rất sợ, cho dù không muốn đến khu vệ sinh, cũng phải vác xác tới.
Có khi phải trở tới trở lui dến mấy lần vẫn chưa thể chấm dứt nổi những cơn đau bụng quặn thắt, nếu chỉ là một lần th́ may ra c̣n có bạn bè thương t́nh cùng đi, nhưng bị tháo dạ th́ đành phải ôm bụng đi một ḿnh chẳng có người nào cùng đi để bớt sợ. Một khóa sinh đă lâm vào trường hợp này và bị ma nhát đến nỗi phải nằm bệnh viện v́ anh ta sợ quá đến trở thành kinh hoàng mất hồn.
Vào một đêm khuya khoắt, tất cả các doanh trại đang im ĺm bỗng nghe có tiếng rú thất thanh của ai đó phát ra từ khu nhà vệ sinh rồi tắt ngắm. Toán khóa sinh trực tuần pḥng doanh trại ban đêm được lệnh ngay lập tức phải đến chỗ phát ra nơi có tiếng rú để t́m hiểu vấn đề, mới biết rằng có một người khóa sinh đă bị ngất xỉu ngay tại đó.
Anh ta được khiêng ngay về khu bệnh xá để y sĩ trực săn sóc. Vị y sĩ trực cho biết khóa sinh này v́ sợ hăi quá cho nên đă bị ngất xỉu. Phải mất đến gần một tuần lễ tịnh dưỡng, anh ta mới hoàn hồn thuật lại câu chuyện gặp ma như sau:
- Tôi bị bệnh tiêu chảy hoành hành liên tục, nên cực chẳng đă phải lui tới khu vệ sinh đă mấy bận. Lần cuối cùng khi tôi vừa ngẩn mặt lên, sửa soạn bước ra th́ tôi thấy rất rơ một bóng người đă đứng án ngay giữa khung cửa từ lúc nào. Tuy vậy tôi không thể nào nh́n thấy rơ mặt của người đang đứng đối diện, bèn lên tiếng:
- Làm ơn tránh chỗ để tôi đi ra.
Bóng đen không trả lời, nó vẫn thản nhiên đứng lù lù ngay ở trước mặt và tôi bỗng ngửi thấy một mùi xú uế xông ra đến lợm người. Tôi cho rằng đây là một khóa sinh nào đó cũng bị tiêu chảy c̣n nặng hơn cả tôi đến nỗi anh ta không nhịn nổi và đă bĩnh cả ra quần. Tôi nói với anh:
- C̣n thiếu ǵ pḥng sao không chịu đến chỗ khác mà cứ phải dành chỗ này.
Bóng người vẫn không lên tiếng. Nó vẫn đứng lững thững không hề nhúc nhích, khiến tôi vừa chịu hết nổi mùi quá hôi hám vừa bực ḿnh, nên nổi nóng đứng bật lên định đẩy hắn sang một bên để thoát ra ngoài. Nhưng khi tôi vừa đứng được thẳng người lên th́ bóng đen bỗng chiếu thẳng hai tṛng mắt đỏ ḷm nh́n tôi thật kinh dị.
Tôi cảm thấy sự việc khác thường trước hai con mắt đỏ au trên khuôn mặt đen thui, trong bóng tối nhạt nḥa mà tôi không thể nh́n ra được đường nét. Tôi dùng toàn năng lực vào hai cánh tay, định đẩy mạnh bóng người qua một bên.
Bỗng nhiên hai cánh tay và cả thân thể tôi bị chúi mạnh vào khoảng không phía trước mặt, xuyên hẳn qua bóng người, để rồi tôi bị ngă nằm sóng soài trên mặt đất, bên tai tôi c̣n nghe rơ tiếng con ma thở hồng hộc và nó c̣n rít lên những tiếng cười gằn. Tôi sợ quá ngất đi vào lúc đó.
Khóa sinh chúng tôi thường thường đứa nào cũng nghịch ngợm phá phách, hay làm cho các sĩ quan huấn luyện không ngớt ban hành các lệnh phạt hoặc răn đe gay gắt. Mặc dù đă có lệnh về đêm, sau giờ tắt đèn không ai được thức hoặc đi ra khỏi pḥng ngủ, nhưng lúc ban chiều trong giờ cơm, chúng tôi được đề cử thay trong nhà bếp, chúng tôi đă nh́n thấy những chảo cơm cháy ngon lành c̣n để lại.
Và chúng tôi đă có với nhau một quyết định là đêm nay, sau giờ tắt đèn sẽ kéo nhau xuống nhà bếp để cạo cơm cháy ăn chung với đường tán đă có sẵn sẽ ngon tuyệt vời.
Những ai đă từng có mặt ở quân trường vào những ngày cuối năm có đầy gió mùa lồng lộng với cái lạnh cắt da, mà được ăn cơm cháy với đường th́ tưởng không có ǵ thú vị cho bằng. Chính v́ vậy mà chúng tôi bất chấp nghiêm lệnh của quân trường, trong đêm khuya rủ nhau lén lút ḅ về khu nhà bếp để ăn vụng cơm cháy.
Khu nhà bếp cũng có leo lét ánh đèn vàng và lũ tham thực như chúng tôi, ai cũng nh́n rất rơ từng mảng cơm cháy thom tho ngon lành, thay phiên nhau cạy lên ăn lấy ăn để và quả thật, hương vị cơm cháy quân trường ngon đáo để.
Chúng tôi gồm sáu bảy người cứ vậy mà tọng cơm cháy vào miệng, nhai ngấu nghiến ra chiều thích thú vô cùng, ăn cho đến khi miệng nhai đă mỏi với cái bụng no chướng lên, mới lục đục kéo nhau trở về pḥng ngủ cho đến sáng ngày hôm sau, tất cả bị nằm liệt giường không một ai dậy nổi theo lệnh kèn tập thể dục, và sự bê trễ này bị phát giác ngay lập tức.
Cho đến khi cả sáu người chúng tôi được khiêng hết lên bệnh xá để được súc ruột, tẩy uế bao tử v́ cả sáu đứa chúng tôi, mồm miệng ai cũng c̣n dính đầy đất bùn, trong bao tử của mỗi người, các y tá trực cũng cho biết đang chứa toàn bùn đất, nếu không súc ruột kịp thời, hệ thống tiêu hóa của chúng tôi sẽ bị nghẽn và có thể đi đoong.
Đến lúc này chúng tôi mới xanh xám cả mặt mày, v́ biết rằng đă bị lũ ma đánh lừa cho ăn toàn bùn đất, thay v́ ăn đám cơm cháy dư thừa của nhà bếp. Sự kiện lạ lùng này, không ai có thể giải thích được khi mà chúng tôi rơ ràng đă nh́n, đă ăn, và đă thưởng thức tường tận mùi vị thơm ḍn đích thực của cơm cháy.
Sau ngày lễ măn khóa chúng tôi lưu lại quân trường trong một vài ngày, để chờ chiến hạm ra đón đưa về Sài G̣n đi phép măn khóa, trước khi mỗi người chúng tôi chia tay đáo nhậm đơn vị mới, chúng tôi mới được một vài sĩ quan cán bộ tiết lộ cho biết rơ hơn, về t́nh trạng ma cỏ hiện ra lộng hành thường xuyên, không phải chỉ diễn ra trong phạm vi trung tâm huấn luyện Hải Quân Cam Ranh này, mà ngay cả khu rừng góc núi lân cận, những hiện tượng vô h́nh này cũng không phải là họa hiếm.
Giống như có một lần tiểu đoàn khóa sinh chúng tôi, vào những ngày phải tản ra các khu rừng để thao dượt hành quân trên bộ. Vào một buổi chiều nhá nhem tối, chúng tôi ai cũng nh́n thấy giữa sườn núi chênh vênh trước mặt, có một con cọp mẹ cùng với một con cọp con. Cả hai đều có bộ lông màu vàng óng điểm những vằn đen chung quanh.
Cọp mẹ và cọp con thản nhiên ngồi trước một hốc núi không có chiều sâu, nh́n xuống chúng tôi bằng một thái độ b́nh thản vô cùng. Qua ngày hôm sau, chúng tôi được lệnh trở lại thực tập tại nơi này. Nhưng để đảm bảo cho sự an toàn trước những con thú rừng, nhất là trước h́nh ảnh hai mẹ con cọp mà tất cả chúng tôi đă đều nh́n thấy rơ hôm qua, bây giờ phải đi lùng sục để xua chúng đi chỗ khác, đề pḥng con cọp mẹ có thể ŕnh rập hăm hại khóa sinh.
Địa điểm hai con cọp xuất hiện chiều hôm qua được đánh dấu cẩn thận và chúng tôi cảnh giác, tỉ mỉ tiến dần về phía hốc núi đó. Vất vả hồi lâu chúng tôi mới đến được vị trí hai con cọp ngồi hôm qua, nhưng hốc núi th́ không thể nào t́m ra được, chỉ có những phiến đá lạnh ngắt với bề mặt xù x́.
Nhưng nh́n thật kỹ lại thấy có hiện lên những đường nét hài ḥa, ẩn hiện mơ hồ như những nét chữ Hán mà tất cả chúng tôi không ai có khả năng hán tự, để hiểu được những nét chữ cổ kính kỳ lạ này. Mấy ngày sau chúng tôi cũng nh́n lại nơi này, th́ h́nh dạng hốc núi đă đổi khác với những khóm cây xanh mọc phủ đầy, cũng không c̣n thấy dấu vết của hai mẹ con chú cọp xuất hiện như trước nữa.
Khi nhận được sự vụ lệnh thuyên chuyển về phục vụ ở đơn vị mới, một sự ngẫu nhiên đă xảy ra là tôi và Nguyễn Trần Long cùng một người bạn có nghành chuyên nghiệp trọng pháo, anh phải kề cận thường xuyên với những dàn súng lớn nhỏ. Long vào sanh ra tử nhưng tính chất của anh rất can trường, và lúc nào cũng giữ nguyên tánh nết cũ là đùa phá tinh nghịch.
Đơn vị là một giang đoàn biệt lập, tọa lạc tại một tiền giang đèo heo hút gió, ở giữa cánh đồng, xa hẳn làng mạc và những nơi có đông cư dân trú ngụ, do vậy mà cuộc đời lính chiến của chúng tôi không mấy khi tránh được những ngày đêm đơn điệu, buồn tẻ.
Tôi th́ có cây đàn những người khác với thú vui đánh cờ đọc sách. Riêng Long anh đem đến đây được một con mèo để làm bầu bạn. Con mèo với Long là đôi bạn chí thân, lúc nào cũng ở cạnh nhau, kể cả những lúc chiến đấu ở ổ trọng pháo dưới giao thông hào ...
Có một lần Long thoát chết trong đường tơ kẻ tóc cũng nhờ có con mèo, nếu không, chắc chắn mạng sống của Long đă tan tành như một chiếc pháp nổ. Lần đó điễm ra vào lúc chiều tàn. Trời chưa tối hẳn, bỗng nhiên những đạn pháo kích từ đâu bay tới ào ào vào đơn vị. Tiếng c̣i báo động rít lên như muốn xé tan không gian ruộng đồng đang yên lành tĩnh mịch.
Nghe tiếng c̣i báo động hụ lên inh ỏi vào lúc Long đang ngủ mơ mơ màng màng. Anh choàng tỉnh giấc, vơ vội lấy mảnh áo giáp khoác vội lên người định phóng ra thẳng lỗ giao thông hào chiến đấu, nhưng con mèo của Long đột nhiên gào rú lên rất lạ lùng, nó chạy tới chạy lui dưới chân Long, làm cho những bước chân của Long bị vướng vít đâm ra chệnh choạng suưt ngă. Anh bực bội la toáng lên với con mèo như nói với một người bạn:
- Kêu ca cái ǵ không biết nữa! Mày không nghe thấy tiếng pháo kích um sùm đó hay sao. Tránh chỗ mau để tao ra giao thông hào không thôi bị nhốt bây giờ.
Con mèo dường như không nghe Long nói ǵ cả, nó tiếp tục quẩn bước dưới chân anh, khiến cho Long loạng choạng suưt đạp lên lưng nó, con mèo vội vă nhảy tránh rồi phóng một cái ào lên cái kệ gỗ đóng ở trên cao, nơi Long để đủ hết mọi thứ lung tung xà bần, nào chén đũa gà mên, sách vở khiến cho tất cả những vật dụng đang để trên cái kệ bị hất tung cả xuống đất.
Trong khi Long chợt nhớ ra rằng, trên đầu của anh chưa có cái nón sắt dùng để bảo vệ an toàn trong lúc tác chiến. Long quày gót xoay người trở vào góc chiếc giường vải, vơ lấy cái nón chụp vội lên đầu rồi bất chấp con mèo đang làm bước chân anh trở nên vướng vít, Long phóng như bay ra cửa về phía ổ đại pháo ở dưới giao thông hào.
Bất th́nh ĺnh một tiếng rít xé gió từ xa tiến tới, theo sau là một tiếng nổ long trời. Viên đạn pháo kích vô t́nh rớt trúng ngay cỗ trọng pháo của Long ở dưới giao thông hào, bứng hổng cả bộ chân của ổ súng nặng nề tung thẳng lên cao. Nếu không nhờ có con mèo làm chướng ngại, chỉ cần sớm hơn chưa đầy vài chục giây đồng hồ, chắc chắn Long đă cùng chung số mạng với ổ trọng pháo vô tri.
Trận pháo kích chấm dứt, nh́n h́nh ảnh cỗ súng bị bứng nổ tung tận gốc, rồi liên tưởng đến mạng sống c̣n lại của ḿnh chỉ trong ṿng gang tấc, nhưng nhờ có linh cảm của con mèo, nó tạo ra những trở ngại để cho Long được thoát chết. Long bùi ngùi ôm chặt con mèo vào trong ḷng ngực của ḿnh, như đang ôm một đứa con yêu quư với tất cả ḷng tŕu mến biết ơn con vật linh thiêng...
Chuyện ma đời lính chiến cứ lần hồi xảy đến với Long như một thói quen rất lạ lùng. Vào một lần hành quân tảo thanh phối hợp với các đơn vị khác, Long đă chứng kiến thêm những hiện tượng huyền bí đến không thể nào giải thích được.
Một người thuộc hàng ngũ bên kia, sau khi bị quân ta truy quét đến đường cùng thất trận, anh ta bị trọng thương nặng nề, hơi thở chỉ c̣n thoi thóp, trong lúc toán hành quân chúng tôi cấp báo gọi trực thăng vận để đưa anh ta về điều trị tại Tổng Y Viện. Nhưng khi trực thăng đến nơi th́ người lính bên kia đă trút hơi thở cuối cùng.
Trước khi bàn giao xác chết của anh ta cho đội mai táng, chúng tôi và Long có lục soát tư trang của anh ta để may ra có thể t́m thêm được tài liệu ǵ khác nữa, chúng tôi không t́m thấy ǵ khác ngoài chút ít lương khô ăn dở dang với một cuốn sổ nhỏ và dày, anh ta đă viết đầy những trang chi chít chữ. Long cất cuốn sổ nhỏ đó trong bao công văn cá nhân, để về nộp lại cho ban an ninh khai thác. Ngay sau đó, trực thăng đă bốc cái xác cứng lạnh của anh ta đem về trung ương mai táng.
Buổi chiều đến đơn vị của chúng tôi có tổ chức một tiệc liên hoan nhỏ, để cho các chiến hữu có dịp tṛ chuyện hợp mặt. Chúng tôi đang quây quần bên nhau với chút men rượu đang ngà ngà say, th́ cả bọn đều nh́n thấy rơ ràng người lính bên kia đă bị chết ban chiều. Anh ta hiện ra ngay trong bữa nhậu và sừng sộ, chỉ thẳng vào mặt Long để đ̣i lại cuốn sổ nhật kư theo lời tiết lộ của anh ta. Anh ta nh́n cḥng chọc vào mắt Long và nói:
- Mấy người bắn chết con người ta rồi ngồi đó mà nhậu nhẹt b́nh thản như chẳng có chuyện ǵ th́ thật là vô tâm quá sức. Nhưng điều đó cũng chẳng hệ trọng ǵ v́ số phần của ta bắt buộc phải chết như vậy.
Nhưng ta xin các người hăy bỏ qua ranh giới ư thức hệ, giúp đỡ cho ta một điều, đó là hăy gởi trả lại cho người con gái mà ta từng yêu thương trong suốt những năm trường, nhưng ta chưa được trở về cưới nàng làm vợ th́ số phần ta đă măn.
Các người hăy cố gắng giúp ta. Cuốn sổ đó đang được cất giữ bởi người này. Hồn tên du kích đưa tay chỉ đúng vào mặt Long, khiến cho anh bủn rủn cả tay chân, trong khi nhiều người khác vẫn không hề hay biết rằng Long đang cất giữ cuốn sổ nhật kư t́nh yêu này.
Hồn ma lơ lửng một lúc th́ từ từ nhạt nḥa tan biến vào màn đêm, mất hút với những lời nói văng vẳng sau cùng:
- Chỉ một điều nhỏ nhặt đó mà thôi. Ta cám ơn các người...
Chúng tôi hết đưa mắt nh́n nhau đến nh́n về phía Long, như đợi chờ ở anh một điều xác định. Cuối cùng Long nói:
- Điều tất cả chúng ta vừa nghe là sự thật đó. Lúc chiều tôi có nhận lệnh lục soát tư trang của người lính này, và đă t́m thấy một cuốn sổ nhỏ, chưa kịp nộp lại cho ban an ninh, th́ hồn kẻ chết đă tức khắc trở về nhắc nhở và xin được giúp đỡ.
- Vừa nói Long vừa tḥ tay vào ba lô cá nhân lấy ra cuốn sổ nhỏ nhàu nát giơ lên cho mọi người cùng thấy. Long hỏi ư kiến mọi người:
- Ư của hồn ma muốn ḿnh gửi về cho người yêu của hắn. Nhưng chúng ta biết gửi về đâu bây giờ?
Long vô t́nh để cuốn sổ lên mặt bàn và chưa nói hết câu, th́ một cơn gió từ bên ngoài thổi vào lật tung từng trang giấy đến chỗ gần cuối th́ gió ngưng, cuốn sổ mở ra như cố t́nh để cho mọi người có thể nh́n thấy tên họ và ngay cả địa chỉ của người con gái, mà hồn thiêng anh ta muốn chúng tôi gửi đến:
“Lưu Thị Sang số nhà 198/11 đường Xóm Chùa. Ấp Ba. Xă An Phước. Huyện Cai Lậy”.
Ngày hôm sau, mọi chuyện xảy ra đă được Long tŕnh lên ông đơn vị trưởng và ban an ninh của đơn vị. Nhân viên hữu trách cũng không quên xem xét thật kỹ càng từng trang giấy với những hàng chữ viết tay nguệch ngoạc với những lời lẽ, tâm sự yêu thương rất chân thật và chí t́nh.
Cũng có những đoạn anh ta tự trách ḿnh không đủ can đảm rời xa hàng ngũ chiến đấu để trở về làng xưa xóm cũ sống đời b́nh thường bên cạnh mối t́nh mà anh ta ấp ủ tôn thờ. Anh ta chỉ hứa hẹn một ngày nào ḥa b́nh sẽ trở về hạnh ngộ bên người yêu. Nhưng mộng ước cuồng ngông đó đă chẳng kịp thành, người lính này đă hóa ra người thiên cổ.
Thời gian sau đó, chúng tôi có dịp nhắc lại chuyện này với một nhân viên an ninh phụ trách để gởi cuốn sổ, được người này cho biết như sau:
- Tên tuổi và địa chỉ của người con gái tên Lưu Thị Sang đều chính xác. Cô ta đă nhận được cuốn sổ của người chết và có vẻ rất đau khổ trước một mối t́nh bị đứt gánh giữa đàng.
Có một lần Nguyễn Trần Long bị đau bịnh trầm trọng. Anh ta được chuyển về bệnh xá quân y để chữa trị. Vào một đêm, anh ta lần ṃ xuống pḥng y tá trực để gọi điện thoại về nói với chúng tôi:
- Tao vừa nh́n thấy thằng Đắc hiện về với hai cánh tay của nó cụt hẳn v́ bị đạn cắt mất.
Lúc đó đơn vị của chúng tôi đang trong những ngày diễn tiến hành quân. Người lính trẻ tên Đắc vẫn c̣n đang chiến đấu bên các đồng đội và chưa trở về v́ cuộc hành quân chưa chấm dứt. Nghe Long báo tin dữ, chúng tôi vội nạt nộ anh ta:
- Đừng nói tầm bậy Long à! Ông xếp nghe được là mày lănh 10 ngày trọng cấm đó nghe em.
Nó gân cổ nói to trong máy:
- Tao thấy sao nói vậy, chứ nào biết được thực hư nên mới gọi về cho chúng mày để xem sự thể ra sao. Tao đâu có ư xấu ǵ mà đ̣i nhốt với chả nhốt.
Chúng tôi trấn an Long:
- Chắc mày thích cô em gái thằng Đắc nên lo lắng cho nó rồi thành tưởng tượng đó thôi! Hăy an tâm dưỡng bệnh, thằng Đắc trở về, chúng tao sẽ bảo nó gọi điện thoại thăm mày ngay!
Long miễn cưỡng cúp máy nhưng anh có vẻ c̣n hậm hực, không hoàn toàn bằng ḷng với sự trấn an của chúng tôi. Ngay trong đêm đó, pḥng hành quân đơn vị nhận được công điện báo cáo tổn thất, trong đó có tên Huỳnh Tất Đắc đă bị trúng đạn tử thương, cụt mất cả hai cánh tay. Xác anh đă được trực thăng chuyển thẳng về Tổng Y Viện để chờ đợi thân nhân đến nhận xác.
Một lần khác, chúng tôi cùng với Long đổ bộ truy lùng tông tích của kẻ địch, v́ quá hăng say t́m kiếm nên cánh quân chúng tôi bị mất phương hướng, lạc sâu trong một cánh đồng lầy, loanh quanh gần hết đêm mà vẫn không thể nào ṃ mẫm ra được đường về ...
Cả toán đang điên đầu họp bàn t́m ra phương hướng th́ Long dơng dạc đứng lên:
- Chúng mày khỏi phải t́m ṭi chi nữa, cứ đi theo hướng tao chỉ, bảo đảm sẽ về đến...nhà.
Lúc đầu chúng tôi c̣n ngần ngừ không chịu tin theo lời của Long nói, nhưng sau nhiều tiếng đồng hồ ngụp lặng b́ bơm trong những đám cỏ lau lách śnh lầy, đường ra vẫn không t́m thấy. Cuối cùng đành bảo nhau dấn bước theo hướng chỉ đạo của Long. Nhờ vậy, chỉ có chừng nửa tiếng đồng hồ sau, chúng tôi đă bắt liên lạc truyền tin được với bộ chỉ huy và t́m ra được điểm hẹn để trở về.
Chúng tôi hỏi Long làm sao anh ta biết và chỉ đúng được phương hướng để trở về trong an toàn, và c̣n tránh được những bẫy ḿn chông của địch chôn dấu chằng chịt như mắc cửi. Long cho biết như sau:
- Tao chẳng có tài cán ǵ, cũng mù tịt như chúng mày vậy thôi. Nhưng lúc bấy giờ, bỗng nhiên trong đầu của tao cứ thoáng nh́n thấy khuôn mặt mờ nhạt với đôi mắt của người em gái của tao, đă mất cách nay ba bốn năm ǵ đó. Đôi mắt của em gái tao lúc đầu c̣n ẩn hiện lờ mờ, về sau càng lúc càng hiện ra thật rơ, thật lâu.
Tao thử nhắm mắt lại để xua đuổi ảo giác đó trong lúc cả bọn chúng ḿnh đang tứ bề lâm nguy, th́ đôi mắt của em gái tao lại cứ trừng trừng nh́n tao như muốn khiển trách, rồi lại nh́n về một phía như bảo tao bắt buộc phải đi theo.
Việc đó xảy ra khá lâu và có lúc tao đă chống lại, bước chân quay về hướng khác th́ ánh mắt trở nên dữ tợn và sáng quắc nh́n tao như một sự răn đe, tao xoay hướng bước theo th́ ánh mắt em tao ngay lập tức dịu lại b́nh thường. Giờ chúng ḿnh được yên ổn, tao mới nhận ra rằng vong linh người em gái chết yểu của tao linh thiêng vô cùng, đă bao nhiêu lần nó cứu tao thoát chết.
Đời lính chiến của chúng tôi sau đó bị ră ngũ tản hàng, cuộc di tản khổng lồ làm chúng tôi mỗi người phiêu bạt về mỗi nẻo, nhưng đều gặp nhau lại ở đảo Guame, tôi với Long cùng một lúc được bốc thẳng đến định cư tại Hoa kỳ.
Nguyên Hà
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1010 of 2534: Đă gửi: 12 November 2008 lúc 6:30pm | Đă lưu IP
|
|
|
CÂY TẦN B̀
Ai đă từng đi qua miền đông nước Anh đều biết những ngôi nhà thôn quê nho nhỏ rải rác khắp nơi: những ngôi nhà khá ẩm thấp thường xây theo kiểu Ư, bao quanh là công viên độ tám mươi đến một trăm mẫu tây.
Đối với tôi bao giờ chúng cũng có sức hấp dẫn mạnh mẽ, cái hàng rào xám bằng những thanh gỗ sồi, các cây cao quư phái, ao hồ với thảm lau sậy, xa xa là cánh rừng. Tôi cũng thích cái cổng có cột chống, có lẽ dính liền vào một ngôi nhà gạch đỏ xây từ thời nữ hoàng Anne, mặt trước trát vữa, khiến nó sánh được với phong cách Hy Lạp cuối thế kỷ mười tám.
Bên trong là sảnh cao lên tận mái nhà có cái hành lang chạy quanh với một chiếc đàn organ nhỏ. Tôi cũng thích cả thư viện của nó trong có từ Thánh Kinh thế kỷ mười ba, đến tác phẩm của Shakespeare in giấy khổ bốn.
Dĩ nhiên tôi thích cả những bức tranh phần lớn h́nh dung cuộc sống trong những ngôi nhà ấy lúc mới xây, thời đă có ống dẫn nước, chủ đất đă khá giả, và ngay cả bây giờ, nhiều tiền nhiều thị hiếu khác nhau, cuộc sống nhiều thú vị. Bản thân tôi cũng muốn có một ngôi nhà như vậy ở thôn quê. Và đủ tiền bảo tŕ nó, thỉnh thoảng đưa bạn bè đến vui chơi một cách khiêm tốn.
Nhưng tôi lạc đề mất rồi. Tôi có nhiệm vụ phải kể các bạn nghe những chuyện xảy ra trong một ngôi thái ấp giống như thế. Đó là Castringham Hall ở vùng Suffolk.
Từ thời có câu chuyện kể của tôi đến nay, ngôi nhà đă được sửa chữa nhiều lần, nhưng những nét chính tôi mô tả trên kia th́ vẫn vậy, cổng kiểu Ư, bốn khối nhà màu trắng, trong nhà cổ hơn ở ngoài, công viên được bao quanh bởi một dải đất có nhiều cây to, và có cái ao.
Vẻ khác biệt với hàng tá ngôi nhà khác không c̣n. Nh́n từ phía công viên vào, bạn sẽ thấy một cây tần b́ cổ đại mọc cách tường độ sáu mét, cành lá gần như chạm vào nhà. Tôi cho là nó đă mọc ở đó kể từ thời ngôi nhà không c̣n là một pháo đài, hào chung quanh được lấp đi, nhà xâytheo kiểu thời nữ hoàng Elizabeth. Kiểu ǵ th́ nhà cũng gần bằng kích thước hồi năm 1690.
Trong cái năm kể trên, trong vùng ngôi nhà toạ lạc, có nhiều vụ xử án các mụ phù thuỷ. Chắc c̣n rất lâu ta mới có thể đánh giá đúng các lư do nếu có, nằm tận gốc rễ nỗi sợ phù thuỷ của toàn thế giới.
Cũng có thể những người bị kết tội thực sự cho rằng, họ có quyền lực bất thường, hoặc giả ít nhất không có quyền, th́ cũng có ư chí gây chuyện ác độc cho hàng xóm, hoặc giả nhiều lời thú tội bị những kẻ tàn ác đi săn lùng phù thủy bẻ quẹo đi. Tôi cho là có rất nhiều vấn đề chưa giải quyết được.
Chuyện kể sau đây làm tôi bối rối, không thể hoàn toàn cho là chuyện bịa đặt. Xin được để độc giả tự đánh giá.
Catringham đă cống hiến một nạn nhân cho việc bị kết tội hoả thiêu. Tên bà này là Mothersole, khác với các bà phù thuỷ trong các làng khác chỉ ở chỗ sống sung túc hơn, và có vị trí gây ảnh hưởng nhiều hơn.
Các trại chủ trong giáo khu t́m hết cách gỡ tội cho bà, cố hết sức chứng thực tính cách bà và khá lo lắng cho sự tuyên án của Toà. Nhưng tai hoạ chết người cho bà, lại do chứng cứ mà ông chủ Castringham Hall nêu ra, ông Mathew Fell.
Ông khai đă nhiều lần từ cửa sổ nh́n vào đêm trăng sáng, thấy bà "tỉa những cành con của cây tần b́ gần ngôi nhà". Bà trèo lên các cành cây, mặc mỗi chiếc áo sơ mi, cắt những cành nhỏ với một con dao cong rất đặc biệt, miệng lẩm bẩm cái ǵ đó.
Lần nào ngài Mathew cũng t́m cách bắt lấy bà ta nhưng chỉ một tiếng động nhỏ của ông, bà biết ngay vội vàng trèo xuống, chạy rất nhanh về phía làng.
Đêm thứ ba chạy theo không kịp, ông đến tận nhà bà Mothersole, đập cửa đến mười lăm phút mới thấy bà ta ra, rất giận dữ và có vẻ buồn ngủ như vừa mới ra khỏi giường, thành ra chẳng biết giải thích việc đến thăm của ḿnh như thế nào.
Chủ yếu dựa vào chứng cứ này, tuy các thành viên trong giáo khu c̣n đưa ra nhiều điều không đáng chú ư bằng, bà Mothersole đă bị kết tội chết. Toà xử được một tuần th́ bà bị treo cổ cùng sáu người không may nữa, ở Bury St Edmunds.
Ngài Mathew Fell lúc đó là phó Quận trưởng, chứng kiến cuộc hành h́nh. Hôm đó là một sáng tháng ba sương mù ẩm ướt, xe ḅ leo dốc lên ngọn đồi mọc cỏ dại ở bên ngoài Northgate nơi có giá treo cổ. Những nạn nhân khác trông hờ hững hoặc vô cùng đau khổ, riêng bà Mothersole, sống cũng như chết, lại trong tâm trạng khác hẳn.
"Nỗi giận dữ như thuốc độc của bà, theo một phóng viên nói lại, đă ảnh hưởng lớn đến những người đứng xem, ngay cả người phụ trách việc treo cổ, và về sau những người này cũng khẳng định bà thể hiện h́nh ảnh sống của một mụ điên.
Mặt không chống đối người thi hành pháp luật, bà nh́n những bàn tay chạm vào người bà với vẻ nham hiểm và ác độc đến mức, một trong số họ sau này bảo đảm với tôi rằng, c̣n sợ hăi trong người đến sáu tháng sau mỗi khi nhớ lại".
Tuy nhiên nghe nói là, bà ta đă nói những lời có vẻ vô nghĩa như sau:
"Khách sẽ tới thăm ngôi nhà"
Những lời này được khe khẽ nhắc đi nhắc lại mấy lần. Ngài Mathew Fell không phải là không cảm động trước thái độ của người đàn bà. Ông nói chuyện với cha xứ, sau đó cùng cha đi về nhà khi việc hành quyết đă xong.
Thực ra ông cũng chẳng tự nguyện ra làm chứng trước toà, ông chẳng thấy chứng mê săn lùng phù thuỷ là việc ḿnh bị nhiễm phải, về sau ông có nói đưa chứng cứ như vậy ông chẳng được tiếng tốt nào, biết đâu ông có thể nhầm về những ǵ ḿnh nh́n thấy.
Ông ghê tởm toàn bộ chuyện này, ông vốn thích có quan hệ vui vẻ với mọi người, sở dĩ ông làm như vậy chỉ bởi bốn phận. Có lẽ đó là lư do theo như t́nh cảm ông, khiến cho cha xứ tán thưởng cũng như những người có hiểu biết nghĩ vậy là phải.
Vài tuần sau đúng vào ngày trăng tṛn của tháng năm, cha xứ và nhà điền chủ nông thôn gặp nhau tại công viên và cùng đi vào thái ấp.
Phu nhân Fell đang ở nhà bà mẹ ốm nặng, ông Fell ở một ḿnh, v́ thế cha xứ, ông Crome và ông Fell dự định ăn bữa tối cùng nhau tại thái ấp.
Ông Mathew tối hôm ấy có vẻ không thích chuyện tṛ mấy, câu chuyện chủ yếu xoay quanh những gia đ́nh trong giáo khu, và cũng may, ông ngồi viết một bản ghi nhớ về các ư định muốn thực hiện trong lănh địa của ḿnh, sau này nó tỏ ra vô cùng ích lợi.
Khi ông Crome định ra về lúc chín giờ rưỡi, th́ ngài Mathew cùng ông đi dạo trên con đường rải sỏi sau ngôi nhà. Ông Crome bị sự kiện tác động mạnh: tới chỗ cây tần b́, mà tôi tả là mọc gần ngôi nhà, th́ ông Mathew dừng lại bảo:
- Có con ǵ cứ chạy lên chạy xuống trên cây như con sóc ấy nhỉ? Giờ này chúng phải về hang cả rồi chứ?
Cha xứ nh́n lên cây xem con vật đang di động đó như thế nào, nhưng không rơ màu sắc của nó dưới ánh trăng. Tuy nhiên vẫn nh́n rơ h́nh, óc ông c̣n nhớ lắm, ông thề rằng, tuy hơi điên, chẳng biết có phải con sóc hay không nhưng nó có nhiều hơn bốn chân…
Lúc đó nh́n th́ chỉ biết vậy, hai người đàn ông chia tay nhau, hàng hai chục năm sau mới gặp lại.
Sáng hôm sau sáu giờ vẫn chưa thấy ông Fell xuống dưới nhà như lệ thường, bảy giờ, tám giờ cũng không. Đầy tớ lên gơ cửa pḥng ngủ của ông, nghe ngóng rồi gơ măi, cuối cùng đành mở cửa ra, họ thấy ông chủ đă chết xám đen. Hẳn bạn cũng đoán được. Không có dấu vết của bạo lực. Cửa sổ mở toang.
Một người đầy tớ đi t́m cha xứ, nhờ chỉ đường đi t́m cảnh sát tư pháp. Ông Crome th́ lập tức tới thái ấp ngay và được đưa vào gian pḥng người chết nằm. Về sau ông này có để lại vài tờ giấy tỏ ḷng thực sự kính trọng và tiếc thương ông Mathew Fell, trong đó có đoạn sau đây soi sáng phần nào sự kiện xảy ra và suy nghĩ chung của mọi người:
"Không có dấu hiệu dùng vũ lực đột nhập vào gian pḥng, nhưng cửa sổ th́ mở như mùa này bạn tôi vẫn để ngỏ. Ông có uống không hết một phần tư lít rượu táo để trong chiếc cốc bằng bạc.
Ông Hodgkins, bác sĩ ở Bury đă khám nghiệm chỗ rượu c̣n lại, và tuyên thệ theo yêu cầu của cảnh sát tư pháp, trong đó không có chất độc. V́ dĩ nhiên quanh đó người ta nói đến độc tố v́ thấy xác ông đen và trương lên. Cơ thể nằm trên giường, chăn nệm lộn xộn, chứng tỏ đă quằn quại đau đớn nhiều trong lúc hấp hối.
Có điều tôi không lư giải được cho cuộc ám sát dă man khủng khiếp này, là hai người đàn bà được giao đem thây người chết ra lau rửa, hai người này vốn chuyên nghiệp về công việc nhà đ̣n đám ma, đến chỗ tôi, rất buồn phiền lộ vẻ đau đớn, giơ hai bàn tay chạm vào ngực xác chết, ra cho biết ḷng bàn tay họ và mặt trước cánh tay bị đau ghê gớm, nỗi đau c̣n kéo dài nhiều tuần lễ, phải bỏ việc, tuy trên da không sao.
Nghe vậy tôi bèn mời ông bác sĩ vẫn c̣n ở trong nhà ra. Chúng tôi dùng kính lúp soi trên da ở ngực tử thi, không thấy ǵ quan trọng nhưng có nhiều vết chấm, chúng tôi kết luận đây là nơi độc tố được đưa vào và nhớ lại chiếc nhẫn của Pope Borgia, là dụng cụ đưa độc tố vào của tay đầu độc người Ư thế kỷ trước, trong thứ nghệ thuật kinh hăi của ông ta.
Chỉ có vậy về mặt triệu chứng trên tử thi. Đây chỉ là kinh nghiệm riêng của tôi, thế hệ sau sẽ đánh giá xem có ǵ là giá trị hơn không. Trên bàn cạnh giường ngủ có một quyển Kinh Thánh nhỏ mà bạn tôi đều đặn dùng mỗi đêm, mỗi sáng sớm dậy ông cũng đọc một đoạn định sẵn.
Tôi cầm lên không khỏi nhỏ một giọt nước mắt thích đáng, thương cho cái bản phác hoạ đơn giản này nay đang bị chuyển sang sự chiêm ngưỡng, bản Kinh Thánh vĩ đại nguyên thủy. Chợt tôi có ư nghĩ, trong những giờ phút mà ta vô kế khả thi như thế này, ta có xu hướng dùng những tia le lói để t́m ra ánh sáng.
Do đó tôi đă dùng biện pháp được coi là duy tâm để thử một kiểu rút thăm: Như trong trường hợp Đức Vua Tử v́ Đạo, King Charles và chúa công Falkland người ta đă lấy làm ví dụ mà nay c̣n nhắc tới.
Tôi phải thừa nhận thử nghiệm này không giúp được ǵ cho tôi cả, tuy nhiên biết đâu sau đây có thể Nguyên nhân và Nguồn gốc của những sự kiện hăi hùng này sẽ được t́m ra. Tôi cứ đưa kết quả ra đây, biết đâu chúng chỉ ra hướng của tội ác một cách thông minh hơn tôi.
Tôi làm tất cả ba thử nghiệm, mở cuốn Kinh Thánh ra đặt ngón tay vào một số chữ nào đó, lấy ra những chữ đầu, ở chỗ Luke XII I7 chặt nó đi, lần hai Isaiah XIII 20, không ai được ở đấy nữa, lần ba Job XXVIII 30: con cái nó cũng bị hút hết máu. Đó là những lời trích dẫn từ giấy tờ ông Crome để lại.
Ông Mathew Fell được cho vào quan tài đem chôn, lời giảng kinh của cha Crome trong lễ an táng Chủ nhật sau đó được in dưới đầu đề "Một phương thức không thể t́m ra được, hoặc Nỗi nguy hiểm nước Anh và Những cách thức xảo quyệt của việc chống lại Chúa".
V́ theo quan điểm của cha xứ cũng như của hàng xóm láng giềng, vị quư tộc điền chủ nông thôn là nạn nhân của sự trở lại, của những âm mưu theo kiểu đầu độc Giáo hoàng.
Con trai ông Fell là Sir Matthew II thừa kế tước vị và lănh địa của cha. Đến chấm dứt phần đầu của tấm thảm kịch Castringham. Cũng nên nhắc tới việc ngài Nam tước mới không ở căn pḥng cũ của cha ḿnh nữa, vậy cũng phải thôi. Cũng chẳng ai ngủ trong đó trừ một vị khách vô t́nh đi qua ở lại.
Ông chủ ở thái ấp Sir Matthew II mất năm 1735, nơi này không xảy ra chuyện ǵ đối với ngoại trừ việc trâu ḅ lợn gà chết ngày một nhiều, sau c̣n có xu hướng tăng dần lên. Người nào lưu ư tới chi tiết chuyện này có thể đọc bảng thống kê số liệu súc vật nuôi, của ngài nam tước viết trong thư gửi tờ tạp chí Người Phong Lưu 1772.
Ông chấm dứt việc trâu ḅ chết nhiều bằng cách ban đêm dồn hết chúng vào chuồng khoá kỹ, cừu không thả tự do ngoài công viên nữa. V́ ông nhận xét ở trong chuồng không con vật nào bị tấn công. Sau đó chỉ các chim rừng và thú vật hoang dă bị hại, không ai biết ǵ về triệu chứng tử nạn của các con thú hoang này, cho người canh suốt đêm th́ lăng phí vô ích, tôi không muốn đi sâu thêm vào cái mà các trại chủ ở Suffolk gọi là "căn bệnh của Castringham".
Sir Matthew II mất năm 1735, được con trai là Sir Richard thừa kế. Sir Richard cho xây khu ghế ngồi riêng của gia đ́nh, ở bên ngoài nhà thờ giáo khu về mạn bắc, v́ khá rộng nên theo ư ông quư tộc điền chủ nông thôn này, cần dời đi một số ngôi mộ nằm trong khu của những kẻ vô đạo, trong đó có mộ của bà Mothersole, địa điểm ngôi mộ này sở dĩ biết được chính xác, là do trong số giấy tờ ông Crome để lại có bản đồ nhà thờ và sân nhà thờ.
Khi biết mộ bà phù thủy được khai quật, th́ trong làng một số người c̣n nhớ bà ta có bị kích động đôi chút. Và ai cũng lấy làm lạ lo lắng nữa, khi trong quan tài dù gỗ rất chắc chắn, không bị vỡ nứt, không hề thấy vết tích xác chết đâu, dù là xương hay bụi. Quả là hiện trường kỳ quặc, thời đem chôn bà chưa có chuyện người chết sống lại, mà h́nh dung việc xác chết bị lấy cắp đem cho viện giải phẫu để phẫu tích lại càng khó hơn.
Hiện tượng này gợi lại một thời gian có những câu chuyện về phiên toà xử phù thuỷ, về chiến công của các bà này mà người ta lâu nay đă quên lăng. Ông Richard cho đem đốt quan tài, dù nhiều người nghĩ là điên.
Rơ ràng ông Richard là một nhà sáng chế phát minh đến là khó chịu. Trước thời ông, ngôi nhà thái ấp bằng gạch đỏ là một khối nhà dễ thương nhất, nhưng v́ ông du lịch qua Ư bị nhiễm thị hiếu Ư, và v́ có nhiều tiền hơn cha và ông, ông biến ngôi nhà thôn quê Anh thành một lâu đài kiểu Ư.
Vữa và đá khối che lấp hết gạch, một vài tấm đá hoa cương Ư đứng thờ ơ nơi vào gian sảnh và ngoài vườn, một ngôi đền sao chép kiểu Sibyl ở Tivoli dựng ngay bên bờ ao. Castringham mang một vẻ hoàn toàn mới, tôi phải nói là nom nó không được duyên dáng như trước, nhưng được nhiều người trầm trồ thán phục và trở thành kiểu mẫu cho các quư tộc nông thôn bắt chước trong nhiêu năm về sau này.
Một buổi sáng vào năm 1754, ông Richard tỉnh dậy sau một đêm không thoải mái chút nào. Trời gió, ống khói ḷ sưởi phả khói liên tục, trời lạnh nên phải đốt ḷ sưởi trong nhà. Đă thế cái cửa sổ cứ kêu lạch cạch không để cho người ta yên.
Triển vọng chiều nay khách khứa sang trọng đến chơi đông đấy, nếu trong lúc tiến hành các tṛ chơi mà ông cứ liên tục có cảm giác khó ở thế này, sẽ ảnh hưởng đến danh tiếng của ông, vốn được coi là người chịu khó duy tŕ việc tổ chức các tṛ chơi.
Điều làm ông chán ngán nhất lại là chuyện khác cơ trong cái đêm mất ngủ. Ông không thể tiếp tục ngủ trong căn buồng này được. Trong bữa ăn sáng, ông cứ nghĩ măi về chuyện này, thành ra ăn sáng xong ông đi thăm một cách có hệ thống tất cả các pḥng, để xem pḥng nào theo ông là tốt nhất.
Măi mới t́m ra được một pḥng, có cửa sổ quay ra phía đông và cửa sổ quay ra phía Bắc, cửa phía Bắc này đầy tớ luôn qua lại nên không thích lắm. Ông muốn nó nh́n ra phía Tây để mặt trời khỏi đánh thức ông dậy sớm quá, và không bị quấy rối bởi các hoạt động buổi sáng ở trong nhà.
Người giữ nhà cho biết chỉ có một pḥng đạt được yêu cầu ấy.
- Là pḥng nào vậy?
Ông Richard hỏi.
- Pḥng của ngài Mathew trước đây vốn được gọi là Tây Pḥng.
- Thế th́ chuyển buồng ngủ của tôi sang đấy, tối nay tôi ngủ ở đấy.
Ông chủ nói.
- Đi lối nào nhỉ, à đây rồi.
Và ông vội vă đi.
- Nhưng thưa ngài Richard, đă bốn mươi năm nay không ai ngủ ở đấy cả. Từ ngày ngài Mathew qua đời không khí gian pḥng đă đổi khác.
Vừa nói bà ta vừa rượt theo chủ.
- Nào bà Chiddock, mở khoá ra ít nhất tôi muốn xem pḥng ra sao đă.
Thế là cánh cửa được mở ra, gian pḥng xông lên mùi không khí tù hăm ẩm mốc. Ông Richard tiến ra phía cửa sổ và nóng ḷng mở tung các cửa chớp cửa sổ. Nơi này, ở cuối ngôi nhà, sự sửa chữa bấy lâu nay không hề động chạm tới, lại bị cây tần b́ um tùm che khuất.
- Bà Chiddock, thông khí gian pḥng này cho tôi, mở cửa cả ngày vào, đưa đồ đạc pḥng ngủ của tôi sang đây. Pḥng cũ của tôi để cho linh mục Kilmore nằm.
Tự nhiên có tiếng nói ở đâu ngắt lời ông:
- Xin cho tôi hầu chuyện ngài một lát được không ạ?
Ông Richard quay người lại thấy một người mặc đồ đen, đứng ở ngưỡng cửa đang cúi chào ḿnh.
- Xin thứ lỗi cho tôi đă đột ngột vào đây, ngài không nhớ tôi đâu, tên tôi là William Crome, ông nội tôi là cha xứ cùng thời với ông nội của ngài.
- Phải. Cái tên Crome bao giờ cũng là tấm hộ chiếu để vào Castringham này. Tôi rất vui được nối lại quan hệ của hai thế hệ sau. Tôi giúp ǵ ông được đây? Ông có vẻ hơi vội và vào giờ này…
- Đúng vậy tôi đă phi ngựa suốt từ Norwich để tới Bury St Eđmunhs, chỉ dừng lại đây để trao cho ngài một số giấy tờ, ông nội tôi đă để lại khi qua đời, theo tôi có liên quan đến gia đ́nh ngài.
- Cám ơn ông quá.
Ông Richard nói:
- Xin mời ông ra pḥng khách uống chén rượu, ta cùng xem các giấy tờ đó với nhau được không. C̣n bà, bà Chiddock, thông khí gian pḥng này như tôi đă bảo…Phải đây là nơi ông nội mất. Phải cái cây có lẽ làm cho nơi này khá ẩm thấp. Không tôi không muốn nghe nữa, bà làm ǵ th́ làm đi. C̣n ông xin theo tôi.
Họ vào pḥng đọc. Ông Williams Crome, người trở thành một thành viên trong Ban lănh đạo của Clare Hall Cambridge, vừa cho xuất bản một quyển Polyaenus giá trị, đă mang theo một cái gói trong đó có các ghi chép của cha xứ ông nội liên quan đến cái chết của Sir Matthew Fell.
Vậy là lần đầu tiên Sir Richard đối mặt với việc bói Kinh Thánh mà ta đă biết ở trên, nó làm ông thích thú lắm.
- Vâng.
Ông Crome trẻ nói:
- Quyển Kinh Thánh của ông nội tôi đă cho một lời khuyên giá trị, chặt nó đi, tức là cái cây tần b́ đấy ạ, tôi không dám sao lăng lời khuyên này của cụ để cụ được yên nghỉ. Quả thật chưa từng thấy một cái ổ cho bệnh sổ mũi và bệnh sốt rét nào như cái cây này.
Trong pḥng khách có một số sách của gia đ́nh, không nhiều lắm, hiện nay c̣n chờ bộ sưu tập từ Ư của ông Richard đưa sang, một pḥng sách mới đang được xây để nhận số sách ấy.
Ông Richard nh́n từ tờ giấy lên giá sách và nói:
- Tôi tự hỏi không hiểu cái quyển Kinh Thánh tiên tri ấy nay c̣n không? Tôi có cảm giác đă từng nh́n thấy nó ở đâu đó.
Ông băng qua gian pḥng, lấy ra một quyển Kinh thánh lùn bè bè, trên trang đầu để trong có ḍng chữ sau đây:
"Tặng Matthew Fell, từ mẹ đỡ đầu yêu thương Anne Aldous, 2 tháng Chín 1659".
- Tôi lại thử nó lần nữa xem sao, ông Crome nhỉ. Chắc lại gặp phải mấy cái tên trong biên niên sử. Hừm, cái ǵ đây?
"Anh đến t́m tôi sáng mai nhưng tôi sẽ không ở đấy đâu".
- Phải! Phải! Ông nội ông đă đưa ra một điềm báo hiệu đây rồi! Thôi tiên tri như vậy là đủ. Toàn chuyện không đâu cả ấy mà. Thôi ông Crome, xin cám ơn cái gói của ông vô cùng. Tôi e rằng ông đang vội đi, xin hăy uống thêm một ly rượu nữa.
Với thái độ ông chủ nhà mến khách như thế, ông Richard nghĩ rất tốt về phong cách và cách nói năng của người đàn ông trẻ tuổi, hai người tạm biệt nhau.
Buổi chiều khách khứa đến, giám mục Kilmore, Phu nhân Mary Hervey, ông William Kentfield.. Ăn tối lúc năm giờ, uống rượu chơi bài ăn khuya, sau đó phân tán ai về pḥng nấy.
Sáng hôm sau ngài Richard không có ư định đi săn với những người kia, mà nói chuyện với giám mục Kilmore. Vị giám mục này khác với các giám mục Ireland thời ấy, đă tới thăm toà giám mục của ḿnh và cư trú ở đó một thời gian khá lâu. Sáng hôm ấy hai người đi dạo ở sân đang nói về những thay đổi và cải tiến của ngôi nhà, vị giám mục bảo, chỉ vào cửa sổ Tây Pḥng.
- Ngài Richard ạ, ngài mà cho dân Ireland của tôi ở những chỗ như thế này là không được đâu.
- Sao thế, chính là pḥng của tôi đấy.
- Người nông dân Ireland kỵ nhất ngủ bên cạnh chỗ có cây tần b́, mà cây tần b́ này mọc um tùm gần ngay cửa sổ pḥng, cách không đến hai mét. Có lẽ..
Ông giám mục mỉm cười nói tiếp:
- Chính v́ nó mọc tốt cao to như thế cho nên vẻ mặt ngài mới kém tươi như bạn bè ngài nh́n thấy đây.
- Quả như thế hay sao ấy, suốt từ mười hai giờ đêm đến bốn giờ sáng tôi không sao ngủ được. Nhưng mai tôi cho hạ cây rồi, khỏi phải nghe nói về nó nữa.
- Tôi hoan nghênh quyết định ấy của ngài đấy. Lá cây dày đặc thế kia th́ làm ngài thở sao nổi.
- Ngài nói đúng. Nhưng đêm qua tôi không mở cửa sổ. V́ có nhiều tiếng động quá, có lẽ các cành cây chà vào ô kính cửa sổ làm tôi chong mắt ra.
- Không thể được ngài Richard ạ, đây ngài xem, không cành cây nào vươn tới khung cửa sổ cả trừ khi có trận gió mạnh, mà đêm qua có gió đâu! Cành lá cách ô cửa sổ có đến ba chục phân kia mà.
- Không! Thế tại sao có vết cào để lại khắp trên lớp bụi ở ngưỡng cửa sổ?
Cuối cùng họ cho là có chuột từ đám dây thường xuân. Đức giám mục đưa ư đó ra, ngài Richard chộp lấy ngay. Cả ngày trôi qua êm đềm, đêm đến mọi người về pḥng đi ngủ, chúc ngài Richard ngủ ngon.
Giờ đây ông ta đang ở trong pḥng ḿnh, nằm trong giường tắt đèn. Pḥng này ở ngay trên nóc bếp, đêm lại ấm do đó cửa sổ để mở. Chỗ khung giường rất ít ánh sáng, nhưng người ta thấy động đậy tựa như ngài Richard trở đầu, từ bên này qua bên kia rất nhanh và gây tiếng động khe khẽ.
Ta có thể h́nh dung như là ông ta có rằng nhiều cái đầu màu nâu trong bóng tối mờ, chúng đưa ra trước rồi lại ra sau và cả lồng ngực cũng vậy. Ảo giác này thật đáng sợ.
C̣n ǵ nữa không? Có đấy! Một tiếng động của cái ǵ đó từ giừơng rơi xuống đánh bộp, đó là một thứ mập mạp trông như con mèo con, chạy vút ra khỏi cửa sổ như một ánh chớp, rồi một cái ǵ đó như thế nữa bốn tất cả sau đó yên lặng hoàn toàn.
"Anh đến t́m tôi sáng mai nhưng tôi sẽ không ở đấy nữa"
Giống như ngài Matthew, ngài Richard cũng chết trong giường, đen kịt lại! Một đám khách khứa lặng lẽ và đầy tớ đứng đầy dưới cửa sổ khi biết tin. Nào là ngộ độc kiểu Ư, nào là phái viên của Giáo hoàng đến ám hại, nào là ô nhiễm bởi không khí.
Khách khứa đưa ra nhiều giả thiết, riêng giám mục Kilmore nh́n vào cái cây, nơi chẽ ba thấp có một con mèo đen đang thu người lại nh́n vào cái hốc, từ lâu đă có ở thân cây. Nó có vẻ như đang nh́n vào một cái ǵ rất đáng chú ư trong đấy.
Bỗng dưng nó vươn cổ nḥm hẳn vào cái lỗ và v́ đứng chênh vênh, nó trượt tơm vào cái lỗ. Người ta nghe thấy tiếng nó rơi. Ta đều biết mèo có thể kêu nhưng ít ai nghe thấy nó thét, cái tiếng thét từ trong hốc cây vọng ra. Hai, ba tiếng thét!
Mấy người làm chứng không chắc lắm. Sau đến tiếng đông nghèn nghẹn, tiếng vật lộn. Phu nhân Mary Hervey ngất đi, bà quản gia bịt tai chạy thẳng lên đến sân thượng mới bỏ tay ra. Riêng giám mục Kilmore và ngài William Kentfield ở lại. Cho dù tiếng kêu đầy đe doạ, nhưng cũng chỉ là tiếng kêu của một con mèo, ngài William nuốt nước bọt mấy cái trước khi nói:
- Xin thưa là trong cái cây thể nào cũng có cái ǵ đó mà ta chưa biết. Tôi sẽ t́m hiểu ngay đây.
Mọi người nhất trí. Một cái thang được đem tới, một người làm vườn trèo lên nh́n vào trong hốc, chẳng thấy rơ ǵ cả trừ một cái ǵ đó lờ mờ đang động đậy ở bên dưới. Người ta lấy một cái đèn lồng buộc dây thừng thả xuống.
- Chúng ta phải xuống dưới đáy. Xin lấy cuộc sống của tôi ra mà thề, bí mật của những cái chết khủng khiếp này nhất định là nằm ở dưới đó.
Người làm vườn lại trèo lên thang tay cầm đèn, thận trọng thả đèn xuống cái hốc. Ông ta cúi xuống, mặt có ánh đèn chiếu vàng khè, sau đó th́ cái mặt đó nhăn nhúm lại như nh́n thấy một cái ǵ thực kinh khủng và ghê tởm, ông ta thét lên một tiếng hăi hùng, và ngă ngửa ra rơi từ trên thang xuống, may thay được hai người đàn ông ở gốc cây đỡ lấy, riêng cái đèn th́ rơi vào trong.
Ông ta ngất đi tưởng như đă chết, thành ra chưa ai moi được lời nào từ miệng của ông ta cả. Nhưng rồi lại có một thứ khác cho mọi người nh́n. V́ cái đèn rơi xuống, lửa bắt vào rác rưởi và lá cây khô ở trong thành ra vài phút sau từ trong hốc một làn khói dày đặc bốc lên, sau đến ngọn lửa, nói tóm lại cả cái cây đang bùng cháy.
Những người đứng xem quây thành một ṿng ở xa mấy mét, ngài William và đức giám mục cử người đi t́m vật khí hoặc bất cứ dụng cụ ǵ cũng được, bởi rất rơ ràng là con thú nào dùng hốc cây đó làm hang, thế nào cũng phải vọt ra do lửa hun.
Đúng thế. Thoạt tiên ngay chỗ chẽ cây là một thân h́nh tṛn xoe, như cái đầu người đang bốc lửa, đột ngột nhô lên sau đó xỉu ngay rơi xuống. Rồi đến sáu bảy lần như thế, cuối cùng một quả cầu lửa vọt lên không trung, tiếp đến nhào xuống băi cỏ nằm im.
Vị giám mục tới gần, nh́n thấy…những ǵ c̣n lại của một con nhện khổng lồ mắt đầy gân vỡ bung ra! Cái cây cháy thấp xuống th́ rằng nhiều con vật giống như thế từ trong thân cây bổ ra, chúng có lông lá xám xịt.
Cả ngày hôm ấy cây tần b́ cháy và người ta đứng quanh cho đến lúc nó rụi hẳn. Con nhện nào ra đến ngoài cũng bị diệt ngay. Cuối cùng một lúc lâu không thấy ǵ ḅ ra nữa họ xúm lại nh́n vào những rễ cây.
- Họ t́m thấy.
Giám mục Kilmore nói:
- Dưới cùng chỗ đất lơm sâu có vài ba xác con vật như thế chết v́ ngạt khói, và lạ thay bên cạnh cái hố đó, sát vào tường nhà, là một bộ xương người, bên trên c̣n lớp da khô, vài sợi tóc đen, những người đến xem bảo rơ ràng đây là, một bộ xương đàn bà chết cách đây khoảng năm mươi năm.
Montague Rhodes James
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1011 of 2534: Đă gửi: 12 November 2008 lúc 10:43pm | Đă lưu IP
|
|
|
ĐỨA BÉ ĂN MÀY
Nó là thằng bé ăn mày tội nghiệp. Hơn thế, lại mù. Chiếc quần bẩn khó xác định màu rách bươm cả hai ống cho thấy không chỉ người mà lũ chó cũng chẳng thích nó. Hai ống tay áo đen bóng v́ luôn được dùng làm khăn lau mũi.
Đầu nó đội chiếc mũ cói méo mó hơi hất về phía sau, để lộ khuôn mặt đói ăn gầy đét, xạm nắng, và nhất là hai hố mắt trắng dă càng làm tăng thêm vẻ thảm hại đáng sợ.
Có thể nó chủ ư phô ra thế để người ta thương hại mà cho chút ǵ chăng? V́ mù, nó phải chống gậy, chiếc gậy trúc già bằng ngón tay cái, trơn nhẵn và cũng gầy đanh như nó.
Sau khi thận trọng gơ hai lần xuống đất, nó mới đi một bước. Nó lặng lẽ đi giữa trời nắng chang chang, chiếc bị, cũng bằng cói, đeo sát nách, và h́nh như c̣n lép kẹp hơn bụng nó.
Không ai biết nó từ đâu tới. Thứ nhất v́ đây là lần đầu tiên nó xuất hiện ở làng Thượng. Thứ hai, đơn giản v́ những loại như nó không đáng được người ta quan tâm.
Mà rồi lúc ấy đang giữa trưa nắng gắt chẳng có ai gần đấy ngoài một thằng bé khác trạc tuổi nó, cũng nhếch nhác, nhưng v́ không ăn mày nên to khỏe hơn và cũng lành lặn hơn.
Thằng này đang chổng đít cố búng viên bi thủy tinh vào một lỗ nhỏ trước mặt dưới bóng cây đa cụt đầu làng. Nó đang cáu v́ búng măi không vào đúng lỗ.
Đă thế, viên bi bị búng mạnh quá lăn đi đâu mất. Nó thất vọng định đứng dậy bỏ về nhà ăn trưa th́ bất chợt nh́n thấy thằng ăn mày khốn khổ.
Nó thấy có cái ǵ đấy vừa buồn cười vừa khó chịu ở vẻ ngoài và cách ḍ đường hai cộc một bước của thằng kia. Đôi mắt trắng dă làm nó, vốn bực ḿnh v́ mất viên bi, càng thêm khó chịu.
Cứ như viên bi của nó đă bay vào nằm gọn trong hố mắt thằng kia. Một ư nghĩ chợt lóe lên. Nhẹ và rón rén như con mèo săn chuột, nó bước lại gần thằng ăn mày, bất chợt giật lấy chiếc gậy trúc rồi chạy nhanh về phía gốc đa.
Thằng bé ăn mày kêu ới ới, hai cánh tay khẳng khiu bất lực huơ huơ phía trước.
- Ai trả lại chiếc gậy cho tôi đi! Trả lại đi, đừng đùa thế! Trả lại đi!...
Giọng nó yếu lắm, chắc v́ đói. Chờ măi không thấy ai trả lại gậy, nó đành ḍ dẫm đi tiếp, điệu bộ trông thật buồn cười, cứ như nó đang lấy thăng bằng đi trên dây thép trong rạp xiếc. Bây giờ thay cho gơ gậy, nó thận trọng uớm thử chân hai lần trước mỗi bước đi.
Bằng cách ấy nó có thể không vấp ngă, nhưng khốn nỗi điều quan trọng đối với nó là hướng đi chứ không phải đi như thế nào. Mà hướng nó đang đi tới hiện giờ là chiếc giếng hơi sâu rộng đầy nước của làng Thượng.
Ngồi dưới gốc đa, thằng chơi bi thích thú quan sát điều này.
Ở các làng khác, giếng nước ăn luôn có bờ gạch bao quanh, là điều dễ hiểu, thế mà bao đời nay giếng làng Thượng không hề có cái bờ gạch bao quanh ấy, lại sát đường đi, nên nhiều lần trẻ con và cả trâu ḅ rơi xuống đó, nhưng luôn vào lúc đông người nên được vớt lên kịp.
Khốn khổ thằng bé ăn mày. Nó cũng bị sẩy chân ngă xuống giếng và đă chết, v́ bờ giếng lát gạch trơn chẳng có ǵ để bấu víu, v́ nó quá yếu do đói ăn, v́ xung quanh không có ai để vớt nó lên. C̣n thằng bé chơi bi lếu láo kia th́ thấy vậy liền hoảng sợ bỏ chạy về nhà...
Chuyện này xảy ra đă mấy chục năm nay, nhưng dân làng Thượng vẫn nhớ. Mà không chỉ có nhớ.
Phải ba ngày sau xác thằng bé mới nổi lên. Người ta chôn nó ở nghĩa địa Đồng Chùa như chôn nhiều người vô gia cư chết đói trước đấy. Khác chăng, mộ của nó nhỏ hơn một chút, v́ nó là con nít.
Có điều đáng ngạc nhiên là không hiểu sao cái mộ bé nhỏ ấy của nó cứ mỗi ngày một lớn thêm, đến mức lấn át cả mộ cụ tổ họ Phạm thế lực nhất trong làng.
Thường người ta vui với những trường hợp như thế. Phát mả đồng nghĩa với phát tài, phát lộc, nhưng đây lại là mả một thằng bé ăn mày, vậy th́ phát ǵ? Phát nghề ăn mày à?
Các vị chức sắc trong làng không giấu nổi vẻ lo lắng mơ hồ về một tai hoạ nào đó đang treo lơ lửng trên đầu. Cuối cùng cái tai họa ấy đă đến.
Sau nhiều năm liền mất mùa v́ thiên tai, nhiều người làng Thượng xách bị đi ăn xin xứ người. Lúc đầu người ta không chú ư mấy đến hiện tượng này, v́ xưa nay ăn mày chẳng hiếm.
Nhưng khi số lượng gia tăng một cách đáng lo ngại, người ta bắt đầu nghĩ đến cái mả ăn mày phát kia. Sao các làng lân cận đói ăn chẳng kém mà chẳng mấy người làm cái nghề nhục nhă ấy? Vậy chắc đây là đ̣n báo oán của thằng bé nọ.
Để giảm bớt tai hoạ, người ta xây mộ xi măng cho nó, bây giờ đă được gọi là Ông. Mấy năm sau xây miếu hẳn hoi, có bàn thờ và được hương khói cẩn thận đúng dịp, đúng quy cách.
Dần dần, khi người ta thấy nghề ăn xin cũng không đến nỗi nào cả về thu nhập lẫn quan niệm xă hội, người làng Thượng bỏ nhà đi ăn xin có giấy chứng nhận đàng hoàng của xă, kèm theo chiếc dấu tṛn đỏ chói.
Tự lúc nào không biết, thằng bé ăn mày tội nghiệp nghiễm nhiên trở thành thành hoàng của làng Thượng, thay chỗ một vị tướng lừng danh thời Lê Mạc. Dần dần trong dân gian, tên làng cũng được gọi khác. Làng Ăn Mày!
- Chính tôi là thằng bé chơi bi láo lếu ấy đấy, ông ạ.
Ông M. thở dài nói. Ông M. là hàng xóm của tôi. Hàng xóm với nghĩa nhà cạnh nhau, chứ giữa nghề viết lách của tôi và nghề buôn sắt vụn phát đạt của ông chẳng có ǵ liên quan.
Ông quư tôi v́ tôi nhiều chữ. Tôi chơi với ông v́ ông nhiều tiền mà không hợm ḿnh, và cả v́ ông đồng ư để chúng tôi luân phiên nhau trả tiền bia ở quán Gió Mới bên cầu Long Biên.
Xưa nay ông nổi tiếng hảo tâm, một nhà từ thiện đích thực. Có lẽ ông đă cúng tới hàng chục, nếu không muốn nói hàng trăm triệu đồng cho mục đích cao cả ấy, mà đối tượng bao giờ cũng là những đứa trẻ mù. Trường Nguyễn Đ́nh Chiểu coi ông như ân nhân. Một số trường khiếm thị ở các địa phương khác cũng vậy.
- Tất nhiên lúc ấy tôi chẳng dám cho ai biết tôi đă làm thằng bé ăn mày phải chết.
Ông nói tiếp sau khi uống một hơi hết sạch vại bia.
- Tôi hối hận và sợ lắm. May mà tháng sau bố tôi, một cán bộ cỡ ở Tổng cục Thống kê, đưa cả nhà lên sống hẳn ở Hà Nội. Từ bấy đến nay tôi chẳng một lần dám trở lại làng Thượng. V́ sao th́ ông biết. Tuy vậy, tôi biết hết mọi chuyện xảy ra ở làng. Tôi hỏi thật nhé: Ông có mê tín không?
- Không.
Tôi đáp.
- Ông có tin vào báo ân, báo oán không?
- Tôi không tin. Sao ông hỏi vậy? Ông tin à?
Ông M. trầm ngâm một chốc rồi nói, vẻ bần thần:
- Cả có mà cả không. Nhưng tôi cứ thấy nó thế nào ấy, nhất là thời gian gần đây. Có lẽ tôi già rồi đâm lẩn thẩn. Nói ông đừng cười, đêm nào nằm ngủ tôi cũng nghe tiếng gơ chiếc gậy trúc của thằng bé kia và tiếng kêu yếu ớt:
- Ai đó trả lại gậy cho tôi, đừng đùa . T́nh h́nh có vẻ như ngày càng tồi tệ. Tôi chẳng biết phải tính sao đây. Ông khuyên tôi làm ǵ bây giờ?
Tôi ngồi im v́ chẳng biết trả lời thế nào.
- Hay ông đi khám bác sĩ thần kinh.
Cuối cùng tôi lên tiếng.
- Thời này khối người căng thẳng như ông. Tôi cũng chẳng hơn ǵ. C̣n chuyện thằng bé th́ chỉ do ông hay nghĩ đến nó mà tưởng tượng ra thôi.
Tôi an ủi, mặc dù tự biết ở đây có cái ǵ đó nghiêm trọng và đáng sợ hơn nhiều.
Mấy hôm sau, trước lời năn nỉ của ông M và cũng v́ ṭ ṃ, tôi nhận lời cùng đi với ông về làng Thượng, Làng Ăn Mày.
Ông M. thắp hương, lầm rầm khấn vái hồi lâu trước bàn thờ thành hoàng làng ḿnh. Trước đấy tôi cũng thắp một nén, gọi là tưởng nhớ vong linh thằng bé xấu số.
Tôi tế nhị bỏ ra ngoài để ông được tự nhiên sám hối, hi vọng sẽ thanh thản hơn đôi chút. Bằng đức tính nhân từ vốn có và những việc làm từ thiện xưa nay, ông xứng đáng được hưởng một tuổi già thanh thản.
Tối hôm ấy chúng tôi ngủ lại nhà một người bà con xa của ông M.. Nhà ngói hẳn hoi, có tivi, có đài, anh con trai chủ nhà c̣n có cả xe máy, xe Nhật chứ chẳng phải Tàu.
Từ lâu dân làng Thượng không c̣n xách bị đi ăn xin, nhưng người ta vẫn thành kính thờ cúng ông tổ ăn mày của làng.
Ngôi mộ của ông đă phát càng phát thêm, nay gần giống một cái g̣ nhỏ, trẻ con không dám cho trâu ḅ dẫm lên.
Nửa đêm, tôi đang ngủ say sau một ngày đi đường vất vả th́ bị ông M. túm tay áo giật mạnh. Ông hoảng hốt th́ thầm:
- Ông nh́n ḱa. Ngài đấy!
- Ngài nào?
Tôi ngạc nhiên hỏi v́ chẳng thấy ǵ.
- Thần hoàng làng Thượng! Đứa bé ăn mày...
Ông M. không nói hết câu, liền sụp xuống đất, vái lạy liên hồi:
- Con xin ngài tha tội. Dạ, con xin ngài tha tội. Con trót dại... Con chỉ đùa... Lúc ấy con c̣n nhỏ... Con xin ngài tha tội! Con xin ngài...
- Ông làm sao thế?
Tôi định đỡ ông dậy nhưng ông không chịu.
- Tôi có thấy ǵ đâu! Ông vái lạy ai đấy?
Quả tôi không thấy ǵ thật. Nhưng ông M. vẫn tiếp tục cầu khẩn van xin. Dẫu chẳng tin ma quỷ và không thuộc loại nhát gan, tôi vẫn thấy ớn lạnh khắp người.
Lát sau, ông M. im lặng ngồi rũ xuống sàn nhà, thở hổn hển:
- Ngài đi rồi. Đi mà chẳng nói ǵ cả. Nghĩa là ngài không tha thứ cho tôi. Trời ơi, tôi phải làm ǵ bây giờ?...
Lúc này tôi mới lọ mọ lại gần chiếc công tắc điện để bật đèn. Ông M. mặt cắt không c̣n hột máu. Ông ngồi yên trong tư thế ấy rất lâu, cuối cùng như để xác minh về sự hiện diện có thật của ngài, ông quay sang tôi, ch́a ra một viên bi thủy tinh bóng loáng dưới ánh đèn.
- Ngài để lại đấy!
Sau đó có việc tôi đi công tác xa ba tháng. Lúc về th́ được tin ông M. đă chết. Người ta kể rằng ông hóa điên, đi đâu cũng ngửa tay xin ăn như thằng ăn mày.
Bị con cháu nhốt trong nhà và cả ở bệnh viện tâm thần, gặp ai ông cũng xin. Có người cho ḥn đá, ông rối rít cảm ơn, xúc động đến rơi nước mắt.
Một hôm ông khôn khéo trốn khỏi bệnh viện. Đến tối th́ có người thấy ông nằm chết trong chiếc ao nhỏ cạnh Cầu Chui Gia Lâm. V́ ao hầu như không có nước chỉ toàn bùn, nên ông không ch́m. Ấy thế mà ông chết.
Một điều lạ nữa là lúc chết ông đeo chiếc bị cói sát nách, tay giữ chặt chiếc gậy trúc già trơn bóng, những thứ trước đấy chưa ai nh́n thấy bao giờ.
- Một người nhân đức nhường ấy mà phải chết thế th́ thật tội nghiệp.
Ông trưởng dân phố nơi ông M. sống bùi ngùi nói khi người ta liệm ông vào quan tài.
Thái bá Tân
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1012 of 2534: Đă gửi: 13 November 2008 lúc 9:39am | Đă lưu IP
|
|
|
NHƠN QUẢ-NGHIỆP VÀ LUÂN HỒI
Mỗi tôn giáo đều có một giáo lư riêng, để giải thích sự sống. Giáo lư ấy có khi hoàn toàn dựa lên đức tín thuần túy, có khi dựa lên sự tưởng tượng hoang đường, có khi dựa lên ḷng ước mơ tha thiết của loài người.
Riêng về đạo Phật, giáo lư về sự sống đặt căn bản lên lư trí và thực nghiệm. Giáo lư ấy mệnh danh là Nhân quả Luân Hồi.
Luật Nhân quả không xa lạ ǵ đối với những ai có một chút nhân xét và suy luận; luật Nhân quả lại càng rất gần gũi với giới khoa học. Nhờ tin chắc ở luật nhân quả mà nhà khoa học khám phá ra biết bao nhiêu điều huyền bí của vũ trụ và phát minh được những cái kỳ lạ cho cơi đời, nhưng nhà khoa học chỉ áp dụng luật Nhân quả trong phạm vi vật chất. Đức Phật đi xa hơn, chứng minh luật Nhân quả cả trong phạm vi tinh thần.
Nhà khoa học chỉ áp dụng luật Nhân quả trong một khoảng thời gian nhất định. Đức Phật đi xa hơn, chứng minh rằng luật Nhân quả trong suốt thời gian: quá khứ, hiện tại và tương lai. Luật nhân quả chứng minh qua thời gian vô hạn định cà trong phạm vi tinh thần ấy, đức Phật gọi bằng một cái tên riêng là “luân hồi”. Nói một cách khác, Luân hồi là Nhân quả liên tục trong phạm vi tinh thần.
Đă tin Nhân quả tất nhiên không thể phủ nhận Luân hồi. V́ thế, ngày nay trên thế giới, không phải chỉ có tín đồ Phật giáo mới tin lư Nhân quả Luân hồi, mà các nhà thông thái Âu Mỹ cũng đă lănh nạp giáo lư ấy. Trong các báo chí và sách vở ở khắp năm châu, vấn đề Nhân quả Luân hồi đă được đem ra nghiên cứu một cách đứng đắn và chân thành.
Ở Việt Nam, vấn đề này không xa lạ ǵ với đọc giả, nhất là đối với đọc giả Phật tử, th́ lại càng quen thuộc. Tuy thế vấn đề Nhân quả Luân hồi, một vấn đề căn bản trong giáo lư nhà Phật, nói bao nhiêu cũng vẫn thấy c̣n bổ ích.
V́ nhận thấy sự quan trọng của vấn đề này, nên Thượng tọa THIỆN HOA đă soạn lại những bài giảng của Thượng tọa, sắp đặt lại thành hệ thống trong tập sách này và lấy nhan đề chung là: “Nhân quả Luân hồi”.
Đặc điểm của tập sách này là sự tŕnh bày rất sáng sủa, phổ thông và khoa học.
Với đặc điểm trên, chúng tôi tin chắc rằng tập sác nhỏ này sẽ ổn định được tinh thần những ai đang băn khoăn, thắc mắc về vấn đề sống chết, về ư nghĩa của cuộc đời, và sẽ gây thêm ḷng tin tưởng vững chắc cho hàng Phật tử và giúp họ thêm hăng hái trong việc tu hành để chóng thoát khỏi cảnh sanh tử luân hồi.
Với ḷng tin tưởng ấy, chúng tôi hân hạnh xin giới thiệu tập sách nhỏ này với toàn thể qúy vị đọc giả thân mến.
Kính.
NHÀ XUẤT BẢN HƯƠNG ĐẠO
.
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1013 of 2534: Đă gửi: 13 November 2008 lúc 9:47am | Đă lưu IP
|
|
|
NHƠN QUẢ-NGHIỆP VÀ LUÂN HỒI
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong cơi mung lung, vô cùng vô tận của trời đất, con người thật bé nhỏ, như một ḥn sỏi, như một hạt cát; trong cái vĩnh viễn không đầu không cuối của thời gian, con người xuất hiện và mất đi nhanh như ánh sáng chợt đỏ, chợt tắt của con đôm đốm, như ánh sáng của một làn chớp.
Nhưng khổ thay, con người bé nhỏ và chóng tan biến ấy lại mang trong đầu óc những câu hỏi quá to lớn: “Ta từ đâu đến đây? Ta đến đây để làm ǵ? Đến đây rồi ta sẽ chấm dứt cuộc hành tŕnh sau hơi thở cuối cùng ở đây, hay c̣n tiếp tục đi nữa? Đi đâu? Đi hay về?
Đi theo một con đường thẳng hay đường cong? Đi xuống hay đi lên?” Quá khứ đă không hay; tương lai cũng sẽ không biết, c̣n hiện tại th́ quá ngắn ngủi phù du!
Và than ôi! ngay trong cái hiện tại ngắn ngủi ấy, cũng đă chứa đựng không biết bao nhiêu sự bất công, vô lư:
-“Tại sao người ấy đẹp mà ta xấu? người kia giàu mà ta nghèo? người ấy sướng mà ta khổ? Tại sao có người chết yểu, có người sống lâu? có người thông minh có người ngu muội? có người hiển lương, có kẻ ác độc?
-“Tại sao và tại sao!” Bao nhiêu câu hỏi xoay tít trong đầu, như những cái chong chóng, gầm thét kêu gào, đ̣i hỏi, làm cho người ta điên đầu, lộn năo. Để chấm dứt sự hoành hành của những câu hỏi ấy, có người đă t́m cách chấm dứt đời ḿnh với thuộc độc; có người lẫn tránh trong thuốc phiện, trong rượu nồng dê béo, trong sóng mắt làn môi …
Đề cho khỏe năo, có người tự bảo mọi sự mọi vật đều do ư Trời sắp đặt; có người bảo là do một mănh lực tiền định, có người bảo là sự may rủi trớ trêu, không có nguyên do, luật lệ ǵ cả.
Nhưng những câu giải đáp gượng gạo trên, không làm thỏa măn được những tâm hồn thiết tha muốn t́m hiếu sự thật:
Bảo rằng do ư một vị Thần sắp đặt th́ ư vị thần ấy thật mâu thuẫn, phi lư, độc tài.
Xưa, đức Phật đă nói như sau đây, khi đề cập đến thần Brahma:
“Người đă chứng kiến bao sự đau khổ ở trước mắt, tại sao không làm cho chúng sanh được an vui? Nếu người ấy có nhiều thần lực, tại sao không dùng thần lực để cứu độ chúng sanh? Tại sao những con sanh của người ấy lại phải chịu lắm điều khố sở? Tại sao người ấy không ban phước lành đến cho con họ?
Tại sao những xảo quyệt giả dối mê lầm vẫn tồn tại măi măi? Tại sao gian xảo càng ngày càng tăng tiến, c̣n chân lư và công bằng lại phải lu mờ? Ta xem thần Brahma như một người vô cùng bất công đối với kẻ bị sanh ra trong thế giới đầy dẫy nhơ bẩn, xấu xa này”. (Kinh Bhucidatta Jataka).
Nếu bảo rằng mọi sự vật ở đời đều do một sức mạnh tiền định, chi phối tất cả, th́ thử hỏi sức mạnh ấy là sức mạnh ǵ? Của ai? Có sáng suốt hay mù quáng? Nếu không giải đáp được những câu hỏi phụ thuộc ấy, mà cử quyết đoán như thế, th́ thật là quá nông nổi.
C̣n nếu bảo rằng sự hiện hữu của cơi đời này, không do một nguyên nhân ǵ cả, th́ thật là vô cùng phi lư! v́ chúng ta hăy nh́n chung quanh ta, có một cái ǵ sanh ra mà không có nguyên nhân không?
Riêng nói về sanh mạng con người, có hai quan niệm thông thường, trái ngược nhau:
- Quan niệm chấp đoạn, cho rằng con người chỉ có một dời trong hiện tại, trong khoảng một trăm năm; đến khi nhắm mắt xuôi tay, thân thể tan ra tro bụi và kiến văn, tri giác cũng không c̣n ǵ hết. Chết là hết, là hoàn toàn mất hẳn.
- Quan niệm chấp thường, cho rằng linh hồn bất tử? sau khi chết, thân thể tan ră, nhưng linh hồn thường c̣n măi măi, sẽ lên cơi Thiên đường đề thọ hưởng vĩnh viễn những sự an vui khoái lạc (nếu trong đời hiện tại ăn ở hiên lương) hay sẽ bị đoạ xuống địa ngục chịu khổ măi măi (nếu trong đời hiện tại làm nhiều điều tội lỗi).
Hai quan niệm trên này đểu không đúng!
Chềt là một hẳn! Sao lại mất hẳn được? Hăy nh́n chung quanh ta có cái ǵ mất hẳn đâu? Một hạt cát, một máy lông c̣n không thề mất hẳn được, huống chi con người là một sinh vật có khả năng tri giác nhất trong chúng sanh?
Nhưng bảo rằng linh hồn là thường c̣n, ở măi trên thiên đường hay dưới địa ngục cũng không đúng. Sự nhận xét thông thường cho chúng ta thấy rằng, trong vũ trụ, không có một cái ǵ có thề vĩnh viễn và ở yên một chỗ, mọi sự vật đểu biến đời và xê dịch. Vả lại có ǵ bất công hơn là chỉ v́ những cái nhân đă gieo trong một đời hiện tại ngắn ngủi, mà phải chịu cái quả vĩnh viễn tốt hay xấu trong tương lai.
Cho nên những loại giải đáp nói trên, đều không thể đứng vững được trước ánh sáng lư luận.
Những vần đề trên này, giáo lư nhà Phật đă giải đáp một cách rơ ràng, khúc chiết, mạch lạc. Những lời giải đáp này không dựa vào oai lực của thần quyền, không dựa vào những tín điểu độc đoán, cũng không dựa vào trí tưởng tượng mơ hồ, mà bằng cứ vào những nhận xét xác đáng trong hiện cảnh những cái tai nghe mắt thấy, những điều cỏ thể chứng nghiệm được.
Đức Phật bao giờ cũng dựa trên thực tế để lập luận, v́ thế, mặc dù những lời dạy của Ngài đă nói ra trên hai ngàn năm trăm năm rồi, mà bây giờ vẫn c̣n đúng đắn và vô cùng giá trị; có đủ năng lực làm thỏa măn sự khát khao hiểu biết của những ai băn khoăn đi t́m chân lư và ư nghĩa của cuộc đời.
Trong tập sách nhỏ này, chúng tôi không có tham vọng giải đáp tất cả những vấn đề trọng đại, hàm chứa trong những chữ “siêu h́nh”, “vũ trụ quan”, “nhân sinh quan” v.v... chúng tôi chỉ xin tŕnh bày cái kiếp sống của con người, qua thời gian và không gian, những nguyên nhân và kết quả đă tạo cho mỗi người một hoàn cảnh giống nhau hay khác nhau; đồng thời chúng tôi sẽ giải đáp một số những thắc mắc có liên quan mật thiết đến kiếp người.
Trong khi tŕnh bày, chúng tôi sẽ giữ một thải độ hoàn toàn khách quan và nêu lên những bằng chứng cụ thể, có thể nhận xét được rơ ràng, chứ không dựa vào những tín điều độc đoán hay mượn uy lực của thần quyền đề bắt độc giả phải cúi đầu tin theo.
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1014 of 2534: Đă gửi: 13 November 2008 lúc 10:19am | Đă lưu IP
|
|
|
NHƠN QUẢ-NGHIỆP VÀ LUÂN HỒI
LUẬT NHÂN QUẢ
( CHƯƠNG MỘT )
I. ĐỊNH NGHĨA
1. Luật:
Có người cho rằng đă gọi là luật th́ tất phải có một đấng Thiêng liêng nào, người nào, hay xă hội đặt ra. Quan niệm này có nghĩa hẹp ḥi và nông cạn. Luật ở đây là luật thiên nhiên, luật tự nhiên, nó bao trùm cả vũ trụ, vạn vật, chớ không nằm trong phạm vi của loài người, hay trong một xă hội nào.
Người ta có thể khám phá ra luật ấy, chứ không thể đặt ra luật ấy được. Đức Phật, mặc dù là một Đấng Giảc ngộ, cũng không đặt ra luật ấy, Ngài chỉ là người đă dùng trí huệ sáng suốt của ḿnh, để vạch cho mọi người thấy rơ ràng cái luật nhân quả đang điều hành trong vũ trụ mà thôi.
2. Nhân quả:
Nhân là nguyên nhân, Quả là kết quả. Nhân là cái hạt, Quả là cái trái do hạt ấy phát sinh. Nhân là năng lực phát động, Quả là sự thành h́nh của năng lực phát động ấy. Nhân quả là một định luật tất nhiên, có tương quan mật thiết với nhau và chi phối tất cả mọi sự mọi vật.
II. NHỮNG ĐẶC TÍNH CỦA LUẬT NHÂN QUẢ
1. Nhân quả là một định luật nằm trong lư nhân duyên:
Nhân quả là một định luật, mới ngó th́ rất giản dị, nhưng nếu càng đi sâu vào sự vật để nghiên cứu th́ lại càng thấy phức tạp, khó khăn. Trong vũ trụ mọi sự vật không phải đơn thuần tách rời từng món, mà có liên quan mật thiết với nhau, xoắn lấy nhau, đan lấy nhau ảnh hưởng lẫn nhau, tương phản nhau, thừa tiếp nhau.
Để nói đúng trạng thái chằng chịt giữa sự vật, đạo Phật thường dùng danh từ “Nhân duyên”, nghĩa là mọi sự, mọi vật có ra là nhờ duyên với nhau, nương vào nhau, hay tương phản nhau mà thành, chứ không có một cái nào đứng biệt lập được.
Trong sự phức tạp của sự vật ấy, t́m ra được cái nhân chánh của quả, hay cái quả chính của nhân, không phải là việc dễ. Do đó mà nhiều người không quen suy nghĩ t́m ṭi sâu xa, sanh ra nghi ngờ thuyết “Nhân quả”.
Thí dụ: hạt lúa có thể làm nhân cho những chẹn lúa vàng là quả trong mùa gặt sau, nếu người ta đem gieo nó xuống đất; nhưng nó cũng có thể làm cho người ta no bụng, biến thành máu thành thịt trong cơ thể và thành phân bón cho cây cỏ, nếu chúng ta đem nấu nó để mà ăn.
Như thế một nhân chính có thể thành ra quả này hay quả khác, nếu những nhân phụ khác nhau: muốn hạt lúa ở mùa này thành chẹn luá ở mùa sau, th́ phải có đất, có nước, có ánh sáng, có không khí, có thời gian, có nhân công; muốn nó thành máu huyết th́ phải nấu, phải ăn, phải có bộ máy tiêu hóa.
Cho nên, khi nói nhân quả là tách riêng sự vật ra khỏi cái chung cùng toàn thể của vũ trụ, lấy một khía cạnh nào đó, đề dễ quan sát, nghiên cứu, chứ muốn nói cho đúng th́ phải dùng hai chữ “Nhân Duyên”.
Cũng như một nhà khoa học, khi muốn nghiên cứu một bộ phận nào trong cơ thể, khu biệt, cắt xén bộ phận ấy ra khỏi cơ thể, để nghiên cứu cho dễ, chứ thật ra bộ phận ấy không phái biệt lập, mà trái lại có liên quan mật thiết đến toàn cả cơ thể.
2. Một nhân không thể sinh ra quả:
Như chúng ta đă thấy ở đoạn trên, sự vật trong vũ trụ này đều là sự tổ hợp của nhiều nhân duyên. Cho nên không có một nhân nào có thể tự tác thành kết quả được, nếu không có sự giúp đỡ của nhiều nhân khác.
Nói rằng hạt lúa sinh ra cây lúa, là nói một cách giản đị cho dễ hiểu, chứ thật ra hạt lúa không thể sinh ra ǵ được cả; nếu để nó một ḿnh giữa khoảng trống không, thiếu không khí, ánh sáng, đất, nước, nhân công.
Cho nên, khi nghe ai tuyên bố rằng mọi vật do một nhân sinh ra, hay một nhân có thể sinh ra vạn vật; ta có thể chắc chắn rằng người ấy nói sai.
3. Nhân thế nào th́ quả thế ấy:
Nếu ta muốn có quả cam th́ ta phải ương hạt giống cam; nếu ta muốn có hạt đậu th́ ta phải gieo giống đậu. Không bao giờ ta trong cam mà lại thấy đậu, hay trồng đậu mà lại được cam.
Người học đàn th́ biết đàn, người học chữ th́ biết chữ. Nói một cách khác nhân với quả bao giờ cũng đồng một loại với nhau. Hễ nhân đổi th́ quả cũng đổi. Nếu nhân đổi ít th́ quả cũng đổi ít, nếu nhân đổi nhiều th́ quả cũng đổi nhiều.
Quả c̣n tùy thuộc ở những duyên phụ, mà trong đạo Phật gọi là tăng thượng duyên hay trợ duyên. Thí dụ: Hạt lúa là nhân; đất, nước, không khí, ánh sáng, nhân công, là trợ duyên. Nếu trồng lúa mà thiếu nước th́ hạt lúa bị lép.
Khi chúng ta muốn có những trái cam thật to, chúng ta hăy ghép cái mụt cây cam vào gốc cây bưởi. Vậy cái kết quả tốt đẹp là những trái cam to lớn, nhiều nước ấy, không phải chỉ do cái mụt cam, mà c̣n do gốc bưởi nữa.
Cho nên khi chúng ta muốn có cái kết quả như thế nào đó, th́ phải hội cho đủ điểu kiện, nghĩa là cho đủ nhân duyên, th́ kết quả mới được như ư ta mong muốn.
Có nhiều người muốn được kết quả như thế này, nhưng lại không hội đủ nhân duyên như thế ấy, nên kết quả đă sai khác với ư mong muốn của ḿnh, và do đó, họ đâm ra nghi ngờ sự đúng đắn của luật “Nhân quả”.
4. Trong nhân có quả, trong quả có nhân:
Chính trong nhân hiện tại đă có hàm chứa cái quả vị lai; cũng chính trong quả hiện tại đă có h́nh bóng của nhân quá khứ. Một sự vật mà ta gọi là nhân, là khi nó chưa biến chuyển, h́nh thành ra cái quả mà ta quan niệm; một sự vật mà ta gọi là quả là khi nó biến chuyển h́nh thành ra trạng thái mà ta đă quan niệm.
Một vật đều có nhân và quả: đối với quá khứ th́ nó là quả, nhưng đối với tương lai th́ nó là nhân. Nhân và quả đáp đổi nhau, tiếp nối nhau không bao giờ dứt. Nhờ sự liên tục ấy, mà trong một hoàn cảnh nào, người ta cũng có thể đoán biết quá khứ và tương lai của một sự vật hay một người.
Trong kinh thường nói: “Dục tri tiền thế nhân, kim sanh thọ giả thị; yếu tri hậu thế quả, kim sanh tác giả thị” (muốn biết cái nhân đời trước, th́ cứ xem quả đời nay đương thọ; muốn biết cái quả về sau thế nào th́ cứ xét cái nhân đang tác động trong hiện tại).
Cũng như thấy trong kho lẫm, năm nay có chứa lúa (quả) th́ biết năm vừa qua có làm ruộng (nhân). C̣n muốn biết sang năm trong lẫm có lúa không (quả) th́ cứ xem năm nay có làm ruộng hay không (nhân) (trừ trường hợp bỏ tiền ra mua lúa non, th́ không kể).
5. Sự phát triển mau và chậm từ nhân đến quả:
Sự biến chuyền từ nhân đến quả có khi mau khi chậm, chứ không phải bao giở cũng diễn tiến trong một thời gian đồng đều.
Có những nhân và quả xảy ra kế tiếp nhau, theo liền nhau, nhân vừa phát khởi th́ quả đă xuất hiện. Như khi ta vừa đánh xuống mặt trống (nhân) th́ tiếng trống liền phát ra (quả), hay khi hai luồng điện âm và dương vừa gặp nhau, th́ ánh sáng liền bừng lên.
Có khi nhân đă gây rồi, nhưng phải đợi một thời gian, quả mới h́nh thành, như từ khi gieo hạt giống cho đến lúc gặt lúa, cần phải có một thời gian ít nhất là bốn tháng.
Có khi từ nhân đến quả cách nhau từng chục năm, như đứa bé mới cắp sách đi học cho đến ngày thành tài, phải qua một thời gian ít nhất là mười năm.
Có khi cần đến một vài trăm năm, hay nhiều hơn nữa, quả mới xuất hiện, chẳng hạn như từ ư niệm dành độc lập của một quốc gia đến khi thực hiện được nền độc lập ấy, cần phải trải qua bao thế kỷ.
V́ lư do mau chậm trong sự phát hiện của các quả, chúng ta không nên nóng nảy hấp tấp mà cho rằng cái luật nhân quả khônghoàn toàn đúng, khi thấy có những cái nhân chưa phát sinh ra quả.
III. PHÂN TÍCH HÀNH TƯỚNG CỦA NHÂN QUẢ TRONG THỰC TẾ
Như các đoạn trên đă nói, nhân quả chi phối tất cà vũ trụ vạn hữu, không có một vật ǵ, sự ǵ, động vật hay thực vật, vật chất hay tinh thần, thoát ra ngoài luật nhân quả được.
Đến đây, để có một quan niệm rơ ràng về luật nhân quả, chúng ta hăy tuần tự phân tách hành tướng của nhân quả trong các chủng loại nằm trong vũ trụ:
1. Nhân quả trong những vật vô tri vô giác:
Nước bi lửa đốt th́ nóng, bị gió thổi th́ thành sóng, bị lạnh th́ đông lại. Nắng lâu ngày th́ đại hạn, mưa nhiều th́ lụt, gió nhiều th́ sanh băo.
2. Nhân quả trong các loài thực vật:
Hạt cam th́ sanh cây cam, cây cam th́ sanh trái cam. Hạt ớt th́ sanh cây ớt, cây ớt th́ sanh trái ớt. Nói một cách tống quát: giống ngọt th́ sanh quả ngọt, giống chua th́ sanh quả chua, giống đắng th́ sanh quả đắng, giống nào th́ sanh quả ấy.
3. Nhân quả trong các loài động vật:
Loài chim sanh trứng; nếu ta gọi trứng là nhân, khi ấp nó thành con là quả; con chim ấy trở lại làm nhân, sanh ra trứng là quả.
Loài thú sanh con, con ấy là quả. Con thú lớn lên trở lại làm nhân, sanh ra con là quả.
4. Nhân quả nơi con người:
a. Về phương diện vật chất: Thân tứ đại là do hấp thụ khí huyết của cha mẹ, và do hoàn cảnh nuôi dưỡng. Vậy cha mẹ và hoàn cảnh là nhân, người con trưởng thành là quả và cứ tiếp nối vậy măi, nhân sanh quả, quả sanh nhân không bao giờ dứt.
b. Về phương diện tinh thần: Những tư tường và hành vi trong quá khứ tạo cho ta những tánh t́nh tốt hay xấu, một nếp sống tinh thần trong hiện tại; tư tưởng và hành động quá khứ là nhân, tánh t́nh, nếp sống tinh thần trong hiện tại là quả. Tánh t́nh và nếp sống này làm nhân để tạo ra những tư tưởng và hành động trong tương lai là quả.
Phương diện tinh thần này, hay nói theo danh từ nhà Phật, phương diện nội tâm, là phần quan trọng. Vậy chúng ta phải đặc biệt chú ư đến hành tướng của nó.
i. Nhân quả của tư tưởng và hành vi không tốt:
a. Tham: Thấy tiền của người nổi ḷng tham lam, sanh ra trộm cắp, hoặc giết hại người là nhân; bị chủ đánh đập hoặc chém giết, phải mang tàn tật, hay bị nhà chức trách bắt giam trong khám đường, chịu những điều tra tấn đau khổ là quả.
b. Sân: Người quá nóng giận đánh đập vợ con phá hại nhà cửa, chém giết người không gớm tay là nhân; khi hết giận, đau đớn nh́n thấy vợ con bịnh hoạn, nhà cửa tiêu tan, luật pháp trừng trị phải chịu nhiều điều khổ cực, là quả.
c. Si mê: Người say mê sắc dục, liễu ngơ hoa tường không c̣n biết sự hay dở, phải trái, đó là nhân. Làm cho gia đ́nh lủng củng, thân thể suy nhược, trí tuệ u ám, là quả.
d. Nghi ngờ: Suốt đời cứ nghi ngờ việc này đến việc khác, ai nói ǵ cũng không tin, ai làm ǵ cũng không theo đó là nhân. Kết cuộc không làm nên được việc ǵ cả, đến khi lâm chung, buông xuôi hai bàn tay trắng, đó là quả.
đ. Kiêu mạn: Tự cho ḿnh là hơn cả, khinh bỉ mọi người, chà đạp nhân phẩm người chung quanh, là nhân; bị người ghét bỏ, xa lánh, sống một đời lẻ loi, cô độc là quả.
e. Nghiện rượu trà: Chung nhau tiền bạc ăn nhậu cho thỏa thuê là nhân, đến lúc say sưa, chén bát ngổn ngang, ghế bàn nghiêng ngă, nhiều khi rầy rà chém giết nhau, làm nhiều điều tội lỗi, phải bị phạt vạ và tù tội là quả.
g. Say mê cờ bạc: Thấy tiền bạc của người muốn hốt về ḿnh, đắm đuối quanh năm suốt tháng theo con bài lá bạc, là nhân; đến lúc của hết, nhà tan, nợ nần vây kéo, thiếu trước hụt sau, là quả.
ii. Nhân quả của tư tưởng và hành vi tốt:
Như trên chúng ta đă thấy, những tư tưởng hành vi xấu xa, tạo cho con người những hậu quả đen tối, nhục nhă, khd như thế nào, th́ những tư tưởng và hành vi đẹp đẽ tạo cho con người những hậu quả sáng lạn, vinh quang và an vui cũng như thế ấy.
Người không có tánh tham lam, bỏn xẻn th́ tất không bị tiền của trói buộc, tất được thảnh thơi. Người không nóng giận, tất được sống trong cảnh hiền ḥa, gia đ́nh êm ấm.
Người không si mê theo sắc dục, tất được gia đ́nh kính nể, vợ con quí chuộng, trí tuệ sáng suốt, thân thể tráng kiện, người không hay ngờ vực, có đức tin, th́ hăng hái trong công việc, được người chung quanh tin cậy và dễ thành tựu trong đường đời
Người không kiêu ngạo th́ được bạn bè quí chuộng, niềm nỡ tiếp đón, tận tâm giúp đỡ khi ḿnh gặp tai biến. Người không rượu chè, cờ bạc th́ không đến nỗi túng thiếu, bà con quen biết kính nể yêu v́ ...
Những điều trên này, tưởng không cần phải nói nhiều, quí độc giả cũng thừa biết. Hằng ngày, quanh chúng ta, những cảnh tượng nhân và quả ấy diễn ra không ngớt. Mở một tờ báo hằng ngày ra, chúng ta thấy ngay những bài học nhân quả: trước vành móng ngựa kẻ này bị hai năm tù v́ tội ăn trộm; kẻ kia giết người cướp của bị lên máy chém; kẻ nọ say mê cờ bạc thụt két bị tịch biên gia sản; cô kia ngoại t́nh bị chồng chém v.v...
Nói một cách tổng quát, về phương diện vật chất cũng như tinh thần, người ta gieo thứ ǵ th́ gặt thứ ấy. Người Pháp có câu: “Mỗi người là con đẻ của công nghiệp ḿnh” (chacun est le fils de son oeuvre).
IV. LỢI ÍCH DO SỰ HIỂU BIẾT LUẬT NHÂN QUẢ ĐEM LẠI CHO CHÚNG TA
Khi chúng ta đă biết rơ luật Nhân quả, nhưng nếu chúng ta không đem nó ra ứng dụng trong đời sống của chúng ta, th́ sự hiểu biết ấy trở thành vô ích.
Cho nên chúng ta đă hiểu rơ luật nhân quả th́ phải cố gắng thật hành cho được bài học ấy trong mọi trường hợp. Nếu chúng ta biết đem luật nhân quả làm một phương châm hành động và suy luận, th́ chúng ta sẽ thuộc lượm được rất nhiều lợi ích:
1. Luật nhân quả tránh cho ta những mê tín dị đoan, những tin tưởng sai lầm vào thần quyền:
Luật nhân quả cho chúng ta thấy được thực trạng của sự vật, không có ǵ là mơ hồ, bí hiểm. Nó vén lên tất cả những cái màn đen tối, phĩnh phờ của mê tín, dị đoan đang bao trùm sự vật.
Nó cũng phủ nhận luôn cái thuyết chủ trương vav do một vị Thần sinh ra và có uy quyền thưởng phạt muôn loài. Do đó, người hiểu rơ luật nhân quả sẽ không đặt sai ḷng tin tưởng của ḿnh, sẽ không cầu xin một cách vô ích, không ỷ lại thần quyền, không lo sợ, hoang mang.
2. Luật nhân quả đem lại ḷng tin tưởng vào chính con người:
Khi đă biết cuộc đời là do nghiệp nhân của chính ḿnh tạo ra, ḿnh là người thợ tự xây dựng đời ḿnh, ḿnh là kẻ sáng tạo, mà không tin tưởng ở ḿnh th́ c̣n tin tưởng ở ai nữa?
Ḷng tự tin ấy là một sức mạnh vô cùng quí báu, làm cho con người dám hoạt động, dám hy sinh, hăng hái làm điều tốt, v́ những hành động tốt đẹp ấy, ho biết sẽ là những cái nhân quí báu đem lại những kết quả đẹp đẽ.
3. Luật nhân quả làm cho chúng ta không chán nản, không trách móc:
Người hay chán nản, hay trách móc, là v́ đă đặt sai ḷng tin của ḿnh, là v́ đă có thói quen ỷ lại ở kẻ khác, là v́ đă hướng ngoại.
Nhưng khi đă biết ḿnh là động lực chính, là nguyên nhân chính của mọi thất bại hay thành công, th́ c̣n chán nản trách móc ai nữa?
Đă biết ḿnh là quan trọng như thế chỉ c̣n lo tự sửa ḿnh, lo thôi gieo nhân xấu để khỏi phải gặt quả xấu, thôi tạo giống ác để khỏi mang quả ác.
V. MỘT THÁI ĐỘ CẦN THIẾT TRONG KHI ÁP DỤNG LUẬT NHÂN QUẢ: NGHĨ ĐẾN QUẢ TRƯỚC KHI GÂY NHÂN
Chúng ta đă thấy rơ những ích lợi do sự hiểu biết luật nhân quả đem lại cho mỗi chúng ta. Đến đây chúng tôi muốn dành riêng một đoạn, để nhấn mạnh vào một điểm vô cùng quan trọng, mà nếu chúng ta biết triệt để khai thác trong khi áp dụng luật nhân quả, th́ lợi ích sẽ vô cùng rộng lớn.
Đó là trong mọi hành động của chúng ta, bao giờ cũng nên nghĩ đến quả, mà trồng nhân. Những người không nghĩ đến quả mà cứ gieo nhân bừa băi, th́ thế nào cũng gặt nhiều tai họa, gây tạo cho ḿnh nbh điều phiền phức, có khi làm ung độc cả cuộc đời, cả sự sống.
Chỉ có những người nông nỗi, liều lĩnh mới không nghĩ đến ngày mai, mới sống qua ngày. Chứ những người sáng suốt làm việc có kế hoạch khôn ngoan, th́ bao giờ cũng nhắm cái đích, rồi mới đi tới, h́nh dung rơ ràng cái quả rồi mới trồng nhân.
Câu chuyện sau đây có thể chứng minh một cách hùng hồn ư nghĩa nói trên:
Xưa có một vị Hiền giả nêu ở giữa chợ một tấm bảng như sau:
“Ai chịu trả một ngàn lượng vàng,
Tôi sẽ bán cho một bài học”.
Tấm bảng treo đă nhiều ngày mà không ai thèm hỏi đến. Một hôm, một vị vua, nhân đi dạo chơi ngang qua chợ, trông thấy, động tánh hiếu kỳ, mới đến chỗ Hiền giả, lấy một ngàn lượng vàng, hỏi mua bài học ấy.
Sau khi nhận đủ số vàng, nhà Hiền triết đưa bài học ra. Bài học vỏn vẹn chỉ có một câu giản dị như sau:
“Phàm làm việc ǵ, trước phải xét kết quả của nó về sau”.
Các quan tùy tùng thấy vậy xầm x́ với nhau:
“Nhà vua bị gạt! Một câu nói như thế, có hay ho ǵ đâu mà phải mua đến một ngàn lượng vàng?”
Trong lúc đó, nhà vua cũng phân vân, không hiểu bài học giản dị ấy, tại sao lại đắt giá đến thế?
Khi về cung, nhà vua cứ suy nghĩ măi về câu nói ấy. Trong lúc ấy như mọi đêm khác, trong cung đều có mở yến tiệc linh đ́nh, cung phi mỹ nữ ca hát suốt đêm, để nhà vua mặc t́nh vui chơi với tửu sắc. Nhưng hôm nay, v́ bị bài học của nhà Hiền triết ám ảnh, bắt vua suy nghĩ:
“Nếu ta say mê tửu sắc măi như thế này, th́ kết quả sẽ ra sao? Thân thể sẽ suy nhược tinh thần tiều tụy và mau chết, việc triều đ́nh phế bỏ, rồi sẽ đi đến chỗ mất nước, dân chúng trở thành nô lệ cho ngoại bang, đời đời nhục nhă và khổ đau! ...”
Nhận thấy rơ cái kết quả xấu xa nghuy hiểm của tửu sắc như thế, vua liền truyền lịnh dẹp ngay yến tiệc, ca hát, và bắt đầu từ đó vua lo chỉnh đốn lại nước nhà, sửa sang binh bị ...
Hai năm sau, một nước láng giềng đem binh đến cướp nước, nhà vua nhờ sớm giác ngộ, lo xây dựng cho nước được hùng cường, nên đă đuổi lưi được quân giặc. Bấy giờ nhà vua mới tự bảo:
“Bài học của nhà Hiền triết quư giá lắm! Một ngàn lượng vàng c̣n rẻ”.
Nhà vua bèn ra lịnh chép bài học ấy, dán khắp tất cả mọi nơi, cho đến mâm cơm, chén nước cũng truyền khắc vào.
Một hôm có người trong hoàng thân muốn tiếm đoạt ngôi vua, nên thuê quan Ngự y một số tiền lớn để thừa lúc vua đau, tráo dâng thuốc độc. Lănh tiền xong, quan Ngự y sau khi chế thuốc độc xong, lén rót vào chén, định dâng lên vua uống, nhưng khi nh́n thấy mấy chữ khắc trong chén:
“Phàm làm việc ǵ, trước phải xét kết quả của nó về sau”.
Quan Ngự y sực tỉnh và suy nghĩ: “Tội thí vua này, nếu bị phát giác ra, sẽ bị tru di tam tộc, chứ không phải tầm thường”.
Quan Ngự y sau khi xét kết quả việc làm của ḿnh gớm ghê như thế, nên đă đổ chén thuốc và thú tội với nhà vua. Nhà vua thấy quan Ngự y đă biết ăn năn hối cải như thế, nên rộng ḷng ân xá và c̣n ban cho một số tiền bạc to tát nữa.
Nhờ bài học này, nước nhà khỏi mất, dân tộc khỏi làm nô lệ cho ngoại bang, nhà vua khỏi chết, nên vua cho bài học này là vật báu vô giá.
Vậy chúng ta cũng nên đem bài học này áp dụng vào mọi công việc hằng ngày của chúng ta. Khi chúng ta ham mê cờ bạc, nên nhớ cái kết quả của nó sẽ là vong gia bại sản, thiếu trước hụt sau, nợ nần đ̣i hỏi.
Khi lăm le muốn gần tửu sắc, hăy xét đến kết quả của nó sẽ làm thân thể hao ṃn, đa mang tật bệnh, danh giá chôn vùi.
Khi nóng giận muốn làm hại người, nên xét cái kết quả của nó về sau là “oan oan tương báo”, hại người tất sẽ bị người hại lại. Khi móng niệm tham lam tiền bạc của cải của người, nên xét kết quả về sau là tù tội gông xiềng v.v...
Tóm lại, nếu chúng ta biết đem bài học nhân quả này mà áp dụng trong tất cả mọi công việc làm hằng ngày của đời ḿnh, th́ chúng ta sẽ thấy tánh t́nh và hành vi của chúng ta mỗi ngày cải tiến, các việc sái quấy sẽ giảm bớt, và từ địa vị người vượt lên địa vị thánh, hiền, không phải là điều không làm được.
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1015 of 2534: Đă gửi: 13 November 2008 lúc 10:40am | Đă lưu IP
|
|
|
NHƠN QUẢ-NGHIỆP VÀ LUÂN HỒI
NGHIỆP
( CHƯƠNG HAI )
Ngày xưa có một gă thanh niên, uất ức trước trạng huống bất công giữa loài người, muốn t́m cho ra chân lư, nên đă đến hỏi Phật:
- Bạch đức Thế Tôn, đâu là nguyên nhân, là nguồn gốc của sự bất công giữa chúng sinh? Tại sao có kẻ chết yểu, có người sống lâu, có kẻ khỏe mạnh, có người tàn tật, có người đẹp đẽ, có kẻ cô độc, có người đông con, có kẻ nghèo khó, có người giàu sang, có kẻ sanh trong gia đ́nh đê tiện, có người sanh trong ḍng dơi quí phái, có kẻ ngu muội, có người khôn ngoan?
Đúc Phật đă trả lời vắn tắt, nhưng đầy ư nghĩa như sau:
- Mỗi chúng sinh đều có những hành vi riêng; những hành vi ấy làm món quà gia bảo, làm vật di truyền, làm người bạn chí thân, làm chỗ nương tựa của họ. Chính những hành vi ấy là cái nghiệp đă làm cho chúng sinh khn trong cảnh trạng dị đồng này.
Kinh Atthasâlissi lại dạy rơ hơn:
“ Do nơi sự khác nhau trong nghiệp mà có những sự khác nhau trong chúng sinh, kẻ sanh ra trong gia đ́nh quyền quư, người sanh ra trong gia đ́nh đê tiện, kẻ sanh ra trong sự nguyền rủa, người sanh ra trong sự tôn trọng, kẻ sanh ra được hưởng hp, người sanh ra phải chịu khổ sở”.
Như vậy th́ mọi việc xảy ra cho mọi người là do nghiệp cả. Nhưng nghiệp là cái ǵ mà quan trọng đến thế?
I. ĐỊNH NGHĨA
Chữ nghiệp là do dịch nghĩa chữ Kamma trong tiếng Pali ra. Dịch âm là Kiết ma. Nghiệp nghĩa là hành động, việc làm của thân, khẩu, ư. Khi chúng ta nghĩ một điều ǵ, nói một câu ǵ, làm một việc ǵ, lành hay dữ, xấu hay tốt, nhỏ nhặt hay to lớn, mà có ư thức, đều gọi là nghiệp.
Những việc làm vô ư thức không phải là nghiệp. Đức Phật dạy: “Này các thầy Tỳ kheo, Như Lai nói rằng tác ư là nghiệp”. Tác ư bắt nguồn sâu xa trong vô minh và ái dục, c̣n vô minh, c̣n ái dục, c̣n ham muốn, th́ mọi hành động, lời nói, tư tưởng đều là nghiệp.
II. SỰ H̀NH THÀNH CỦA NGHIỆP
Trong đoạn nói về luật Nhân quả, chúng ta đă thấy về phương diện vật chất cũng như tinh thần, hễ có nhân th́ thế nào cũng có quả, và quả lại làm nhân để tạo thành quả khác. Nhân quả đấp đổi cho nhau và tiếp nối măi không dứt.
Trong phạm vi con người khi mới tạo ra hành động nào bất luận bằng thân, khẩu, hay ư th́ hành động ấy gọi là nghiệp nhân. Vang bóng ảnh hưởng của nghiệp nhân ấy, được gieo vào trong ruộng tiềm thức, và trưởng thành dần.
Khi nó có đủ cơ duyên, vang bóng, ảnh hưởng ấy kết thành quả (nghĩa là phát lộ ra bằng hành động thân, khẩu, ư khác), th́ gọi là nghiệp quả. Vang bóng ảnh hưởng của nghiệp quả này, được gieo vào tiềm thức để làm nghiệp nhân cho nghiệp quả về sau.
Ruộng tiềm thức chất chứa, nuôi dưỡng tất cả những hạt nhân và quả ấy, và trở thành ruộng thiện, nếu những nghiệp nhân và quả của người hành động đều thiện; trở thành ruộng ác, nếu nghiệp nhân và quả của người ấy đều ác; hay trở thành ruộng nửa thiện nửa ác, nếu những nghiệp nhân và quả của người ấy có thiện có ác.
Cũng như khi chúng ta dùng một thửa ruộng để trồng đậu th́ chúng ta có một đám ruộng toàn đậu; khi ta trồng bắp th́ ta có một thửa ruộng bắp; c̣n nếu chúng ta vừa trồng cả đậu lẫn bắp th́ ta có đám ruộng bắp đậu lẫn lộn.
Một thí dụ khác: Mỗi nhà họa sĩ đều có một tấm gỗ để thử màu, trộn màu. Mỗi khi tô màu ǵ lên bức tranh, th́ họa sĩ lấy màu để trộn hay thử trước trên tấm gỗ ấy.
Nếu họa sĩ có một tánh t́nh nồng nhiệt thích màu đỏ nhiều hơn các màu khác, th́ tấm gỗ ấy lâu ngày trở thành màu đỏ, nếu họa sĩ có tánh t́nh hiền dịu, thích màu xanh hơn các màu khác, th́ tấm gỗ ấy, nổi bật lên màu xanh.
Những bức tranh th́ họa sĩ đă bán cho người khác, nhưng tấm gỗ th́ luôn luôn c̣n lại bên ḿnh họa sĩ và khi chỉ nh́n vào tấm gỗ ấy, người ta có thể đoán biết họa sĩ đă vẽ trong những bức tranh màu ǵ.
Cũng như hành động, lời nói tư tưởng của ta đă tản mát trong không gian tan biến trong thời gian, mà ảnh hưởng, vang bóng của chúng c̣n lại trong tiềm thức, tạo cho ta một cá tính riêng biệt hoặc hiền hoặc dữ, hoặc siêng hoặc nhác ...
Và khi nhận thấy cá tính của ta, người tinh ư có thể đoán biết được đại khái tánh cách những hành động của ta trong quá khứ, cũng như trong tương lai.
Ông Lương Khải Siêu, một học giả Trung Quốc, khi bàn về cái nghiệp, có làm một thí dụ rất có ư nghĩa như sau:
“H́nh tướng cứu cánh của nghiệp lực là thế nào? Quí vị không nghe câu chuyện những nhà uống trà chuyên môn sao? Cái b́nh trà càng cũ càng ngon, nếu cái b́nh trà ấy xưa nay vẫn chế trà ngon.
V́ sao vậy? Là v́ mỗi khi pha trà th́ trong b́nh trà có một sự thay đổi, tuy mỗi khi uống xong, b́nh súc sạch sẽ chẳng c̣n thấy ǵ, nhưng thật ra có một phần chất trà thấm vào b́nh, lần thứ hai bỏ trà mới vào, chất trà lần trước đă thấm vào b́nh lại tác dụng ra làm cho trà mới ngon hơn, cứ thế lần thứ ba, thứ tư cho đến trăm ngàn lần, lần nào chất trà cũ cũng tác dụng ra, chất trà mới thấm thêm vào càng lâu càng nhiều.
Lúc bấy giờ, không cần bỏ trà, chỉ chế nước sôi, (chẳng qua 1 lần) cũng vẫn có mùi vị uống được. Dùng nha phiến cũng thế, người nghiện thích dùng dọc tẩu cũ là v́ đă thấm thuốc nhiều. Chất trà thấm vào b́nh, chất thuốc thấm trong dọc tẩu, theo danh từ Phật giáo có thể gọi nó là trà nghiệp, yên nghiệp.
Tuy nhiên đem thí dụ như thế không được hoàn toàn đúng là v́ một đằng thuốc phiện, trà là vô sanh mạng, một đằng người có sanh mạng; dù sao đứng về phương diện h́nh tướng của nghiệp, cũng tương tợ được vài phần (lược khảo Phật giáo Ấn Độ, bản dịch của Thích Nguyên Hồng).
III. SỨC MẠNH VÀ SỰ TỒN TẠI CỦA NGHIỆP
Nghiệp lực không có h́nh tướng, không ai có thể trông thấy được, nhưng nó có một tác dụng vô cùng mănh liệt.
Như điện lực, tuy không trông thấy được h́nh dáng ở đâu và như thế nào, nhưng khi đă đủ điều kiện th́ nó phát sinh ra nào ánh sáng, nào sức nóng, nào hơi lạnh, nào sức mạnh v.v... nghiệp lực thúc đẩy người này thích hoàn cảnh này, người kia thích hoàn cảnh khác.
Nó là ṇng cốt của mọi tưu tưởng lời nói, mọi việc làm. Chúng ta thường thấy có những người quen thói đánh bạc, nhiều lần thua lỗ, vợ con khóc lóc, bạn bà khuyên bảo, đă quyết tâm xa con bài lá bạc nhiều lần, thế mà mỗi khi làm ǵ, cũng không quên được ṣng bạc, đi đâu rồi cũng nhắm hướng như Kim chung, Đại thế giới mà đến!
Người ta bảo rằng người ấy có nghiệp đánh bạc. Những người nghiện thuốc phiện, rưọu, gái cũng có cái nghiệp riêng của họ cả. Càng đi sâu vào một con đường nào, th́ cái nghiệp do con đường ấy huân tập càng nặng nề, mănh liệt chừng nấy.
Nghiệp không phải chỉ có sức mạnh mà c̣n tồn tại dai dẳng, không bao giờ chấm dứt, nếu chưa giác ngộ. Điều này cũng rất dễ hiểu:
Có nghiệp nhân th́ tất có nghiệp quả, nghiệp quả khi đă phát hiện th́ lại làm nhân cho nghiệp quả sau, cứ xoay vần như thế măi, như một bánh xe lăn xuống dốc, sức đẩy của ṿng thứ nhất làm nhân cho ṿng lăn thứ hai, sức đẩy của ṿng lăn thứ hai làm nhân cho ṿng lăn thứ ba, và cứ tiếp tục như thế măi cho đến bao giờ hết dốc mới dừng nghỉ.
Nghiệp cũng nằm trong luật nhân quả và bị chi phối của luật nhân quả. Trong chương một, chúng ta đă biết thời gian từ khi nhân phát sinh đến khi quả h́nh thành, có khi nhanh, khi chậm, th́ thời gian từ nghiệp nhân đến nghiệp quả cũng có khi mau khi chậm, có khi chỉ trong một đời, cũng có khi hai đời, có khi nhiều đời.
Nhưng dù chậm hay mau, đă gây nghiệp th́ thế nào cũng chịu quả báo. Khế kinh có dạy: “giả sử trăm ngh́n kiếp, nghiệp nhân đă làm cũng không mất, khi nhân duyên hội ngộ, th́ quả báo đến”.
IV. CÁC LOẠI NGHIỆP
Đứng về phương diện thời gian, kinh “Nhân quả” có chia các nghiệp như sau:
1. Thuận hiện nghiệp: Đời nay tạo nghiệp, đời sau thọ quả.
2. Thuận sinh nghiệp: Đời nay tạo nghiệp, đời sau chịu quả.
3. Thuận hậu nghiệp: Đời nay tạo nghiệp, cách mấy đời sau mới chịu quả.
4. Thuận bát định nghiệp: Nghiệp quả xảy đến không nhất định thời nào, có khi trong đời này, có khi đời sau, có khi nhiều đời sau.
Đứng về phương tiện tính chất, trong các kinh thường phân loại các nghiệp như sau:
i. Tích lũy nghiệp: Là những nghiệp tạo tác trong nhiều đời trước chất chứa lại.
ii. Tập quán nghiệp: Là những nghiệp tạo trong đời hiện tại, luôn luôn tiếp diễn, nên thành thói quen, thành tập quán, thành nếp sống riêng biệt.
iii. Cực trọng nghiệp: Là những nghiệp quan trọng có năng lực tác động mănh liệt hơn cả các nghiệp khác và chi phối tất cả. Nó phát hiện nghiệp quả ngay trong đời hiện tại, hay trong đời kế tiếp.
Nó có thể là kết quả của những hành vi tốt đẹp nhất như hành vi của kẻ tu hành chân chính, nó cũng có thể là kết quả của những hành vi xấu xa, vô đạo nhất như tội ngũ nghịch: giết cha, giết mẹ, giết A la hán, làm hại Phật và chia rẽ Tăng chúng.
iv. Cận tử nghiệp: Là những nghiệp lực gần lúc lâm chung, cũng rất mănh liệt và chi phối rất nhiều trong sự đi đầu thai.
Đứng về phương diện nặng nhẹ, lớn nhỏ của các nghiệp, th́ trong các kinh cũng chia chẻ một cách rất khoa học và hợp lư, Không phải rằng hành động nào có h́nh thức giống nhau th́ nghiệp nhân và nghiệp quả đều giống nhau.
Sự khinh trọng, lớn nhỏ của quả báo đều có căn cứ nơi ư để thành lập. Kinh Ưu bà tắc, trong khi nói về sự nặng, nhẹ, lớn nhỏ của nghiệp nhân và nghiệp quả, có phân chia làm bốn trường hợp:
a. Việc nặng mà ư nhẹ: như khi quăng đá để dọa người, mà lỡ tay giết phải người.
b. Việc nhẹ mà ư nặng: như khi thấy một tượng đá, tưởng là kẻ thù của ḿnh, nắm dao đến đâm, kết quả của việc làm v́ tượng đá bị sứt mẻ, nhưng ư th́ nặng là muốn giết người.
c. Việc và ư đều nhẹ: như v́ không thích một người nào, nên dùng lời để châm biếm người ấy.
d. Việc và ư đều nặng: như v́ thù, cố ư giết người và đă giết thật.
Cũng trong kinh Ưu bà tắc, có sự phân chia tội báo nặng nhẹ thành tám loại như sau:
a. Phương tiện nặng nhưng căn bản và thành dĩ nhẹ: như lấy dao dọa người, chẳng may động đến họ, họ bị thương. Phương tiện (cầm dao) th́ nặng, nhưng căn bản (dọa người, chứ không phải ác ư) th́ nhẹ và thành dĩ (bị thương) cũng nhẹ.
b. Căn bản nặng, nhưng phương tiện và thành dĩ nhẹ: như muốn giết người, nhưng chỉ lấy đá ném và v́ thế, họ chỉ bị thương thôi. Căn bản (muốn giết) th́ nặng, nhưng phương tiện (lấy đá ném) và thành dĩ (vết thương) đều nhẹ.
c. Thành dĩ nặng, nhưng căn bản và phương tiện nhẹ: như ném đá chơi, chẳng may vỡ sọ người ta. Thành dĩ (vỡ sọ) nặng mà căn bản (chơi) và phương tiện (ném đá) đều nhẹ.
d. Phương tiện và căn bản nặng, thành dĩ nhẹ: như muốn giết người, chém một nhát mạnh vào yết hầu, nhưng người ấy chỉ bị thương xoàng thôi. Phương tiện (cầm dao chém) và căn bản (muốn giết người) đều nặng, nhưng thành dĩ (vết thương xoàng) nhẹ.
e. Phương tiện và thành dĩ nặng, căn bản nhẹ: như vô ư để xe cán người chết. Phương tiện (xe cán) và thành dĩ (người chết) đều nặng, nhưng căn bản (vô ư) th́ nhẹ.
f. Căn bản và thành dĩ nặng, nhưng phương tiện nhẹ: như ác ư nói láo, đến nỗi kẻ kia phải bị tù tội. Căn bản (ác ư) và thành dĩ (tù tội) đều nặng, nhưng phương tiện (nói láo) th́ nhẹ.
g. Căn bản, thành dĩ và phương tiện đều nặng: Muốn giết người và đă dùng dao chém người đến chết. Căn bản (muốn giết người) thành dĩ (người chết) và phương tiện (chém) đều nặng.
h. Căn bản, thành dĩ và phương tiện đều nhẹ: như giả giết bằng cách quơ dao làm người kia sợ trong chốc lát. Căn bản (giả giết) thành dĩ (làm sợ hăi) và phát triển (quơ dao) đều nhẹ.
Sự phân chia rơ ràng trên đây đủ cho chúng ta thấy được sự sai khác nặng nhẹ của nghiệp nhân vá quả. Theo đó, chúng ta có thể kết luận rằng sự khinh trọng của nghiệp báo đều dựa căn bản ở ư.
Và như thế, chúng ta đừng lấy làm lạ tự hỏi tại sao hai người cùng làm một việc giống nhau mà thọ quả báo lại khác nhau, hành động giống nhau là bên ngoài, chứ tác ư ở bên trong làm sao chúng ta biết được? V́ thế, chúng ta không nên nh́n bên ngoài mà phê phán được.
V. KHÔNG NÊN LẦM TƯỞNG NGHIỆP LÀ HỒN
Có người nghĩ rằng nghiệp chi phối tất cả đời sống con người, nghiệp là chủ động, nghiệp tồn tại măi măi, th́ nghiệp chẳng khác ǵ linh hồn bất tử. Độc lập một quan niệm sai lầm.
Đạo Phật không bao giờ công nhận có linh hồn bất tử. Đạo Phật đă chủ trương mọi sự mọi vật, đều vô thường, th́ không lư nào lại công nhận có một linh hồn vĩnh viễn trựng tồn, bất biến.
Theo đạo Phật con người là một sự tổ hợp của năm nhóm (ngũ uẩn) vật chất và tinh thần: sắc (xác thân), và thọ, tưởng, hành, thức (tinh thần). Năm nhóm này biến đổi từng phút từng giây như một ḍng nước.
Khi mệnh chung, những nhóm ấy tan ră, nhưng kết quả của những hành động về thân, khẩu, ư của người ấy vẫn c̣n tác động. Cái c̣n lại đó là nghiệp. Cái nghiệp này chất chứa những ước vọng thầm kín, nhưng mănh liệt nhất của con người, là sự tham sống và sự luyến ái.
Nên biết một kẻ tự tử, cũng không phải là đă hết muốn sống. Họ không muốn sống cái đời họ đang sống nên họ muốn chấm dứt nó để sống một đời sống khác tốt đẹp hơn. Và như thế, động lực của sự tự tử vẫn là do ḷng tham sống mănh liệt hơn. Ḷng tham sống và ái dục là những nguyên nhân chính của những hành động của con người lúc sống, th́ khi chết, cái kết quả của những hành động ấy vẫn là ḷng tham sống và ái dục.
Do ḷng tham sống và ái dục ấy, nên khi lâm chung, nghiệp lực rời bỏ thân các này và đi t́m một thân xác khác gá vào để thỏa măn những ước vọng tham dục của ḿnh. Đó là nguyên nhân của kiếp sau.
Như thế, không cần có một linh hồn bất biến mới có đời sau. Sự nối tiếp từ đời này sang đời khác là do ở nghiệp cả. Nghiệp là động lực chính của ḍng sinh mạng nối tiếp từ kiếp này sang kiếp khác, cũng như gió là nguyên nhân làm cho sóng dậy và tiếp nối từ làn này sang làn khác.
Bao giờ c̣n gió nghiệp th́ c̣n sóng đời. Gió nghiệp dừng nghỉ th́ biển đời sẽ thanh tịnh. Và khi ấy sẽ không c̣n sống chết, đầy vơi ǵ cả.
VI. HÀNH TƯỚNG CỦA NGHIỆP LỰC TRONG KHI ĐI ĐẦU THAI
Sau khi một thân mạng đă trút hơi thở cuối cùng, nghiệp lực rời bỏ thân mạng ấy để đi t́m một thân mạng khác gá vào. Dắt dẫn bởi ái dục, nó đi t́m những cuộc giao phối giữa nam nữ. Nghiệp nhân quá khứ như thế nào th́ nó đi t́m hoàn cảnh thích hợp với nghiệp nhân như thế ấy. Hoàn cảnh ấy đạo Phật gọi là y báo. Y báo có thể sáng sủa hay tối tăm, an vui hay buồn thảm, thanh tịnh hay ô uế ... tùy sự lựa chọn thích hợp của nghiệp quá khứ.
Như luồng điện phát ra ở đài phát thanh ngắn hay dài, bao nhiêu thước tấc th́ nó sẽ t́m máy thu thanh vặn đúng thước tấc ấy để vào. Chỉ có khác là luồng điện có thể vào một lúc nhiều máy thu thanh, c̣n nghiệp lực th́ chỉ đi dầu thai ở một nơi mà thôi. Một cái thai đậu được phải đủ ba yếu tố: tinh trùng của cha, trứng của mẹ, thần thức và nghiệp lực.
Thiếu một trong ba yếu tố ấy, thai không thành, Khi thai dă thành là một đời mới bắt đầu. Nói là mới, nhưng thật ra cái đời sau này vẫn c̣n mang những mầm giống của nghiệp nhân quá khứ. Những nghiệp nhân này cứ tuần tự theo cới thời gian và tùy hoàn cảnh mà phát triển dần. Những nghiệp nhân nào v́ chưa đủ trợ duyên để phát hiện ra nghiệp quả trong đời này, th́ có thể phát sinh trong một đời sau nếu hội đủ nhân duyên.
Trên đây, chúng tôi chỉ nói riêng về cái hành tướng của nghiệp lực trong khi đi đầu thai ở cảnh giới người.
Nhưng một nghiệp lực không phải chỉ quanh quẩn trong cảnh giới người, mà có thể đi t́m một cảnh giới khác trong sáu cảnh giới mà đạo Phật thường nói đến, là: Thiên, Nhân, A tu la, Ngạ Quỷ, Súc sinh và Địa ngục.
Đến đây, chúng ta thấy mở ra trước mắt chúng ta một vấn đề rộng răi bao quát hơn. Đó là vấn đề luân hồi, mà chúng tôi xin tŕnh bày ở chương sau.
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1016 of 2534: Đă gửi: 13 November 2008 lúc 10:55am | Đă lưu IP
|
|
|
NHƠN QUẢ-NGHIỆP VÀ LUÂN HỒI
LUÂN HỒI
( CHƯƠNG BA )
I. ĐỊNH NGHĨA
Luân hồi dịch ở tiếng Phạn là Samsara (lưu chuyển). Theo chữ Hán th́ luân là bánh xe, hồi là xoay tṛn. H́nh ảnh bánh xe quay tṛn là một h́nh ảnh rất rơ ràng mà Phật đă dùng để h́nh dung sự xoay chuyển lên xuống của chúng sinh trong sáu cơi (lục đạo) và sự tiếp nối sinh tử, tử sinh không cùng tận trong sáu cơi ấy.
Luân hồi hay Samsara là một danh từ, một h́nh ảnh do Phật đặt ra, nhưng cái nội dung của nó là một sự thật, một trạng thái có thật trong cơi đời, có thể chứng nghiệm được, chứ không phải là một lư thuyết xây dựng trong không tưởng.
Khi chúng ta đă chứng nghiệm được luật nhân quả trong vũ trụ, th́ chúng ta cũng phải công nhận sự luân hồi, luân hồi chẳng qua là nhân quả liên tục, nhưng v́ khi nó biến, khi hiện, khi lên, khi xuống, khi mất, khi c̣n, khi thay h́nh đổi dạng, nên chúng ta tưởng như gián đoạn và không ảnh hưởng chi phối lẫn nhau.
II. DẪN CHỨNG SỰ LUÂN HỒI TRONG MỌI SỰ VẬT
Trong vũ trụ, tất cả sự vật, từ vật nhỏ như hạt bụi, đến vật lớn như quả địa cầu, không vật nào chẳng luân hồi.
1. Đất luân hồi: Như cái b́nh bông đang ở trước mặt chúng ta đây, trước kia nó là đất, người thợ gốm đem nó nhồi nặn làm thành cái b́nh. Trải qua một thời gian, cái b́nh sẽ bị bể nát, tan thành cát bụi và trở về lại trạng thái đất cát. Đất cát này làm thức ăn cho cây cỏ, cây cỏ hoặc tàn lụi sau một thời gian để trở thành phân bón hay đất cát, hoặc làm thực phẩm cho động vật.
Động vật ăn cây cỏ này vào hoặc bài tiết ngay ra ngoài để thành phân, thành đất hoặc biến thành máu huyết da thịt, để một ngày kia thân thể động vật già yếu, sẽ tan ră thành đất cát lại. Bao nhiêu lần thay h́nh đổi dạng, v́ nhân duyên này hoặc nhân duyên khác, nhưng đất cát, nó cũng lại trở thành đất cát sau một thời gian, sau một ṿng luân chuyển dài hay ngắn.
2. Nước luân hồi: Nước ở biển bị sức nóng mặt trời bốc thành hơi, hơi bay lên không, gặp hơi lạnh biến thành mây, mây nhiều tụ lại rơi xuống thành mưa, mưa chảy xuống ao hồ, hoặc gặp hơi lạnh quá, đông lại thành băng thành giá.
Băng giá gặp hơi nóng mặt trời tan ra nước trở lại. Từ vô thỉ đến nay, nước thay đổi trạng thái biết bao nhiêu lần, xoay vần măi măi như vậy, nhưng nước vẫn là nước. Hiện tượng của nước th́ biến đổi vô cùng, nhưng bản thể của nước th́ không bao giờ mất. Nó chỉ luân hồi mà thôi.
3. Gió luân hồi: Gió là sự luân chuyển của không khí. Không khí bị sức nóng mặt trời bốc cháy, dăn ra, bốc lên cao làm thành những khoảng trống, để bù vào khoảng trống ấy, không khí ở các nơi khác chạy tới điền vào, gây thành luồng gió.
Không khí xê dịch chậm th́ gió nhỏ, không khí xê dịch nhanh th́ gió lớn, xê dịch nhanh nữa th́ thành băo. Gió có khi hiu hiu, khi thoang thoảng, khi hay hẩy, khi ào ào, khi cuồn cuộn, nhưng bản chất của nó bao giờ cũng là sự rung dộng của không khí.
4. Lửa luân hồi: Lửa là một sức nóng làm cháy được vật. Khi đủ nhân duyên th́ sức nóng phát ra lửa. Chẳng hạn hai thanh củi trong trạng thái b́nh thường th́ chúng ta chẳng thấy sức nóng ở đâu cả, nhưng khi chà xát vào nhau một hồi th́ lửa liền bật lên.
Ngọn lửa này có thể đốt cháy hai thanh củi này một phần hóa thành trong than, một phần biến thành thán khí. những cây khác dùng rễ ḿnh để thu hút tro than, và dùng lá để thu hút thán khí, chất chứa lại sức nóng để một ngày kia, gặp đủ nhân duyên lại bừng cháy lên.
Như thế sức nóng bao giờ cũng có sẵn, nhưng khi th́ nó ở trạng thái tiềm phục, khi th́ ở trạng thái hiện thành lửa. Mắt chúng ta chỉ thấy khi nó phát hiện và chỉ khi ấy mới cho là nó có, c̣n khi nó ở trạng thái tiềm phục th́ ta bảo là nó không có. Thật ra th́ nó chỉ luân hồi qua những trạng thái khác nhau, chứ không phải dứt đoạn hay mất hẳn.
5. Cảnh giới luân hồi: Trong kinh Phật thường chép: “Thế giới nhiều như cát sông Hằng”. Thật thế, ban đêm chúng ta nh́n lên trời, thấy hằng hà sa số tinh tú. Mỗi tinh tú là một thế giới, và mỗi thế giới ấy đều không thoát ra ngoài định luật chung là thành, trụ, hoại, không.
Mỗi phút giây nào cũng có những sự sanh diệt của thế giới. thế giới này tan đi, th́ một thế khác nhóm lên, như một làn sóng mất đi, th́ một làn sóng khác nổi lên, làm nhân quả, tiếp nối nhau, luân hồi không bao giờ dứt.
6. Thân người luân hồi: Thân người, hay thân thú vật cũng thế, xét cho cùng th́ cũng do tứ đại mà có là: đất, nước, gió, lửa. Những chất cứng dẻo như da, thịt, gân, xương là thuộc về đất; những chất đượm ướt như máu, mỡ, mồ hôi, nước mắt là thuộc về nước; hơi thở ra vào, trái tim nhảy, phổi hô hấp, tay chân cử động là thuộc về gió; hơi nóng trong người là thuộc về lửa.
Như trên chúng ta đă thấy, tứ đại đều luân hồi, th́ thân người do tứ đại mà có, cũng phải luân hồi theo. Khi thân này chết và đến lúc tan ră, th́ chất cứng dẻo trả về cho đất, chất đượm ướt trả về cho nước, hơi nóng trả về cho lửa, hơi thở và sự cử động trả về cho gió.
Rồi bốn chất này tùy theo nhân duyên chung hợp lại, làm thành cây cỏ hay thân người khác. Người đến khi chết, bốn chất đó cũng trở về bản thể củ của chúng. Khi thành thân người, lúc làm thân súc sinh, năm nay tụ họp ở đây, sang năm đă dời nơi khác, không phải thường c̣n, cũng không phải mất hẳn mà là luân hồi.
Nhà học giả có tiếng của Trung Quốc là ông Lương Khải Siêu trong khi nghiên cứu về Phật giáo Ấn Độ, ông có nói:
“... Con người luôn luôn, trong từng phút từng giây, đều ở trong luân hồi, bất quá hoặc mau hoặc chậm. Chậm th́ gọi là sanh diệt, hoặc biến dị, c̣n mau th́ gọi là luân hồi (luân hồi chẳng qua cũng là một h́nh thức trong các loại biến dị).
Xem như xác thân chúng ta, biến hóa không ngừng, không đầy một tuần cũng có thể hóa ra đất đai, bụi bặm bên đường”.
7. Tinh thần luân hồi: Con người không phải chỉ gồm có tứ đại. Ngoài tứ đại c̣n có phần tâm linh nữa, hay nói một cách tổng quát hơn, c̣n có tinh thần. Độc lập gồm tất cả những thứ mà đạo Phật gọi là: thọ, tưởng, hành, thức.
Phần thể xác gồm tứ đại chỉ là phần mà đạo Phật gọi là sắc. Sắc đă không tiêu diệt mà chỉ biến hóa luân hồi, th́ tâm hay tinh thần cũng không tiêu diệt mà chỉ biến chuyển, xoay vần mà thôi.
Như trong chương hai đă nói, tất cả những hành động của thân tâm tạo thành cho mỗi chúng ta một cái nghiệp. Cái nghiệp ấy biến dịch, xoay vần măi, khi đội lốt này, khi mang h́nh dáng khác, khi rời cảnh giới này, khi vào cảnh giới khác, quay lộn, trôi lăn trong lục đạo (sáu đường), măi măi cho đến ngày nào được giác ngộ mới thôi.
Những sự lên xuống, trôi lăn, xoay vần của nghiệp trong ba cơi, sáu đường ấy không phải t́nh cờ, ngẫu nhiên, may rủi, vô lư, mà trái lại, nó ch́u theo, khuôn theo một cái luật chung, đó là luật nhân quả.
Dưới đây chúng ta sẽ đề cập đến vấn đề ấy một cách rơ ràng hơn.
III. LUÂN HỒI THEO NHÂN QUẢ
Có thể nói một cách chắc chắn rằng, chúng ta lúc sinh tiền tạo nhân ǵ, th́ khi chết rồi, nghiệp lực dắt dẫn tinh thần đến chỗ đó thọ quả báo không sai. Nếu tạo nhân tốt, th́ luân hồi đến cảnh giới giàu sang, thân người tốt đẹp.
C̣n tạo nhân tội ác th́ luân hồi đến cảnh giới nghèo hèn, thân h́nh xấu xa, đen đúa, hoặc tàn tật, khi thăng khi giáng, lúc bỗng lúc trầm ...
Sanh ở một cảnh nào, không phải sẽ ở luôn cảnh giới ấy. Nhân có hạn th́ quả cũng có chừng, Như người nắm trái banh liệng lên hư không, khi trái banh đi hết cái sức của nó, tất sẽ rơi xuống đất lại.
Chúng sinh ở cơi trời, hay cơi súc sanh, địa ngục cũng thế, hễ nghiệp quả hết th́ nghiệp nhân bắt đầu trở lại. Trong khi hưởng quả tốt, nếu không gấp rút tiếp tục gây nhân lành th́ đời sau chắc sẽ không c̣n ở trong cảnh giới tốt đẹp nữa.
Cho nên vấn đề chính là phải luôn luôn cố gắng vượt lên ḿnh, nếu muốn ḿnh được vươn lên cao hơn cảnh giới hiện tại. Một điều mà chúng ta không bao giờ nên quên là: mỗi chúng sinh là một tay thợ tự xây dựng đời ḿnh trong quá khứ, hiện tại, và tương lai.
Dưới đây là những cảnh giới mà một chúng sinh có thể bị hay được nhập vào tùy theo nghiệp nhân mà ḿnh đă tạo.
NHÂN QUẢ LUÂN HỒI TRONG SÁU CƠI PHÀM
1. Địa ngục: Tạo nhân sân hận, độc ác làm nhiều điều tội lỗi vừa hại ḿnh vừa hại người, phải luân hồi vào địa ngục, chịu đủ điều khổ sở.
2. Ngạ quỉ: Tạo nhơn tham lam, bỏn xẻn, không biết bố thí giúp đỡ người. Trái lại, c̣n mưu sâu kế độc, để cướp đoạt của người, sau khi chết luân hồi làm ngạ quỉ.
3. Súc sinh: Tạo nhân si mê, sa đọa, theo thất t́nh lục dục, tửu, tài, sắc, khí, không xét hay dở, tốt xấu, chết trồi luân hồi làm súc sinh.
4. A tu la: Gặp việc nhân nghĩa th́ làm, gặp việc sái quấy cũng không tránh, vừa cang trực, mà cũng vừa độc ác. Mặc dù có làm những điều phước thiện, nhưng tánh t́nh hung hăng nóng nảy vẫn c̣n, lại thêm tà kiến, si mê, tin theo tà giáo. Tạo nhân như vậy, kết quả sẽ luân hồi làm A tu la, gặp vui sướng cũng có mà buồn khổ cũng nhiều.
5. Loài người:
a. Biết giữ ǵn ḷng nhân từ, không sát nhân hại vật, không làm những điều đau khổ cho người.
b. Không tham lam trộm cướp tiền của, từ vật lớn như ngọc, ngà, châu báu đến vật nhỏ như cây kim, sợi chỉ.
c. Không trêu hoa ghẹo nguyệt, dâm loạn vợ con, phá hoại gia cang của người.
d. Không nói lời dối trá, xảo quyệt, thêm bớt, đâm thọc, không nói lời cộc cằn, thô tục.
đ. Không rượu trà say sưa, không làm những điều lầm lỗi. Tu nhân ngũ giới như vậy, đời sau sẽ luân hồi trở lại làm người, cao quư hơn muôn vật.
6. Cơi trời:
Bỏ 10 điều ác: không sát sinh, hại vật, không trộm cướp, tà dâm, không nói lời đâm thọc, hung ác, dối trá, thêu dệt, không tham dục, giận hờn và si mê.
Trái lại, c̣n làm 10 điều lành là: phóng sinh, bố thí, giữ hạnh trinh tiết, nói lời chắc chắn, đúng lư và nhu ḥa, trau giồi đức hỷ xả, từ bi và trí huệ.
Tu nhơn thập thiện như vậy, th́ sau khi chết được sanh lên cơi trời, nhưng nên nhớ cơi trời này cũng c̣n ở trong ṿng phàm tục, chịu cảnh sinh tử Luân hồi.
Muốn thoát ra ngoài cảnh sinh tử luân hồi và đến bốn cơi thánh th́ phải tu nhân giải thoát.
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1017 of 2534: Đă gửi: 13 November 2008 lúc 11:17am | Đă lưu IP
|
|
|
NHƠN QUẢ-NGHIỆP VÀ LUÂN HỒI
NHỮNG BẰNG CHỨNG LUÂN HỒI Ở ẤN ĐỘ
( CHƯƠNG BỐN )
I. MỘT CHUYỆN LUÂN HỒI Ở ẤN ĐỘ:
Cách đây vài chục năm, tờ báo Mai có chụp h́nh và đăng một câu chuyện như sau:
Tại Ấn Độ, ở thành Delhi, có một cô gái 8 tuổi tên Phanti Devi. Cô đă nhiều lần khóc lóc với cha mẹ đ̣i về thành Mita thăm chồng là một giáo viên. Thành Delhi các thành Mita trên 200km. Cha mẹ cô gái lấy làm lạ mời một phóng viên nhà báo đến để nhờ anh điều tra giùm.
Phóng viên nhà báo đến hỏi, th́ được cô cho trả lời rằng: cô là vợ của một giáo viên, ăn ở với nhau sanh được một đứa con. Khi đứa con lên 11 tuổi th́ cô lâm bịnh từ trần.
Người phóng viên hỏi xem cô ta có ǵ làm bằng chứng không? Cô trả lời là cô có để lại vàng bạc cà đồ đạc chôn ở chỗ nọ chỗ kia..và cô c̣n nhớ rơ có một cái quạt do người chị em bạn tặng, trên quạt có ghi lại mấy ḍng chữ, rồi cô đọc mấy ḍng chữ ấy cho phóng viên chép vào sổ tay.
Phóng viên liền đến thành Mita, t́m hỏi tên họ ông giáo viên, th́ thật quả không sai. Phóng viên hỏi ông giáo:
- Ông có người vợ đă chết độ 8, 9 năm nay phải không?
Ông giáo trả lời:
- Vâng, có! Vợ tôi chết nay đă chín năm. Chẳng biết ông hỏi có việc chi?
Phóng viên tŕnh bày những lời cô bé đă nói.
Ông giáo nghe đều cho là đúng cả.
Phóng viên lại lấy quyển sổ tay đưa mấy ḍng chữ cho ông giáo đọc và hỏi:
- Khi vợ ông mất, có để lại một cây quạt, trên ấy có ghi mấy ḍng chữ như thế này có phải không?
Ông giáo trả lời:
- Trúng y như vậy cả.
Qua ngày sau, phóng viên lại mời cha mẹ và cô Phanti Devi cùng đi xe tới thành Mita. Từ khi sanh ra đến 8 tuổi, cô chưa từng đi xa, thế mà đường đi trong thành Mitha cô đều thuộc cả, cô chỉ đường này là đường ǵ, đi về đâu, đường kia tên ǵ, đi về đâu, và c̣n nói trúng cả tên những nhà quen ở hai bên đường nữa. Gần đến nhà ông Giáo, cô bảo đi xe chậm lại và dừng ngay trước nhà ông Giáo.
Vào đến nhà, gặp một ông già độ 80 tuổi, đầu tóc bạc phơ, cô vừa mừng vừa khóc ̣a mà nói rằng:
- Đây là cha chồng của tôi.
Cô chỉ ông giáo mà nói:
- Kia là chồng tôi.
Rồi cô chạy lại ôm đứa con 11 tuổi khóc và nói:
- Đây là con tôi!
Mọi người trông thấy, ai cũng đều cảm động.
Việc này làm sôi nổi cả dư luận Ấn Độ và các báo trên thế giới, đều bàn tán xôn xao ... Các nhà bác học ra sức t́m ṭi, nghiên cứu, nhưng không một ai giải thích được. Chúng ta đă rơ biết lư luân hồi, th́ việc này cũng chẳng lấy làm lạ.
II. MỘT CHUYỆN LUÂN HỒI TẠI MỸ
Vào khoảng năm 1956, ở Mỹ có một thiếu phụ tên Ruth Simmons, v́ quá tin tưởng có kiếp luân hồi, nên đă nhờ nhà thôi miên Morey Bernstein giúp cô được thấy lại kiếp trước của cô. Nhà thôi miên kia, sau khi đưa cô vào giấc ngủ, liền bảo:
- Thử nhớ lại hồi 10 tuổi, cô đă làm ǵ!
Cô Simmons, trong cơn mê nói lại thuở thiếu niên của cô, những lúc cô đi học và tả tỉ mỉ những lúc cô nô đùa với bạn. Nhà thôi miên lại bảo:
- Bây giờ thử nhớ lại lúc cô mới 1 tuổi, cô thấy ǵ?
Cô trả lời bằng những tiếng bập bẹ, y như đứa trẻ chưa biết nói. Nhà thôi miên lại dồn hết tinh thần vào cặp mắt, nh́n thẳng vào mặt cô Simmons và nói:
- Thử nhớ lại tiền kiếp của cô!
Sau một lúc im lặng, cô Simmons mới nói, nhưng giọng nói của cô đă đổi khác, giọng Ái Nhĩ Lan (ở Anh Quốc), chứ không phải giọng người Mỹ.
Cô kể lại rằng:
“Kiếp trước cô đầu thai vào gia đ́nh họ Murphy ở làng Cork bên Ái Nhĩ Lan vào năm 1789. Cô tả nơi chôn nhau cắt rún của cô và cho biết nhiều chi tiết khác về làng này.
Cô nói thêm rằng chồng cô tên Brian Mac Carthy, giáo sư trường luật đă từng cộng sự với tờ báo Belfast news, rồi sau cùng cô nói đến ngày cô chết, mả cô hiện ỏ đâu và cô phải làm ma hơn một thế kỷ. Sau đó, cô đầu thai vào gia đ́nh họ Simmons ở Mỹ, hồi năm 1923.
Nhà thôi miên đă thâu tất cả lời nói của cô Simmmons về tiền kiếp của cô và sau đó viết một quyển sách nhan đề là: “Đi t́m gốc tích cô Murphy”.
Sách này in ra 170 ngàn cuốn và chỉ trong 3 tháng đă bán sạch. Sau đó, nhà thôi miên lại lấy lời thuật chuyện của cô Simmons thâu vào ba mươi ngàn (30,000) dĩa nhựa và chỉ trong 2 ngày đă bán sạch.
Chuyện này báo chí quốc tể đều có đăng tin, riêng ở Pháp có tờ Paris Math thuật lại rất rơ, ở Việt Nam cũng có nhiều tờ nói đến như tờ Tin Điển, tờ Liên Hoa v.v...
III. MỘT CHUYỆN LUÂN HỒI Ở PHÁP
Một Bác sĩ Pháp, ông Maurice Delarry, vốn là người hoài nghi về thuyết luân hồi, nhưng sau một thời gian khảo cứu rất công phu, đă viết trong tạp chí “Thần linh học” xuất bản hồi năm 1748 về sự luân hồi như sau:
Ban đầu ông không tin có kiếp luân hồi, nhưng sau một thời gian thí nghiệm bằng cầu cơ, ông phải công nhận kiếp luân hồi có thật. Đây là lời ông Maurrice Delarry kể:
- Một hôm tôi và vợ tôi đang cầu cơ th́ bỗng chiếc xe lay động lần lượt chỉ vào 5 chữ F.E.L.I.X rồi ngừng lại, tức là kẻ khuất mặt tên Félix đă nhập vào cơ, chúng tôi liền hỏi:
- Ông Félix muốn ǵ?
Trả lời:
- Tôi cho ông bà hay tôi sẽ trở lại trong họ hàng ông bà trong một ngày gần đây.
Hỏi:
- Tại sao vậy? Tại sao trở lại trong họ hàng chúng tôi.
Trả lời:
- Phải! trong gia đ́nh ông bà.
- Họ hàng chúng tôi đông đảo quá, đi ở rải rác mỗi người một nơi. Vậy ông có thể cho biết chắc chắn ông sẽ xuất hiện ở xứ nào không?
Trả lời:
- Tại xứ P. (Bác sĩ Maurrice v́ một lẽ riêng, không muốn nói rơ xứ này) và trong gia đ́nh ông Y. (Ông Y đây là bà con với bà vợ Bác sĩ Maurrice, nhưng Bác sĩ cũng giấu tên, v́ sợ động chạm đến đời tư không hay của gia đ́nh khác).
Hỏi:
- Chắc chắn ông sẽ vào gia đ́nh ông Y bà con chúng tôi?
Trả lời:
- Phải! Hiện nay gia đ́nh ông Y có hai đứa con gái.
Hỏi:
- Ông có biết tên chúng không?
Trả lời:
- Có! (Rồi kẻ vô h́nh nói đúng tên hai đứa con gái của người bà con bà Maurrice, nói đúng cả ngày sinh tháng đẻ của chúng nữa).
Hỏi:
- Ông có thể cho biết chắc chắn ngày nào ông sẽ ra đời trong gia đ́nh ông Y không?
Trả lời:
- Ngày 24 tháng 9 năm 1924 vào buổi mai.
Hỏi:
- Nhưng làm thế nào để biết chính ông đă đầu thai làm con trong gia đ́nh ông Y?
Trả lời:
- Cô J. (tức là tên vợ của Bác sĩ Maurrice mà ông cũng giấu tên luôn) sẽ được biết khi nh́n thấy tai bên mặt của tôi, v́ chính tôi là Félix, đứa tớ trung thành của ông bà thân sinh của cô J. đây.
Cuộc đối thoại giữa Bác sĩ maurrice và kẻ khuất mặt tên Félix được Bác sĩ biên chép kỹ càng từng câu một để sau này xem có đúng không.
Bấy giờ vào khoảng tháng 5 DL vợ chồng Bác sĩ Maurrice không mảy may hay biết người chị họ (của bà Bác sĩ) có thai.
Cho đến ngày 24 tháng 9 năm 1947 nghĩa là cách đó bốn tháng, vợ chồng Bác sĩ tiếp được điện tín từ xứ P. đánh về cho hay người chị họ vừa hạ sanh một trai hồi 8 giờ sáng ngày nói trên.
Thế là rất đúng với lời của kẻ khuất mặt Félix. Nhưng Bác sĩ không muốn cho vợ chồng người chị họ biết rằng chính ông bà đă biết trước việc này.
Ba tháng sau, vợ chồng Bác sĩ Maurrice vừa đến nơi th́ vợ chồng người chị họ liền đưa ông bà vào pḥng để xem mặt đứa bé. Khi bà bác sĩ đến gần chiếc nôi th́ thằng bé nh́n bà mĩm cười, mà nước mắt cứ tuôn ra, rồi nó đưa tay về phía bà Bác sĩ đ̣i ẵm.
Vợ chồng người chị họ rất đỗi ngạc nhiên, v́ thường khi không bao giờ con chịu người lạ, thế mà lần này, mới gặp bà Bác sĩ nó lại đ̣i ẵm.
Vợ chồng Bác sĩ Maurrice th́ không lạ ǵ với thằng bé, nhưng không dám nói sự thật ra cho vợ chồng người chị biết về kiếp luân hồi của tên lăo bộc Félix, sợ rằng gia đ́nh người chị họ cho ḿnh quá tin dị đoan chăng.
Khi nh́n thấy miếng vải băng ngang đầu đứa bé, vợ chồng Bác sĩ đă đoán biết một phần nào đúng như lời lăo bộc Félix dă nói trong lúc cầu cơ, nên Bác sĩ giả vờ hỏi:
- Tại sao lại băng đầu nó? Chắc lại sanh ghẻ chứ ǵ?
Người chị họ trả lời:
- Không, v́ lúc sinh nó ra, nó có tật nơi tai, vành tai chỉ dính vào da đầu có chút xíu, nên tôi có nhờ Bác sĩ chữa, bác sĩ bảo xức thuốc băng lại trong một thời gian th́ liền lại.
IV. MỘT CHUYỆN LUÂN HỒI THỨ HAI Ở PHÁP
Một đứa bé gái mới ba tháng tên Thérèse bỗng nhiên một hôm thốt lên tiếng Aroupa, cha mẹ đứa bé không để ư, tưởng rằng con ḿnh bập bẹ bậy bạ vậy thôi, nhưng về sau có người cho biết Aroupa có nghĩa là “trời” theo tiếng Ấn Độ.
Đến lúc lên hai, em bé Thérèse trong lúc chơi mua bán, có thốt ra tiếng Roupie. Tiếng này trong gia đ́nh không hề nghe ai nói tới, thế mà Thérèse biết được, mới lạ.
Mười tháng sau nữa, trong khi mẹ Thérèse nói chuyện với một chị em bạn, cô Thérèse thường xen vào câu chuyện với những tiếng “Bapou”.
Bà bạn vốn là tín đồ đạo Phật, rất lấy làm lạ hỏi mẹ Thérèse tại sao nó biết tên riêng của ông Gandhi v́ tên Bapou chỉ có gia quyến thánh Gandhi cùng tín đồ ông gọi ông mà thôi, người ngoài ít ai biết được.
Mẹ cô gái Thérèse nghe nói càng thêm kinh ngạc. Bà bắt đầu tin có luân hồi và từ đó, bà mua sách về thần học khảo cứu, và bà có mua một bức h́nh của ông thánh Yogàmanda.
Khi nh́n thấy bức ảnh này, cô bé la lớn:
- Con biết ông này! Lúc thánh Gandhi c̣n sống thường đến nói chuyện với thánh Gandhi, có mặt con trong những lúc ấy.
Sau khi dọ hỏi những tín đồ của thánh Gandhi, mẹ co bé Thérèse thấy lời nói của con ḿnh là đúng sự thật. Lên năm tuổi cô bé bắt đầu ăn chay và không thích ăn bánh ḿ mà chỉ ăn cơm. Thỉnh thoảng cô lại kể một vài đoạn đời của thánh Gandhi.
V. MỘT CHUYỆN LUÂN HỒI Ở ĐẢO MAURICE
Chuyện sau đây do giáo sư Bissoundya ở hải cảng Port Luois tại đảo Maurice kể lại trong “Tạp chí đầu thai luân hồi”.
Tại làng Castel có một gia đ́nh nọ sanh một đứa bé trai lên ba tuổi, đặt tên là Chatanàdeva. Bỗng một hôm nó bảo nó không phải ở làng ấy.
Cha mẹ và người lối xóm đều cười, v́ cho nó nói bậy. Nó lại nhất định nói nó không phải tên Chatanàdeva mà là tên Sreeram Jankoo. Lúc đó người ta mới lấy làm kinh ngạc v́ tên Sreeram Jankoo không phải lạ. Anh này bị chết đuối cách đây 3 năm, trong lúc đi thuyền đến cù lao Plate.
Người ta hỏi nó tại sao nó biết tên Sreeram Janko th́ nó có thuật lại rằng:
- Tôi đang chèo thuyền đi ra cù lao Plate th́ bị sóng đánh ch́m và chết đuối giữa biển.
Lời thuật của thằng bé làm mọi người kinh dị, v́ thật đúng như thế. Rồi nó lại kể thêm những chi tiết về cảnh sống của Jankoo, nhất nhất đều đúng sự thật cả.
Câu chuyện này được đồn đăi ra. Mẹ của anh chài lưới Jankoo ở làng bên, nghe được, liền t́m tới nhà thằng bé. Thằng bé đang chơi, thấy bà lăo bước vào, nó mừng rỡ reo lên và nhảy sổ đến ôm bà, la lớn:
- Mẹ! mẹ!
Những câu chuyện tương tợ như những bằng chứng đă kể ở đoạn trước nhiều không thể kể xiết.
Ngoài ra c̣n bao nhiêu vị thần đồng, những cậu bé có thiên tài xuất chúng ở rải rác trong thế giới và trong lịch sử mà chúng ta thường nghe nói đến như:
Ông Pascal, một Triết gia và một nhà Toán học Pháp, mới 7 tuổi mà đă thông thạo phương pháp kỷ hà học,
Ông Mạc Đỉnh Chi 12 tuổi đậu Trạng Nguyên.
Nhạc sĩ Mozart mới 7 tuổi đă biết đặt những bản nhạc ḥa âm
Ông Christian Heinecken vài giờ sau khi ra đời đă nói chuyện được, khi lên 1 tuổi đă học thuộc ḷng vài đoạn kinh Thánh giáo trong cuốn thánh kinh, lên 2 tuổi đă trả lời tất cả những câu hỏi về địa dư, lên ba tuổi đă nói được tiếng Pháp, tiếng La tin, lên 4 tuổi đă có thể theo học các lớp triết học.
Ông Stuart Mill lên ba đă học chữ Hy Lạp.
Ông William James Sidis lên hai đă đọc và viết chữ mẹ đẻ (Hoa Kỳ), lên tám đă nói được tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Đức và một ít tiếng Latin, Hy Lạp.
Cậu bé Silvanorigoll ở Ư, mới 3 tuỗi đă làm nhạc sư và điều khiển một giàn nhạc, chưa biết đọc và viết nhưng lại chép bản nhạc rất tài t́nh, đánh dương cầm và phong cầm không thua ǵ những nhạc sĩ hữu danh.
Những bằng chứng rơ ràng trên không ai có thể chối căi được, nhưng cũng không ai có thể giải đáp được lư do đâu có hiện tượng lạ lùng như thế, nếu không tin có nhân quả luân hồi.
Các nhà khoa học cố gắng giải thích là tại những hạch tuyến trong người các thiên tài ấy phát triển một cách nhanh chóng khác thường, nhưng tại sao hạch tuyến chỉ phát triển trong một số người ấy mà thôi?
Có người giải thích là do di truyền, nhưng lời giải thích nào cũng không làm cho người ta thỏa măn, v́ ông cha những thần đồng ấy cũng không có ǵ xuất sắc hơn những người khác, Vả lại, con cháu các vị thần đồng ấy về sau cũng không thừa hưởng được ǵ của ông cha cả.
Chỉ c̣n một lối giải thích duy nhất có thể đứng vững được là: nghiệp nhân của nhiều đời kiếp trước đă phát triển thành quả trong đời hiện tại.
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1018 of 2534: Đă gửi: 13 November 2008 lúc 11:38am | Đă lưu IP
|
|
|
NHƠN QUẢ-NGHIỆP VÀ LUÂN HỒI
Giải Đáp Những Thắc Mắc Nghi Vấn
Về Vấn Đề Nhân Quả Luân Hồi
( CHƯƠNG NĂM )
Từ trước đến nay, chúng tôi chỉ tŕnh bày những điểm chính của giáo lư Nhân quả Luân hồi, mà không đi sâu vào chi tiết, và để sự tŕnh bày được rơ ràng, có mạch lạc, chúng tôi đă tạm gác lại tất cả những thắc mắc, nghi vấn có thể hiện ra nhiều lần trong đầu óc quư vị, khi đọc các đoạn trước.
Đến đây, sau khi tŕnh bày xong xuôi những nét chính của giáo lư Nhân quả Luân hồi, chúng tôi xin lần lượt giái đáp những thắc mắc, hay nghi vấn trong vấn đề này:
1. Có người nghĩ rằng: Nhân quả là một luật tự nhiên rất công bằng đứng đắn, sao có người cả đời hiền từ, mà lại gặp lắm tai nạn, khổ sở, trái lại những người hung ác sao lại vẫn an lành?
Đáp: Chắc quư vị chưa quên trong chương nói về nghiệp, chúng tôi đă tŕnh bày rằng xét về thời gian, nghiệp có chia ra làm ba thứ:
a. Hiện báo: Quả báo hiện tiền, như ḿnh đánh người, bị người đánh ngay; hay ăn cơm th́ no, uống nước liền đỡ khát.
b. Sanh báo: Đời nay tạo nhân, qua đời sau mới thọ quả báo, như làm một tội ác ǵ, ngay khi ấy không ai biết mà bắt, đến lâu sau việc ấy mới tiết lộ và người làm ác mới đền tội.
c. Hậu báo: Đời nay tạo nhân, mà các mấy đời sau mới chịu quả báo, Như ngài Ngộ Đạt quốc sư, đời trước làm quan tên là Viên Án, v́ giết Triệu Thố, mà đến 10 đời sau mới chịu quả báo.
Vậy nếu có người trong đời hiện tại, làm việc hung ác, mà được an lành là do kiếp trước họ tạo nhân hiền từ, c̣n cái nhân hung ác mới tạo trong đời hiện tại, th́ trong tương lai hay qua đời sau, họ sẽ chịu quả báo.
Cũng như người năm nay ăn chơi, không làm ǵ hết mà vẫn no đủ, là nhờ năm rồi họ có làm, có tiền của để dành vậy. Cái nhân ăn chơi, không làm năm nay th́ sang năm họ sẽ chịu quả đói rách.
C̣n người dữ đời nay hiền từ, làm các điều phước thiện mà vẫn gặp tai nạn, khổ sở là do đời trước, họ tạo những nhân không tốt. Cái nhân hiền từ đời nay, qua đời sau họ sẽ hưởng quả vui.
Cũng như có người tuy năm nay siêng năng làm ruộng, mà vẫn thiếu hụt là v́ nhân ăn chơi năm vừa rồi. Cái nhân siêng năng năm nay, sang năm họ sẽ hưởng quả sung túc. Do đó, cổ nhân có nói:
“Thiện ác đáo đầu chung hữu báo,
Chỉ tranh lai tảo dữ lai tŕ”.
(Nghĩa là: Việc lành hay việc dữ đều có quả báo, chỉ khác nhau đến sớm hay muộn mà thôi).
2. Có người hỏi: Người đă có phước mới được giàu sang, vậy tại sao trong số người giàu sang ấy vẫn có người ngu si, chết yểu, hoặc đui, điếc, ngọng, lịu v.v... (ngu, si, ám, ả, gia hà phú).
Trái lại, người vô phước mới nghèo nàn, vậy sao trong số những người này, vẫn có người thông minh, đẹp đẽ, trường thọ v.v... (trí huệ, thông minh khước thọ bần).
Đáp: Người đời nay giàu có là trước tạo nhân giàu có, nhưng họ chỉ tạo nhân giàu có mà không tạo các nhân khác như trường thọ, trí tuệ v.v... nên đời nay họ chỉ giàu mà thôi, chứ không sống lâu, không thông minh v.v...
Trái lại, có người kiếp trước chỉ tạo nhơn trường thọ, trí tuệ mà không tạo nhân giàu có, nên kiếp này được hưởng quả trường thọ và trí tuệ mà không hưởng được quả giàu có.
Nhân nào ḿnh có tạo mới có quả ấy, c̣n nhân nào ḿnh không tạo th́ làm sao có quả được? Nên trong kinh nhân quả có nói: Nhân quả báo ứng như ảnh tùy h́nh” (nhân quả trả nhau, như bóng theo h́nh. H́nh ngay th́ bóng thẳng, h́nh vạy th́ bóng cong).
3. Có người hỏi: Theo luật nhân quả th́ ai làm nấy chịu, cha làm tội con không thể thay thế được; con làm tội, cha không thể thay thế được. Sao thấy có những việc: cha làm con phải chịu liên can, con làm cha phải chịu ảnh hưởng?
Trả lời: Trong kinh Phật dạy nhân quả Nghiệp báo có hai thứ: biệt nghiệp và cọng nghiệp.
a. Biệt nghiệp: Là nghiệp báo riêng của mỗi chúng sinh, như ḿnh có học nhiều th́ ḿnh biết nhiều, ḿnh ăn th́ ḿnh no, ḿnh siêng năng th́ ḿnh dễ thành công, ḿnh nhác lười th́ ḿnh thất bại.
b. Cộng nghiệp: Là nghiệp báo chung cho nhiều chúng sanh cùng sống trong một hoàn cảnh. Như người Việt Nam sống trên mănh đất chữ S này, trong giai đoạn chiến tranh Việt Pháp vừa qua, th́ giàu, dù nghèo, dù trí thức, dù b́nh dân đều chịu ảnh hưởng chung của chiến tranh.
Như sanh ở một nưóc tiền tiến th́ mọi người đều được hưởng một đời sống vật chất đầy đủ hơn ở một xứ bán khai. Đă chung sanh trong một gia đ́nh, một xứ sở hay một dân tộc, cố nhiên cái nghiệp quả phải có liên can với nhau.
Sách có nói: “Nhứt nhơn tác phước, vạn thọ hương” (một người làm phước, ngàn người đều được ảnh hưởng; một cây trổ hoa, muôn cây chung quanh đều được thơm lây).
IV. Có người hỏi: Đă gọi là cộng nghiệp th́ tất nhiên phải chịu những nghiệp quả giống nhau, đă sinh trong một hoàn cảnh th́ tất chịu chung một ảnh hưởng, mặc dù có biệt nghiệp, nhưng những biệt nghiệp ấy dù sao cũng chỉ co tính cách sai biệt tiểu tiết mà thôi (đại đồng, tiểu dị).
Vậy tại sao trong đời, thấy có những người sống chung trong một hoàn cảnh mà lại trái hẳn nhau. Thí dụ như: có người hiền lành lại sanh trong một gia đ́nh hung ác, có người hung ác lại sanh trong gia đ́nh hiền lương?
Trả lời: Trong đoạn phân loại về các thứ nghiệp, đă nói rằng có bốn loại nghiệp là:
- Tích lũy nghiệp,
-Tập quán nghiệp,
- Cực trọng nghiệp,
- Cận tử nghiệp.
Trong các loại nghiệp ấy, cực trọng nghiệp có tác động mạnh mẽ nhất sau khi chết.
Nếu khi sống, cá nhân nào đó tạo nhân cực trọng nghiệp về loại thiện, như triệt để áp dụng những phương pháp tu hành có hiệu quả như tứ đế, thập nhị nhân duyên ... th́ sau khi chết, được hưởng kết quả tốt đẹp vô cùng.
Trái lại, như giết cha mẹ, sát hại người tu hành v.v... th́ khi chết phải đọa vào địa ngục vô gián.
Nhưng cực trọng nghiệp không phải người nào cũng có: nếu không tạo nhân cực trọng, như không tu hành hay không phạm tội ngũ nghịch th́ tất nhiên không có nghiệp cực trọng.
Trong trường hợp không có cực trọng nghiệp, th́ cận tử nghiệp (nghiệp lực khi lâm chung) là cái nghiệp có một tác động mạnh mẽ trong vấn đề dắt dẫn đi đầu thai.
Trong nhiều trường hợp, th́ cận tử nghiệp và tích lũy nghiệp, tập quán nghiệp cùng đồng một tính chất giống nhau, nghĩa là trong những đời trước và đời hiện tại có gây những việc thiện và khi lâm chung.
Cũng có những hành động hay ư nghĩ việc thiện, hay trái lại, trong nhiều đời trước và hiện tại có tạo những nhân ác, và khi lâm chung cũng làm hay nghĩ đến những việc ác.
Trong trường hợp này, th́ cận tử nghiệp sẽ dắt dẫn đi đầu thai một cách tự nhiên, đến một hoàn cảnh thích hợp với cả ba thứ nghiệp là tích lũy nghiệp, tập quán và cận tử nghiệp.
Chẳng hạn như một người, trong đời quá khứ đă tạo những nhân hiền lành th́ sau khi chết, đầu thai vào một gia đ́nh cũng hiền lành, và những người ở trong gia đ́nh ấy cũng không có trái ngược nhau.
Nhưng có một vài trường hợp mà cận tử nghiệp không đồng một tính chất với tích lũy nghiệp và tập quán nghiệp, chẳng hạn như một người trong đời quá khứ và hiện tại phần nhiều đều gieo nhân lành, đều có nhiều hành động thiện.
Nhưng khi lâm chung, v́ một lư do nào đó, có những ư nghĩ, hành động bất thiện, nghĩa là tạo một cận tử nghiệp bất thiện, như tham đắm, giận dữ v.v... th́ cận tử nghiệp này sẽ dắt dẫn đến một hoàn cảnh bất thiện, như sanh vào một gia đ́nh tham đắm, hay giận dữ v.v...
Nhưng nghiệp chính của người này là thiện th́ trong đời sau này, người ấy sẽ hưởng quả thiện, mặc dù sống trong gia đ́nh ác.
Hay trái lại, tích lũy và tập quán nghiệp của người ấy là ác, nhưng khi lâm chung, người ấy biết ăn năn hối cải, tha thiết nghĩ đến điều thiện và nhờ những người chung quanh hộ niệm chú nguyện cho, nên tạo ra một cận tử nghiệp thiện.
Nghiệp này sẽ dắt dẫn đầu thai vào một gia đ́nh thiện. Nhưng nghiệp chính của người này trong quá khứ là ác, cho nên sau ít lâu sống trong gia đ́nh ác ấy, các nghiệp quả ác lại xuất hiện. Do đó mới có những trường hợp cha mẹ ác có con thiện, hay cha mẹ thiện có con ác.
V. Có người hỏi: Nếu có Luân hồi th́ khi chết rồi, một người chỉ sanh ra một người thôi, tại sao trên thế giới này, khi mới khai thiên lập địa chưa có người, mà cứ mỗi ngày nhân loại mỗi thêm đông? Vậy do đâu mà có nhiều người thế?
Trả lời: Trong đoạn Luân hồi, chúng tôi đă nói: chúng sinh luân hồi trong trong sáu cảnh giới là: thiên, nhân, a tu la, ngạ quỉ, súc sinh, địa ngục.
Chúng sinh ở cảnh giới này có thể đầu thai qua cảnh giới khác, đắp đổi cho nhau, khi lên khi xuống, chứ không phải chỉ có người mới đầu thai làm người mà thôi.
Những loài thú có những tâm trạng giống người có thể đầu thai làm người được, cũng như những người có tâm trạng lang sói sẽ trở thành lang sói.
Hơn nữa, trong đoạn trước, chúng tôi cũng có nói rằng trong các kinh Phật dạy: thế giới trong vũ trụ này nhiều như cát sông Hằng, chứ đâu phải chỉ một quả đất này là trung tâm điểm của vũ trụ và có người?
Các nhà bác học cũng công nhận mỗi ngôi sao là một thế giới. Trong hằng hà sa số thế giới ấy, cũng có biết bao nhiêu là thế giới có hoàn cảnh giống như quả đất nhỏ bé chúng ta đang ở đây!
Thế giới đă nhiều như thế, th́ nhân loại đâu phải ít? Tại sao chúng ta không thể tin được rằng thế nào cũng có sự luân chuyển, sự lưu thông, sự trao đổi về phương diện tinh thần, về cái nghiệp giữa thế giới này với thế giới khác?
Mỗi một thế giới sắp hoại th́ chúng sinh ở thế giới ấy tản cư, mỗi thế giới đă thành, th́ chúng sinh ở các thế giới đồng cảnh chung quanh tựu đến.
Trong kinh Địa Tạng có nói:
“Thử giới hoại thời, hoàn kư tha phương ...” (thế giới này hoại, th́ gởi qua thế giới khác, thế giới khác hoại lại gởi đến thế giới khác nữa ...) Như đô thành Saigon hiện giờ đây dân số rất đông, là do người ở các tỉnh đến.
Khi giặc yên, dân chúng trở về các tỉnh th́ dân số Saigon tự nhiên bớt. Dân chúng ở Đô thành nhiều hay ít là do người ở các nơi tụ đến hay tản đi. Trong thế giới hiện này nhân loại nhiều hay ít cũng như vậy.
Đứng về phương diện tổng thể mà nói, th́ không có mất c̣n, sạch nhớp, thêm bớt, đầy vơi (bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm). Chỉ v́ chúng ta có quan niệm hẹp ḥi, chia cắt, khu biệt, đóng khung trong một cảnh giới nên mới thấy loài này, loài khác, thế giới này, thế giới khác hoàn toàn cách biệt nhau.
IV. Có người hỏi: Người và thú vật hoàn toàn khác nhau, làm sao người có thể tái sanh thành thú vật và thú vật thành người được?
Trả lời: Người ta thường có quan niệm sai lầm rằng, người có linh hồn người, thú vật có hồn thú vật. Linh hồn người hay hồn thú, tuy người ta chưa hề thấy bao giờ, nhưng người ta tưởng tượng hễ linh hồn người th́ có bóng dáng như người, hễ hồn chó, mèo th́ có bóng dáng như chó mèo, và bất biến, dù chết hay sống.
V́ tưởng tượng như thế nên người không thể công nhận rằng: chết rồi linh hồn người lại chui vào thân h́nh chó, mèo, chẳng hạn, và hồn chó mèo lại nằm lốt thân h́nh người.
Thật ra, nghiệp không phải là linh hồn (như đă nói ở đoạn trước) mà là một năng lực có nhuốm tính chất những hành động của mỗi chúng sinh.
V́ tính chất riêng biệt ấy mà nghiệp lực nhập vào một h́nh thức này hay một h́nh thức khác do cái luật hấp dẫn “đồng sanh tương ứng, đồng khí tương cầu”.
“Thay v́ nói người kia trở thành thú hay trái lại, thú kia trở thành người, đúng hơn nói rằng: nghiệp lực phát hiện dưới h́nh thể người hay dưới h́nh thể thú”. (Narada Maka Thera).
Một hôm có hai người đạo sĩ: một người tên Punna tu khổ hạnh theo lối sống của loài ḅ, một người tên Seniya tu khổ hạnh theo lối sống của loài chó, hai người này đến hỏi đức Phật về kiếp vị lai của họ. Đức Phật trả lời:
“Trong đời này, một gă kia thực hành trọn vẹn không thối chuyển những thói quen, những tâm trạng những tính cách của chó, gă ấy đă sống theo thói thường của chó, sau khi chết sẽ tái sanh trong loài chó”.
Đức Phật cũng giải thích như trên rằng: kẻ nào tu khổ hạnh theo ḅ, cũng sẽ tái sanh trong loài ḅ.
Thí dụ trên chứng minh một cách hùng hồn: nghiệp lực có thể dắt dẫn đi đầu thai bất luận trong loại nào, cảnh giới nào.
Không cần phải đợi đến đời vị lai, phải trải qua kiếp này đến kiếp khác, ngay chính trong tâm niệm, trong từng hoàn cảnh của cuộc đời hiện tại, con người cũng trải qua trạng thái của sáu loài:
khi con người sanh ḷng giận dữ chém giết, th́ cảnh A tu la hiện khởi;
khi con người ung dung tự tại sống trong nhung lụa huy hoàng th́ cảnh giới thiên đàng hiện khởi;
khi con người sống trong cảnh chiến tranh bom đạn, trong cảnh kiềm kẹp giam cầm, tra khảo dă man, nào bị treo ngược, nào bị đổ nước sôi v.v... th́ đó là cảnh giới địa ngục.
Ngay trong loài người, nếu xét về phần vật chất th́ có nhiều người sống một cuộc đời đế vương sáng lạn như ở cơi thiên đàng; có người lại sống chui rúc trong hang trong hố, ăn lông ở lỗ như thú vật.
Xét về phần tinh thần, th́ có người thông minh tài trí, đức hạnh như thánh nhân; có kẻ tâm địa lại tối tăm, độc ác, xấu xa như lang sói.
Nếu đă tin có nghiệp lực th́ hạng người nói trên tất sẽ dắt dẫn đến cơi thiên, và nghiệp lực của hạng dưới tất phải đầu thai trong loài thú vật.
Chúng tôi đă giải đáp một số nghi vấn, thắc mắc thông thường trong khi đề cập đến vấn đề Nhân quả Luân hồi.
Chúng tôi biết c̣n nhiều thắc mắc, nghi vấn khác, nhưng chúng tôi xin gác lại, v́ chúng không được phổ thông và có tính cách bác học, chuyên môn như vấn đề nguyên nhân đầu tiên của nghiệp, vấn đề trách nhiệm về phương diện đạo đức, vấn đề so sánh giữa thuyết tiền định, mệnh và nghiệp báo khác nhau như thế nào v.v...
Chúng tôi không muốn kéo dài thêm nữa, phạm vi có chừng hạn của sách loại phổ thông này. Và đến đây, chúng tôi tưởng đă đến lúc nói vài lời tạm biệt cùng quí vị độc giả thân mến.
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1019 of 2534: Đă gửi: 13 November 2008 lúc 11:45am | Đă lưu IP
|
|
|
NHƠN QUẢ-NGHIỆP VÀ LUÂN HỒI
Vài Lời Tạm Biệt
Thưa quí vị độc giả!
Vấn đề Nhân quả Luân hồi là một vấn đề vô cùng quan trọng, không những đối với người Phật tử mà cả đến những ai đang băn khoăn thắc mắc trước bao vấn đề mà cuộc sống đă đặt ra, như:
Chúng ta từ đâu lại và sẽ đi về đâu? động lực của sự sống là ǵ? Ai là chủ nhân của đời ḿnh? Tại sao có những hoàn cảnh trái ngược nhau trong xă hội? Ta có thể giải thoát khỏi cảnh giới tối tăm này để đến một cảnh giới đẹp đẽ khác không? Và nếu được, th́ bằng phương tiện ǵ?
Những vấn đề trên, mọi người đều nên biết. Nhưng một khi đă biết rồi, chúng ta không nên tự cho là đă thỏa măn trí ṭ ṃ mà yên ḷng xếp sách lại.
Cái biết suông ấy không có lợi ích thiết thực ǵ cho ta cả. Không biết th́ phải t́m biết, khi đă biết rồi th́ phải hành động đúng theo sự hiểu biết ấy.
Giáo lư Nhân quả Luân hồi đem lại cho chúng ta một niềm phấn khởi mạnh mẽ vô cùng, đó là tự kiến tạo lấy đời ḿnh.
Trong bao nhiêu kiếp Luân hồi, mỗi chúng ta là tay thợ tự xây dựng lấy địa vị của ḿnh mà không hay.
Do sự mê mờ ấy, chúng ta đă làm hại đời của chúng ta bằng cách buông xuôi tay, trao gởi niềm tin vào những đấng thiêng liêng tưởng tượng, hay rên xiết, khóc than trách móc định mệnh khắc nghiệt đă trói buộc đời ḿnh.
Giờ đây, chúng ta đă biết chính mỗi chúng ta đă tự tay trói buộc chúng ta trong cảnh sinh tử luân hồi. Chúng ta đă tự trói buộc chúng ta, th́ cũng chỉ có chúng ta là có thể cởi mở cho chúng ta mà thôi.
Đức Phật là đấng sáng suốt đă chỉ dạy cho chúng ta những phương pháp tự cởi trói. Vậy chúng ta c̣n chờ đợi ǵ, c̣n luyến tiếc ǵ mà không chịu bắt tay làm ngay cử chỉ mở trói ấy?
Chung quanh chúng ta đă có nhiều vị thầy hướng dẫn bước đầu của chúng ta, đă có những người bạn đồng hành đang tinh tấn, hăng hái ngày đêm làm cái công việc tự cởi mở ấy, hay nói theo danh từ nhà Phật, làm công việc giải thoát ấy.
Bạn c̣n chờ đợi ǵ?
Nếu bạn đă là Phật tử, bạn hăy tinh tấn nữa lên! Nếu bạn chưa là Phật tử, bạn hăy gấp rút gia nhập vào đạo quân giải phóng hiện đang có mặt khắp năm châu, đạo quân giải phóng đang theo dấu chân Phật để diệt trừ vô minh đem lại hạnh phúc chân thật cho ḿnh và cho người.
Xin kính chào bạn.
HẾT
H̉A THƯỢNG THÍCH THIỆN HOA
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1020 of 2534: Đă gửi: 13 November 2008 lúc 5:01pm | Đă lưu IP
|
|
|
NEPAL: DÂN CHÚNG ĐỔ XÔ ĐẾN VIẾNG
"PHẬT TÁI THẾ" TÁI XUẤT HIỆN
Ram Bahadur Bamjan, được tin là Phật Thích Ca tái sinh, ngồi dưới gốc cây bồ đề với các nhà sư vây quanh, ở thành phố Nijgadh, cách thủ đô Katmandu của Nepal khoảng 160 km (100 dặm) về phía Nam, hôm Thứ Tư, 12 Tháng Mười Một, 2008. Bamjan, 18 tuổi, đă ra khỏi khu rừng ở miền nam Nepal hôm Thứ Hai, sau khi ở ẩn trong rừng hơn một năm.
KATHMANDU-Nepal. Một thiếu niên Nepal, được đông đảo dân chúng địa phương tôn kính như một vị Phật nhỏ, song cũng có người quả quyết chính là “Phật tái thế”, do có nhiều phép lạ khó giải thích được, đă xuất hiện trở lại tại miền Nam Nepal hôm 11 Tháng Mười Một, sau khi đă “biến mất” trong một khoảng thời gian khá lâu, từ Tháng Ba 2007.
Theo đặc phái viên của hăng thông tấn AP, th́ Ram Bahadur Bamjan, nay đă 18 tuổi, từng xuất hiện lần đầu tiên từ năm 2006, khi vị Tiểu Phật này ngồi thiền tại một gốc cây trong rừng và theo lời kể của nhiều người, th́ vị Tiểu Phật này đă không cần ăn uống trong nhiều tháng liền.
Khi xuất hiện trở lại, vị “Phật tái thế” này vẫn mặc một áo choàng dài mầu trắng, với mái tóc dài thường thấy, ngồi thiền và không nói một lời nào cả, dù vậy đă thu hút đông đảo các cơ quan truyền thông địa phương, cũng như quốc tế, khiến tin này đă được loan truyền mau lẹ trên thế giới.
Một cảnh sát trưởng Nepal cho biết chỉ sau hai ngày tái xuất hiện của vị “Phật tái thế” này, đă có đến hàng ngàn Phật tử đổ xô đến khu rừng Ratanpur, nơi “Phật tái thế” đang tọa thiền, cách thủ đô Kathmandu vào khoảng 100 miles (160 km) về phía Nam.
Một tăng sĩ Phật Giáo Nepal, Kamal Tamang, cho biết sau khi vị “Phật tái thế” này xuất hiện trở lại, đến ngồi tọa thiền trên một cái bục phủ vải mầu vàng, đặt dưới gốc một cây cổ thụ, nhiều Phật tử đă mang nhiều quà cáp, áo cà sa, trái cây đến dâng cúng, mặc dù vị “Phật tái thế” này trông vẫn khỏe mạnh và không có dấu hiệu nào là ốm yếu hay mất nước cả.
Tăng sĩ Tamang cho biết thêm là vị “Phật tái thế” này, sẽ có buổi nói chuyện với các Phật tử vào ngày 18 Tháng Mười Một tới đây, và sau đó có thể trở lại tu thiền trong rừng.
Mặc dù Đức Phật cũng từng ra chào đời tại vùng đất, mà giờ đây được gọi là phía Tây Nam Nepal cách đây khoảng 2,500 năm, nhưng một số học giả Phật Giáo tỏ ra nghi ngờ về vị “Phật tái thế” này, mặc dù cũng ra chào đời tại làng Ratanpur, Nam Nepal, và cho rằng thiếu niên Bamjan này, có thể giống như các vị tu sĩ khổ hạnh, có sức chịu đựng bền bỉ, chứ không phải là “ Phật tái thế”.
Trong một số cuộc tiếp xúc hiếm hoi với các Phật Tử, chính thiếu niên Bamjan cũng không bao giờ tự xưng ḿnh là ǵ cả.
L.T.
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
|
|