| Tác giả |
|
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1141 of 2534: Đă gửi: 06 December 2008 lúc 3:58am | Đă lưu IP
|
|
|
BÙA TRẤN TRẠCH
Bùa chú luôn thuộc quyền sở hữu của các Pháp sư, Thầy cúng và Thiền sư. Không ai trong chúng ta có ư định giải thích về chúng, mà chỉ coi đó là một lĩnh vực không thể hiểu, là cánh cửa luôn đóng giữa đời và tâm linh.
Ngay cả những nguời sử dụng cũng chỉ hiểu chức năng của từng loại bùa chú, chứ không hẳn đă hiểu hết ư nghĩa và thần năng tiềm ẩn trong mỗi loại bùa.
Mặc dù khi hành lễ, lúc thăng hoa, nhập đồng họ có thể vẽ ra những lá bùa, để con nhang đệ tử xin về trấn trạch cầu b́nh an cho gia đ́nh.
Trong từ điển Hán-Việt gọi bùa là:“ Linh phù” nghĩa là bùa thiêng. Thực ra bùa trấn là sự lồng ghép giữa các h́nh ảnh mang tính ma thuật với các câu thần chú, càng làm cho nó mang đậm sự huyền bí và mê hoặc, buộc nguời ta phải chấp nhận nhiều hơn là thắc mắc.
Xét về thực chất, sự h́nh thành của bùa chú có lẽ đây là một sản phẩm văn hoá, khởi nguyên từ thời Nguyên Thuỷ.
Khi mà thiên nhiên là cái hùng vĩ, c̣n con nguời lúc đó luôn sợ hăi và trong tâm thức họ lại cảm thức rất rơ rệt sự tuơng quan của ḿnh đối với tự nhiên.
Suy cho cùng, nếu đánh giá qua lăng kính khoa học hiện đại, th́ bùa trấn trạch là sự phản ánh sự bất lực hoàn toàn của con nguời truớc cái chết, mà sự thuơng tiếc của người sống luôn muốn vời nguời chết trở về, cũng như sự sợ hăi rằng: nguời chết đi nếu không vui vẻ sẽ rủ theo những nguời sống khác.
Từ những quan niệm đó mà nẩy sinh các loại h́nh bùa trấn, nhằm trấn áp sự trở lại của một thế lực vô h́nh trong thế giới huyền hoặc:
Trấn tà ma, bệnh tật, trùng tang, rủi ro... để tạo ra một cảm giác có một sức mạnh huyền bí nào đó luôn ở cạnh, ở trên, ở với thế giới hiện hữu nhằm bảo vệ sự b́nh an cho con nguời.
Bùa trấn trạch thuờng cấu tạo bởi các nội dung sau:
H́nh nguời: Phật, Bồ Tát, Kim Cuơng, Tứ Trấn, Thần Độc Cước và các h́nh nhân cùng các h́nh biến dạng khác.
H́nh vật: Con vật tuợng trung cho bốn phuơng: Thanh Long, rồng trấn ở phuơng Đông. Bạch hổ, hổ trấn ở phuơng Tây. Chu Tuớc, chim trấn ở phuơng Nam. Huyền vũ, rùa trấn ở phuơng Bắc.
Kư tự: Chữ Phạn duới dạng thần chú, chữ trấn, chữ sát quỷ, và các biến h́nh tự, cùng nhiều chữ hán duới dạng thần chú và triện ấn.
H́nh hoa lá: Hoa sen, hoa dây, sóng nuớc.
H́nh tuợng trưng: Âm duơng, bát quái, các quẻ kinh dịch, các v́ sao Nhị thập bát tú…
Nội dung bùa trấn trạch gồm sáu đoạn, tính từ ngoài vào trong:
1. Hàng trên cùng là ḍng chữ:
- Nam mô thiên thủ thiên nhăn linh cảm Quán thế Âm.
- Cột bên phải là Nhị thập Bát tú: Giác, Cang, Đê, Pḥng, Tâm, Vỹ, Cơ, Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích, Khuê, Lâu, Vi, Măo, Tất, Chủy, Sâm, Tỉnh, Quỷ, Liễu, tinh, Truơng, Dực, Chấn.
- Cột bên trái: Bẩy khuyên đầu là Âm đẩu thất tinh, duới là tên các v́ sao trong tử vi đẩu số: Tham lang, Cự môn, Lộc tồn, Văn khúc, Liêm trinh, Vũ khúc, Phá quân.
Tiếp đến là can chi và bốn đặc tính của quẻ Càn:
Nguyên, trinh, hạnh, lợi, duới là ngũ hành: Kim, mộc, thủy, hỏa, thổ.
- Hàng duới cùng đề: bức tranh bùa chùa Vĩnh Khánh, Yên Ninh, Thanh Lâm, Hải Duơng.
2. Trung tâm là chữ “Sắc lệnh” viết biến h́nh đuợc vẽ trên đầu bùa trấn.
Sắc lệnh có nghĩa là ra chỉ thị, mệnh lệnh nào đó, mà thầy phù thủy coi ḿnh như nguời tiếp nhận một quyền năng siêu nhiên, lệnh dụ cho đám ma tà.
Hai chữ này đuợc vẽ gắn bó với nhau, trên chữ Sắc lệnh biến h́nh hai con rắn chầu vào trung tâm, đầu nét chữ sắc bọc ngoài là chữ thiên (trời), nhật, nguyệt và lôi hỏa.
Bốn góc bùa do bốn vị tuớng trấn giữ: Mă Uất Lâm trấn ở phương Đông, Đặng Cung Chấn trấn ở phương Bắc, Quách Nguyên Cảnh trấn ở phương Nam, Phuơng Trọng Cao trấn ở phương Tây.
3. H́nh ảnh đức Phật Quan Âm Bồ Tát ngồi tọa thiền trên đỉnh núi, bên phải là Pháp Thông Thiền sư, bên trái là Hồ Tinh Tôn Giả. Hai bên đề hai câu thơ:
Bảo ṭa thiền lâm thanh liễu diệp. Kim đài thúy dẫn bạch liên hoa.
Tạm dịch: Liễu biếc rừng thiền ṭa báu.
Sen trắng thấu khiết đai vàng.
4. Là hai h́nh ảnh của: Lư Bạch Bá Duơng và Mậu Thần Tính Chu, điểm xen kẽ là bài thơ:
Ngàn thánh cùng nhau trừ quỷ dữ. Ngọc Hoàng sắc lệnh trấn duơng gian. Bùa thiêng tới chốn, yêu ma giảm. Muôn thần cùng họp khử tà gian.
5. Là h́nh Tử Vi trấn trạch cỡi trên lưng Hổ Phù, Hổ Phù đuợc tạo bởi tinh khí của các cḥm sao trong Nhị thập bát tú.
Từ miệng Hổ Phù nhả ra một luồng khí chứa hai chữ “Sát Quỷ” với ba nét đao mác mạnh mẽ mang ư nghĩa:
Nét mác là trời đánh mày chết, nét \ là đất đánh mày chết, nét sổ I là tao đâm mày chết. Hai bên tả hữu là h́nh bùa Bạch xà, chính giữa là h́nh bát quái.
6. Là chữ “Trấn” có nghĩa là trấn áp, trấn yểm, nhằm ngăn cản một thế lực ma quái nào đó muốn xâm hại đời sống con nguời.
Tóm lại Bùa trấn trạch là một loại h́nh văn hóa dân gian phi vật thể, chứa đựng sự dung hợp nhiều yếu tố tôn giáo và tín nguỡng, cùng các học thuyết khác tiềm ẩn bên trong đạo bùa.
Được bố cục tuơng đối hài ḥa giữa h́nh và chữ, trong và ngoài, phụ và chính… Tạo nên nét đặc sắc về mặt nội dung và h́nh thức.
Tuy nhiên bùa có linh thiêng hay không, đều tùy thuộc vào sự tín tâm và công năng gia tŕ của tín đồ.
Vũ Đằng
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1142 of 2534: Đă gửi: 06 December 2008 lúc 8:56pm | Đă lưu IP
|
|
|
KHÁM PHÁ THẾ GIỚI BÙA NGẢI THỜI CỔ ĐẠI
Trong thế giới của những thầy pháp thuật thời cổ đại tồn tại nhiều bí kíp kỳ lạ. Bùa ngải là một trong số đó.
Ngày nay khoa học đă cho thấy đó là những điều hoang đường, tuy nhiên những câu chuyện đồn đại xung quanh chúng vẫn là những điều đầy hấp dẫn và nhuốm màu huyền bí.
Thuật luyện những giống thực vật đặc biệt và truyền cho chúng những khả năng siêu nhiên để sai khiến vào thực hiện những nhiệm vụ như đoán biết tương lai, cải tạo số phận, hay chữa trị bệnh nan y.
Thời xa xưa khá thịnh hành ở nhiều nước châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ và khu vực Đông Nam Á. Người ta gọi đó là luyện ngải và họ tin rằng ngải giúp con người chế ngự sức mạnh huyền bí.
Những pháp sư cao thủ dành cả cuộc đời ḿnh để luyện "công lực", họ có thể biểu diễn những kỹ năng kinh dị như nhúng tay vào vạc dầu sôi, hay dùng đinh đâm xuyên qua người...
Sau khi đă luyện thành cao thủ, họ sẽ t́m và chăm sóc một số loài thực vật mà theo họ có khả năng đặc biệt để truyền các "công lực" sang.
Các thầy pháp thuộc diện cao thủ bao giờ cũng là những tay chuyên luyện bùa ngải hay độc trùng.
Thông qua việc nuôi ngải, luyện độc trùng, các pháp sư khẳng định quyền năng của họ, qua đó đánh giá tài cao thấp.
Theo những câu chuyện lưu truyền về thế giới bùa ngải, loại ngải quư hiếm nhất phải kể đến là Phù phấn ngải.
Đây là một loại thực vật giống với hoa lan đất nhưng có bộ rễ lớn hơn, thường mọc trong rừng thẳm.
Loại ngải này có một lớp bột mịn phủ trên lá, nếu ai vô ư đụng phải sẽ thấy ngứa ngáy khó chịu, sau đó toàn thân sưng phù, đau đớn trong khoảng 100 ngày sẽ chết nếu không được các vị cao tăng cứu chữa.
Loại ngải này rất hiếm, c̣n được gọi là "Phù phấn ngải" v́ lớp bột rất độc trên lá. Nhưng nếu được tôi luyện đúng cách sẽ trở thành một loại ngải cứu người rất quư.
Những cao tăng muốn t́m được loại ngải này phải vào sâu trong rừng thẳm. Khi t́m được phải loại bỏ lớp phấn độc bên ngoài một cách rất khéo rồi đem trồng vào một chậu đất nung, sau đó cho các chất tượng trưng cho Ngũ hành vào (gồm có đất núi, diêm sinh, sắt, gỗ mục, muối biển).
Sau khi nuôi trồng ngải rồi, người ta đặt ngải lên bàn thờ và bắt đầu luyện ngải bằng các quyền phép của bản thân. Khi ngải được luyện xong trong nó sẽ có 2 phần được gọi là thiên năng (năng lực tự nhiên) và linh phù (năng lực của người luyện).
Các tay luyện ngải cao cấp c̣n nuôi ngải bằng trứng gà, hoặc máu gà. Họ cho rằng làm như vậy ngải sẽ mạnh hơn.
Nhưng với những người non tay, luyện cách này có thể gây nguy hại cho chính họ. Phù phấn ngải luyện xong dùng để trị bệnh mất trí, hoảng sợ thậm chí có thể t́m được người bị mất tích.
Một loại ngải c̣n quư hiếm hơn và bị thất truyền hàng trăm năm là Bạch đại ngải.
Người ta cho rằng Bạch đại ngải mọc ở đâu th́ các loài thú dữ đều hoảng sợ và không dám sinh sống ở quanh đó.
Nếu ai đó trồng loại ngải này mà không biết về tu luyện th́ sẽ nguy hại cho bản thân. Trước khi nhổ cây phải ngâm một bài bùa chú, đại khái: "Nhiệm màu thay, nhiệm màu thay Bạch đại ngải, Bạch đại ngải...".
Nếu loài ngải này mà được một cao tăng luyện th́ sẽ trở thành một loại có thể giúp con người cải tử hoàn sinh.
Những thầy pháp sư thiếu "nhân cách", chạy theo vụ lợi cá nhân hay ŕnh rập để luyện một loại ngải hại người đó là ngải yêu hay bùa mê, thuốc lú. Đó là thứ ngải để "lừa t́nh".
Ai bị trúng ngải đó tâm thần mê man, không biết ǵ về đạo lư, bỏ nhà cửa chạy theo tiếng gọi của ái t́nh. Những người bị trúng ngải yêu có dáng điệu luôn suy tư, hờ hững với xung quanh.
Loại Mê tâm ngải có tác dụng tương tự. Cây Mê tâm lá màu xanh sẫm to bản h́nh cái kiếm, hoa màu tím đen có đốm trắng, có mùi hắc rất khó chịu. Người trúng ngải này sẽ mất ăn mất ngủ, tâm thần bất loạn.
Những kẻ muốn dùng ngải mê tâm hại người bắt buộc phải biết tên tuổi của nạn nhân th́ mới thành công. Những tay nuôi loại ngải này thường bị dân làm ngải coi thường, liệt vào loại mờ ám.
Một loại ngải khác có tên khá kinh dị là Huyết nhân ngải. Loại ngải này mọc trong các khu rừng có thú dữ.
Muốn t́m được loại Huyết nhân ngải phải đợi vào đêm, khi ngải ửng lên màu đỏ như máu mới có thể nh́n thấy và nhổ được v́ ban ngày lá cây màu xanh như b́nh thường. Hoa của loài ngải này nhỏ ly ti và có màu đỏ như những giọt máu.
Tương truyền rằng loài hổ báo sau khi ăn thịt những người tuổi Dần sẽ bỏ lại quả tim của nạn nhân, từ quả tim bỏ lại đó sẽ mọc lên loài Huyết nhân ngải.
Khi nhổ loài ngải này cũng phải đọc thần chú, luyện để loài Huyết nhân ngải hội đủ khí âm dương phải mất hàng năm trời.
Củ của Huyết nhân ngải nếu đem ngậm một lát nhỏ sẽ có đủ sức lực để nhịn đói một tuần mà sức lực không suy giảm.
Ngải này giúp người dùng có thần giao cách cảm, đoán biết được những sự kiện ngh́n trùng xa cách.
Tại Trung Hoa có một loài thực vật rất quư hiếm mọc trong rừng sâu, trên những thân cây gỗ mục.
Có những pháp sư cả đời đi t́m không thể thấy, nhưng nếu ai có duyên sẽ gặp được đó là loại Mai hoa xà vương ngải.
Theo những tài liệu về bùa ngải th́ loài này có thân mềm mại, lá xanh có đốm vàng trông như rồng cuốn. Hoa nở màu sắc vàng, hồng rực rỡ, có mùi hương vô cùng quyến rũ.
Xung quanh cây ngải này có nhiều rắn chúa Mai hoa đến ở v́ thế nên người ta lấy tên Mai hoa xà vương để đặt cho nó.
Loại ngải này nếu luyện được thành công, khi ngậm vào miệng sẽ giúp thân thể cứng rắn như thép, dao chém không đứt.
Nếu chẳng may ngải Mai hoa chết, người luyện ngải phải làm lễ ma chay rất trang trọng và đem chôn cây ngải trên vùng núi cao thoáng mát.
Ngày nay, khoa học phát triển không c̣n đất cho các pháp sư hành nghề luyện ngải nữa.
Tuy vậy những câu chuyện đậm màu huyền bí vẫn là đề tài hấp dẫn những người hiếu kỳ trong lúc "trà dư, tửu hậu".
Mặt khác, các nhà Đông y học đang tiếp tục nghiên cứu những loài thực vật rất quư hiếm đó nhằm bảo tồn và phát hiện những dược chất giúp ích thực sự cho con người.
Sức Khỏe Đời Sống
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1143 of 2534: Đă gửi: 06 December 2008 lúc 9:35pm | Đă lưu IP
|
|
|
THẾ GIỚI TÂM LINH
(KỲ MỘT)
Lời mở đầu.
Kính thưa quư độc giả,
Trong cuộc sống hàng ngày, từ lúc mới sinh ra đời cho đến khi đầu bạc răng long, chúng ta đă đối diện với biết bao nhiêu biến cố từ “hỷ nộ ái ố” đến việc t́m kiếm miếng cơm manh áo và thế đứng trong xă hội.
Cho rằng xă hội Việt Nam của chúng ta dù nó có nhỏ bé và lạc lậu đến đâu, th́ cũng vẫn là một xă hội với những tín ngưỡng và những đức tin của những người Việt Nam thuộc mọi tầng lớp, đă qua bao nhiêu thế kỷ cho đến bây giờ cũng vẫn không bao giờ thay đổi.
Chúng tôi cũng vậy, với những thăng trầm của cuộc sống từ lúc cất tiếng khóc chào đời cho đến khi bước chân vào đời chúng tôi đă trải qua trong hơn 70 năm tuổi.
Ngoài cuộc sống hàng ngày, tôi c̣n được cái may mắn là đă ghi nhận được những sự việc, mà rất ít sách vở trên thế giới, lại có thể diễn đạt được những sự kiện thuộc về Thế Giới Tâm Linh, của con người trong Thế Kỷ thứ hai mươi vậy.
Phải thành thật mà nói, tôi không tự tạo cho ḿnh một chỗ đứng trong những câu chuyện, mà tôi sẽ kể dưới đây, v́ tất cả chỉ là một sự t́nh cờ trong công việc hàng ngày của tôi, rồi từ đó cũng do những hiểu biết bắt nguồn từ nhửng tṛ chơi dại dột, đến những hành động liên quan đến việc phải giải quyết, những sự việc thuộc về thế giới vô h́nh, mà tôi đă tham gia.
Ngay khi c̣n mài đũng quần tại trường trung học Chu Văn An Hà Nội, để rồi từ đó tôi có linh cảm rằng có lẽ tôi cũng thuộc vào một “hạng người” nào đó, có thể có “quyền lực” để giải quyết những vấn đề liên quan đến, người sống và người chết trong thời đại văn minh hiện nay, của Thế Kỷ thứ hai mươi vừa qua.
Nội dung những câu truyện dưới đây đều là chuyện có thật 100% nhưng v́ kể lại để hầu chuyện quư bạn đọc, cho nên phải có sửa đổi đôi chút để khi đọc đến nó không bị nhàm chán, tuy nhiên thời gian và không gian của câu chuyện, không có thay đổi.
Nhưng riêng về con người và tên các nhân vật, lúc thực, lúc hư cũng tùy theo hoàn cảnh của nó cho phù hợp với thực tế hiện tại.
Tác giả mong rằng quư bạn sẽ hài ḷng khi đọc đến những câu chuyện thuộc vể Thế Giới Tâm Linh trong cuốn sách nhỏ bé này.
Vào đời với tuổi học tṛ.
Vào một buổi sáng sớm của ngày Nguyệt tận, 29 tháng Sáu năm Quư Dậu, tôi cất tiếng khóc chào đời với hai con mắt nhắm lại, có lẽ v́ tôi không muốn nh́n những vật thể chung quanh đang quay cuồng trong cái xă hội Việt Nam vào những năm đầu của Thập Niên 1930.
Tôi không chịu mở mắt khi chào đời mà chỉ khóc cho cuộc đời, v́ tôi được sinh ra sớm hơn hai tháng cho nên mấy ngày sau hai con mắt của tôi mới hé nh́n cảnh vật chung quanh giống như mấy con chó cún sau mấy ngày sinh ra chúng mới mở mắt vậy.
Thế rồi tôi cũng được Bố Mẹ tôi mướn người chăm sóc đồng thời đă đưa tôi về Quê Nội ở làng Kiều Trung, Huyện Thạch Thất Tỉnh Sơn Tây, nay được đổi là Thôn Kiều Trung, Thị Trấn Phúc Thọ, Huyện Phúc Thọ Tỉnh Hà Tây.
Để tôi không phải sống trong cái không khí ồn ào, ô nhiễm của thành phố Hà Nội vào năm 1933, tôi đă sống với Bà Nội ở quê tôi cho đến khi được bốn tuổi tôi mới trở về với Bố, với Mẹ và với các anh chị em như là một đứa trẻ b́nh thường.
Khi được sáu tuổi tôi cũng được đưa đến trường Mẫu Giáo ở gần nhà, để chập chững bước vào đời như những người bạn cùng lứa tuổi, đến lúc này khối óc non nớt của tôi cũng đă bắt đầu ghi nhận được, những sự việc đang xẩy ra hàng ngày chung quanh tôi.
Bộ nhớ của khối óc bắt đầu cảm nhận và in vào tiềm thức để rồi khi tới tuổi xế chiều, ngồi ôn lại quá khứ như các bậc sinh thành thường nói: “già sống với kỷ niệm” tôi mới thấy tuổi thơ của tôi cũng có nhiều thăng trầm, như khi đến tuổi trưởng thành vậy.
Sau đây tôi xin kể hầu quư bạn những chuyện thuộc về Thế Giới Tâm Linh, mà tôi đă gặp cũng như phải giải quyết, đă được bắt nguồn từ những tṛ chơi dại dột khi tôi c̣n nhỏ tuổi, câu chuyện bắt đầu:
Tuổi thơ với những tṛ chơi dại dột:
Vào những năm 1941, 1942, khi mà người Pháp c̣n đang cai trị Việt Nam, mặc dầu đệ nhị Thế Chiến đang đến hồi quyết liệt, nhưng Quân Đội Nhật cũng chưa đặt chân được vào Đông Dương, cho nên gia đ́nh Bố mẹ và anh chị em tôi vẫn c̣n buôn bán và ở dưới phố Khâm Thiên.
Lúc đó tôi đang ở cái tuổi nghịch ngợm nhất của tuổi thơ, cho nên chị em chúng tôi mới tổ chức những tṛ chơi dại dột dưới đây:
Phụ đồng chổi.
Phụ đồng chổi và phụ đồng cóc, là mấy tṛ chơi của những người thuộc thế hệ chúng tôi, phụ đồng cóc th́ tôi chưa dám thực hiện.
V́ nhà của Bố Mẹ tôi không đủ chỗ cho người ngồi đồng “nhảy như cóc nhảy”, riêng phụ đồng chổi th́ chị em chúng tôi có thử chơi một lần rồi, sau đó chúng tôi không dám làm đến lần thứ hai.
Muốn phụ đồng chổi phải làm như sau:
Người ngồi đồng, anh người làm của mẹ tôi, tuổi chừng 17 có tên là Dương, ngồi xổm trên mặt đất, mắt nhắm lại, tay phải cầm một cái chổi thường dùng để quét nhà, tôi cầm ba nén nhang quơ đi quơ lại trước mặt anh Dương.
Mấy người ngồi chung quanh gồm có chị tôi, cô em họ tên Nhung, và chú em tôi, tất cả là bốn người cùng đọc ‘Thần Chú’ bài phụ đồng như sau:
“Phụ đồng Chổi
Thôi lổi mà lên
Ba bề bốn bên
Đồng lên cho chóng
Nhược bằng cửa đóng
Phá ra mà vào
Cách sông cách ao
Th́ vào cho được
Cách roi cách vọt
Th́ đánh cho đau
Hàng trầu hàng cau
Là hàng con gái
Hàng bánh hàng trái
Là hàng bà già
Hàng hương hàng hoa
Là hàng cúng Phật
Đội mũ đi tế
Là ông Cẩm Đô
Đánh trống phất cờ
Là phụ đồng chổi”.
Cứ như thế chị em chúng tôi đọc chừng năm hay sáu lần bài phụ đồng nói trên, th́ anh Dương bắt đầu mở mắt, hai con mắt của anh trông lờ đờ, rồi cứ thế anh cầm cây chổi quét đi quét lại chung quanh gian nhà chúng tôi đang chơi tṛ chơi phụ đồng chổi.
Nghe chúng tôi ồn ào dưới nhà ngang, mẹ tôi vội chạy xuống, và khi thấy anh Dương đang cầm cái chổi quét qua quét lại, biết chúng tôi tinh nghịch nên mẹ tôi đă cầm nguyên thau nước lạnh, rồi tạt vào người anh Dương và thế là “thăng đồng”.
Linh hồn người sống không nhập được vào xác phàm khi đang nằm ngủ trên giường.
Lần tinh nghịch thứ hai của anh em chúng tôi sau phụ đồng chổi, là một tṛ chơi mà chúng tôi nghịch vào lúc bấy giờ, chúng tôi không nghĩ rằng thân xác chúng ta lại có hai phần:
Phần một là xác phàm và phần hai là Linh Hồn; tôi xin kể ra đây để quư bạn đọc cùng suy ngẫm về con người hiện tại của chúng ta. Tṛ chơi tinh nghịch được bắt đầu như sau:
Một ngày nắng ráo của mùa hè năm 1942, buổi trưa hôm đó vào khoảng 2 giờ chiều, tôi và chú em tôi thấy anh Dương đang nằm ngủ say trên lầu (gác) tại nhà của bố mẹ tôi ở Phố khâm Thiên.
Tôi bèn cùng với chú em tôi lấy sợi giây đay, môt loại dây được dùng để khâu hay cột hoặc dệt thành những bao đựng gạo lúc bấy giờ, chúng tôi cột chặt hai ngón chân cái của anh Dương lại với nhau, rồi cột vào chân giường.
V́ chúng tôi cứ nghĩ rằng khi anh Dương tỉnh dậy và bước xuống giường th́ thế nào cũng ngă (té) và chúng tôi sẽ có một trận cười ngả nghiêng, nhưng thưa quư bạn, anh Dương đă ngủ luôn cho đến 4 giờ chiều mà không thấy dậy.
Sau mấy tiếng đồng hồ không thấy anh người làm xuống phụ buôn bán, nên mẹ tôi mới gọi vọng lên trên gác nơi anh em chúng tôi đang ŕnh xem chừng nào anh người làm tỉnh giấc, mẹ tôi gọi lớn tiếng:
- Thằng Dương đâu rồi? ngủ ǵ mà ngủ kỹ vậy? mấy anh em con gọi nó xuống giúp mẹ cái coi.
Chúng tôi sợ quá bèn lay anh Dương để đánh thức anh dậy, nhưng chúng tôi không làm sao cho anh ấy thức giấc được, nên sau đó chúng tôi vội nói với mẹ tôi:
- Mẹ ơi, anh Dương ngủ trên này nhưng chúng con gọi măi mà không thấy anh ấy dậy, mẹ lên mà coi đi.
Nghe vậy mẹ tôi cầm cái roi mây chạy lên lầu và khi thấy hai ngón chân của anh Dương bị cột chặt lại với nhau, mẹ tôi quay sang hỏi chúng tôi:
- Đứa nào cột chân thằng Dương lại với nhau như thế này? Sau câu nói đó là anh em chúng tôi mỗi đứa ăn mấy cái roi mây ngồi khóc với nhau, trong lúc mẹ tôi vừa cởi trói cho anh Dương vừa gọi lớn tiếng:
- Hú ba hồn bảy vía thằng Dương ở đâu th́ về.
Nghe tiếng ồn ào ở trên lầu, mấy người bạn của mẹ tôi vội chạy lên, nhưng khi nh́n thấy quang cảnh trong căn nhà và anh Dương th́ nằm bất động như người chết rồi và chỉ c̣n thoi thóp thở mà thôi, mấy bà bèn phụ mẹ tôi để gọi hồn vía của anh Dương về để nhập vào xác anh đang nằm trên giường.
Một bà th́ giật tóc mai để anh tỉnh lại, một bà khác lấy một cái tô lớn bắt anh em chúng tôi tiểu vào để lấy nước tiểu rồi cậy miệng anh Dương đổ hết tô nước tiểu th́ anh ta tỉnh dậy. Sau khi tỉnh lại, anh có kể cho mọi người nghe trong lúc “hồn anh ĺa khỏi xác” như sau:
"Khi anh Dương ngủ say, anh mơ thấy anh đang đi lang thang gần đó, bất chợt bị trói hai ngón chân cái lại với nhau, th́ cũng là lúc anh trở về nhà, nhưng khi thấy hai ngón chân bị trói chặt lại, Linh Hồn anh đă không thể nào nhập được vào thân xác của anh đang nằm ở trên giường.
Thế rồi “linh hồn” anh cứ đi lang thang chung quanh nhà, anh được chứng kiến mọi chuyện xẩy ra trong nhà cho đến khi anh nghe tiếng mẹ tôi gọi:
“Ba hồn bảy vía của anh” đồng thời cởi trói cho anh, lúc đó linh hồn anh mới nhập được vào thân xác đang nằm trên giường, để mở mắt tỉnh dậy như người bệnh sau một giấc ngủ dài”.
Tôi viết ra đây câu chuyện này để quư bạn đọc suy ngẫm thôi nhé, chứ đừng có ai dại dột mà bắt chước anh em chúng tôi, để rồi mang họa và tôi không chịu trách nhiệm, nếu có ai tinh nghịch như anh em chúng tôi, khi chúng tôi c̣n nhỏ tuổi vào những năm đầu của thập niên 1940.
Cũng kể từ sau lần tinh nghịch này, chúng tôi không c̣n nghĩ đến những tṛ chơi táo bạo nào khác, cho đến mười năm sau, năm 1952, tôi mới gặp lại một “biến cố” của gia đ́nh bố mẹ tôi, qua việc những người đă chết nhập vào người sống để “xin ăn”.
Mời quư bạn coi câu truyện dưới đây th́ sẽ rơ.
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1144 of 2534: Đă gửi: 06 December 2008 lúc 10:45pm | Đă lưu IP
|
|
|
THẾ GIỚI TÂM LINH
(KỲ HAI)
Những Linh Hồn và ông thầy Phù Thủy
Tôi có bà chị gái tuổi Nhâm Thân, chị tôi lúc c̣n con gái th́ cũng hay đi lễ chùa, cúng Phật. Cũng v́ những việc này mà chị tôi bầy đặt “đồng bóng” vào những ngày lễ tại những đền, miếu chung quanh Hànội.
Năm 1952, nhân dịp Lễ Vu Lan, ngày rằm tháng Bảy, chị tôi đă đi về Quê Nội của chúng tôi ở Phủ Từ Sơn Tỉnh Bắc Ninh, à quên tôi không thưa với quư anh rằng Bà Nội tôi qua đời vào năm 1935, do đó Ông Nội tôi đă tục huyền cho nên chúng tôi mới có hai Quê Nội đó là Huyện Thạch Thất Tỉnh Sơn Tây và Phủ Từ Sơn Tỉnh Bắc Ninh là vậy.
Khi đi ngang qua nghĩa trang đầu làng, chị tôi thấy dân làng đang tảo mộ và cúng cô hồn, thay v́ đi luôn để về thăm họ hàng, th́ chị lại đi vào nghĩa trang để thăm mấy ngôi mộ của những người không quen biết và cũng bầy đặt “cúng cúng, vái vái” cầu phước có lẽ “cho con xin lấy được người con thương chăng”?
Ngày hôm sau chị tôi trở về lại Hànội và thấy trong người không được khỏe như mọi khi, tôi thấy chị lúc nào cũng thờ thẫn như người mất hồn, và có lúc nói năng lảm nhảm như bị “ma làm” th́ phải.
Mẹ tôi cũng thấy vậy nhưng lại nghĩ rằng chị đi về thăm quê, ra đường bị nắng bị gió cho nên chắc là “bị cảm mạo phong sương” nên mẹ tôi đến gặp ông bác của tôi là Y Sĩ Nguyễn Xuân Chữ tại Bệnh viện Phủ Doăn để xin điều trị.
Sau khi khám bệnh chị tôi xong, ông bác của tôi đă cho mẹ tôi biết rằng: “chị tôi chỉ bị cảm cúm qua loa nên chỉ cần uống thuốc chừng vài ngày th́ hết”.
Sau vài ngày uống thuốc, bệnh của chị tôi không thuyên giảm mà lại có chiều hướng gia tăng, nên chị lại được đưa đến gặp Bác Sĩ về tim mạch và thần kinh để khám bệnh.
Kết quả là tim không sao nhưng “thần kinh th́ có giao động” nên được đưa đi chạy điện hàng ngày tại pḥng Quang Tuyến của Bệnh viện Phủ Doăn.
Sau hơn mười lần chạy điện, bệnh t́nh chị tôi không thuyên giảm mà lúc nào cũng nói năng lảm nhảm, nên mẹ tôi lại sợ chị bị yếu tim, nên cho người đi mua ‘Châu Sa, Thần Sa’ ở tiệm thuốc Bắc phố Hải Thượng Lăn Ông đem về chưng cách thủy với tim heo cho chị ăn hàng ngày.
Một thời gian, sau khi ăn hết cũng cả chục cái tim heo nhưng không hết, cuối cùng qua mấy lời cố vấn của những bà bạn, mẹ tôi đă đi coi thầy th́ được thầy phán rằng:
- Người nữ này bị ma làm, nhà chị phải lập đàn để cầu xin những linh hồn người khuất mặt buông tha th́ người nữ này mới hết bệnh được.
Nhớ lại ngày về quê bên Bắc Ninh, chị tôi có đi cùng với cô em họ, nên mẹ tôi mới hỏi xem hai chị em đi đến những đâu mà bị ma làm.
Cô em họ tôi mới cho biết những ǵ đă xẩy ra vào hôm rằm tháng bảy vừa qua, đồng thời tin vào lời của ông thầy bói, cho nên mẹ tôi đă vội vàng về quê để rồi cho người ra mấy ngôi mộ, tại nghĩa trang của làng để cúng kiến xin tha mạng cho chị.
Đến khi trở về lại Hànội mẹ tôi cũng không quên đem theo mấy cành dâu, loại dâu cho tằm ăn, để làm roi trị tà ma.
Trong lúc nói năng lảm nhảm th́ không một ai kiềm hăm được sự phá phách của chị ngoài tôi ra, có nghĩa là khi đang đập phá hay la hét, th́ chỉ có mỗi một ḿnh tôi, mới bắt chị ngồi yên ở chỗ nào th́ ngồi yên tại chỗ đó, và không c̣n la hét hay phá phách nữa.
Mà chỉ c̣n nói lảm nhảm những câu không ra đâu vào đâu, và vẽ nhăng vẽ cuội những h́nh vẽ trên bộ ván, mà không ai hiểu nổi là những h́nh ǵ.
Thấy vậy mẹ tôi nói với tôi:
- Con xin nghỉ học để coi chừng nó cho mẹ, chừng nào mẹ t́m được ông thầy lúc bấy giờ con mới đi học lại.
Nói vậy th́ nói, tôi vẫn đi học hàng ngày nhưng đến khi về đến nhà, lại phải săn sóc chị cho nên bài vở tôi học “không ra làm sao” và chú em tôi đă luôn luôn phải giải các phương tŕnh đại số dùm tôi, rồi giải nghĩa luôn để tôi nạp bài cho thầy giáo.
Ngày lại qua ngày, cho đến hơn hai tháng sau, mẹ tôi rất mệt mỏi c̣n tôi th́ cứ sau giờ học ở trường về đến nhà là lại phải canh chừng chị, cho nên tôi học cũng không khá được, nhất là về đêm sự phá phách của chị cũng có lúc gây ồn ào cả khu phố Mă Mây vậy.
Gần nhà tôi, cách chừng 100 thước nhưng nằm vào một khu phố khác, đường Đinh Công Tráng hiện nay, có Đền Thờ Đức Trần Hưng Đạo và c̣n được gọi là Đền thờ Đức Thánh Trần.
Tại đây việc nhang đèn cúng vái xẩy ra hàng ngày nên mẹ tôi nghĩ, có lẽ nên đưa chị tôi sang đền thờ để xin Đức Thánh Trần “trị tà ma đang nhập trong người chị tôi”.
Hôm đó là ngày Mồng Một tháng 10 Âm Lịch, chị tôi được đưa sang bên đền thờ lần đầu tiên. Sau một hồi cúng vái, có ngồi đồng cũng như yểm bùa, đốt bùa thành tro rồi ḥa tan trong nước để chị tôi uống.
V́ theo lời mấy ông thầy, những con ma này sẽ không c̣n nhập vào chị tôi nữa, và hơn một giờ sau mới thăng đồng để đưa chị tôi về nhà, coi như buổi lễ khoán bùa đă chấm dứt.
Nhưng thưa quư bạn, khi về đến nhà hai con mắt của chị long lên ṣng sọc coi rất dữ dằn, và thế là chị tôi đập phá lung tung không có ai cản nổi.
Vóc dáng con người th́ nhỏ bé, cao chỉ có 1.52m, cân nặng chưa tới 40 kí lô, vậy mà hai anh phu vác gạo rất lực lưỡng, anh nào cũng có thể vác trên vai một bao gạo chỉ xanh nặng tới 120kgs, cũng không thể nào kiềm chế được sự phá hoại của chị vào buổi chiều hôm đó.
Do vậy Mẹ tôi đă cấp tốc cho người gọi tôi từ trường về để ngăn cản chị không cho đập phá nữa. Khi tôi về đến nơi, th́ mới chỉ nh́n thấy tôi bước chân vào nhà, chị đă len lén vào một góc nhà để ngồi im thin thít.
V́ trên tay của tôi đang cầm cành dâu tằm ăn có tẩm nước tiểu của chính tôi từ trước. Thấy vậy mẹ tôi nói:
- Thôi con nghỉ học đi để giữ nó v́ mẹ mệt quá rồi.
Ngày rằm tháng 10 âm lịch năm 1952, chị tôi lại được đưa sang Đền Thờ lần thứ hai. Buổi sáng hôm đó là ngày nghỉ, nên tôi và chú em tôi đă phụ để đưa chị sang đền thờ Đức Thánh Trần.
Khi trở về đâu cũng đến 11 giờ trưa, ngay lúc đó tôi thấy anh họ tôi tên là Nguyễn Ngọc Diệp, con trai của người anh thứ ba của mẹ tôi, từ Nam Định lên, bước vào nhà và chào mẹ tôi:
- Thưa mẹ con đă về.
Quá đỗi ngạc nhiên v́ mẹ tôi là Cô ruột của anh Diệp, th́ Diệp phải gọi mẹ tôi bằng Cô mới đúng, mà lúc vào nhà lại gọi là Mẹ và xưng Con nên mẹ tôi nói:
- Diệp, tôi là cô của cháu chứ đâu có phải là mẹ của cháu đâu mà cháu ăn nói như vây?
- Dạ “thưa mẹ” con không phải là Diệp, con là Đỉnh, con của mẹ. Con biết ở nhà có chuyện lộn xộn con tính “về nhiều lần” để giải quyết chuyện của em Phượng (tên chị gái tôi)
Nhưng con phải chờ măi cho đến hôm nay, con mới xin được phép để về thăm nhà. Con bận lắm mà thời gian th́ có hạn thôi, vậy mẹ cho đưa em về đây để con giải quyết.
- Ôi trời đất ơi là trời đất ơi, hết “con” bây giờ lại đến “cháu” thế này th́ làm sao tôi sống nổi?
Mẹ tôi đă vừa khóc vừa kể lể như vậy.
Tới đây tôi xin phép kể qua “gia phả” của gia đ́nh bố mẹ tôi, có liên quan đến người anh cả của tôi tên là Ngô Hán Đỉnh, chết khi vừa đươc mười lăm tuổi.
Gia đ́nh của bố mẹ tôi có được bảy người con, anh Cả của tôi là Ngô Hán Đỉnh, chết năm lên 15 tuổi v́ bị bệnh thương hàn, mặc dầu đă được đưa vào Bệnh viện Cống Vọng, nhưng v́ không có thuốc nên đă chết tại bệnh viện mấy ngày sau đó 1929-1944.
Người anh thứ hai của tôi là Cố chuẩn Tướng Ngô Hán Đồng, Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Quân Đoàn I Vùng I Chiến Thuật, tử nạn phi cơ trực thăng khi cùng Thiếu Tướng Phan Đ́nh Soạn, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn I của Trung Tướng Hoàng Xuân Lăm tại Đà nẵng đi thăm chiến hạm Destroyer thuộc Đệ Thất Hạm Đội của Hải Quân Hoa Kỳ đang biểu diễn Hải Pháo tại cửa biển Đà Nẵng vào năm 1972.
Người thứ ba là chị gái của tôi, Ngô Minh Phượng, hiện định cư tại Melbourne, rồi đến tôi.
Sau đó là chú em tôi tên là Ngô Xuân Sơn, Giảng viên của Trường đại học Sư Phạm Hànội, hồi hưu năm 2003.
Đến cô em gái kế tiếp là Ngô Thuư Loan, giáo viên, có chồng là Giáo sư Trần Quốc Vượng, và là nhà khảo cổ của Hànội.
Cuối cùng là Ngô Bạch Yến, giáo viên, có chồng đă hồi hưu vào mấy năm vừa qua.
Như vậy tính đến năm 1952 th́ anh Cả của tôi cũng đă chết được 8 năm, chuyện quá lạ đấy. Sau đó quay sang tôi, anh nói:
- Lâm sang bên đền thờ Đức Thánh Trần đưa chị Phượng về đây cho anh để anh coi.
Nghe đến đây tôi thấy: “có lư lắm v́ khi người chết đă trở về th́ mọi việc sẽ êm xuôi”. Tôi vừa quay ra đến cửa th́ nghe tiếng mẹ tôi nói như hét lên:
- Đi vào, để yên con Phượng ở bên đó cho tôi.
Tôi quay lại nh́n anh, tôi thấy người thở dài rồi bước vào nhà trong, trả lại cửa hàng cho mẹ tôi buôn bán. Tôi và Sơn vội đi theo “ông anh đă chết” vào phía sau và lên ngồi trên bộ phản bằng gỗ Lim trong tư thế chờ đợi.
Trong gian pḥng này có bàn thờ Thổ Công được treo trên tường, và cũng đang được nhang đèn nghi ngút v́ là ngày rằm tháng 10, khoảng chừng một lát sau anh tôi mới nói với tôi rằng:
- Anh chỉ được phép về lo việc nhà có mười phút mà thôi, nay mẹ không tin tưởng vào anh, bây giờ cũng đă đến giờ phải về cơi âm để làm việc, thôi anh sẽ chờ vào dịp khác, hoặc sẽ nhờ người ta làm dùm để giải quyết t́nh trạng của em Phượng.
Nói xong anh tôi đến đứng trước bàn thờ Thổ Công, thắp ba nén nhang rồi khấn như sau:
- Đệ tử là Ngô Hán Đỉnh, sinh năm 1929 và chết năm 1944; Đệ tử được phép về thăm nhà để giải quyết t́nh trạng của em gái Đệ Tử là Ngô Minh Phượng đă “bị những vong hồn nơi cơi âm quấy phá”.
V́ thời gian có hạn trong lúc mẹ của Đệ Tử không tin tưởng nơi Đệ Tử, cho nên đă đến giờ phải về cơi Âm. Đệ Tử thành kính biết ơn Đức Thổ Thần đă cho phép Đệ Tử được bước chân vào nhà này, nhưng không thể ở lâu được nữa. Đệ Tử kính lạy Đức Thổ Thần để đi về Âm Cảnh.
Khấn xong, ông anh của tôi lạy trước bàn thờ Thổ Công bốn lạy, rồi đứng chụm hai chân và dang hai tay theo h́nh chữ thập, rồi đổ ngửa về phía sau như cây chuối đổ, hai tay vẫn dang ra và không có cách ǵ gập lại đựơc.
Thân xác cứng nhắc, mặt mày tái mét, hai hàm răng nghiến chặt, hai môi mím lại, hai mắt nhắm nghiền trong lúc đó th́ Sơn và tôi vội đỡ anh dậy, nhưng chúng tôi không thể nào nhắc anh lên được, v́ “sức nặng ngàn cân” đang đè nặng lên con người của anh.
Nghe tiếng ồn ào và tiếng la hét của hai anh em tôi, mẹ tôi và mấy người quen chạy vào coi, cùng lúc đó, chừng không tới một phút, anh Diệp đă lồm cồm ngồi dậy, vừa dụi mắt vừa nh́n mẹ tôi rồi anh nói:
- Thưa Cô, con mới ở Nam Định lên.
Khoảng chừng một tháng sau có người nói với mẹ tôi rằng:
- Ở dưới Ngă Tư Sở có một ông thầy phù thuỷ tuy đă già nhưng thầy trị tà ma hay lắm, bà xuống thử coi xem sao.
Được người mách bảo, mẹ tôi và tôi đă đi xuống Ngă Tư Sở để gặp ông thầy để tŕnh bày câu chuyện cho thầy biết.
Nghe xong ông ta lại trước bàn thờ Phật, thỉnh chuông, thắp nhang rồi lạy Phật, xong ông bấm mấy đốt ngón tay bên trái, miệng th́ lẩm bẩm những ǵ tôi không biết; chừng vài phút sau ông Thày nói với mẹ tôi:
- Nhà chị cho nó xuống đây vào ngày.. để tôi coi nó xem sao.
Đền thờ của ông thầy pháp, c̣n gọi là Pháp Sư, là một căn phố nhưng cửa ở mặt tiền lúc nào cũng đóng kín, muốn vào nhà phải đi bằng một con hẻm bên hông nhà, với bề ngang độ chừng 90 phân tây, để ra phía đằng sau nhà, tới một cái sân rộng rồi mới vào đến “điện thờ” bằng cửa sau.
Như vậy trọn căn nhà được chia làm hai: phần trước là mặt tiền th́ đặt bàn thờ, được gọi là Điện Thờ c̣n gian trong có một bộ ván bằng gổ lim để ngả lưng, và một bộ tràng kỷ để tiếp khách.
Tại điện thờ, tôi thấy sát tường là một bệ thờ được xây bằng gạch, có một tấm đan đúc bằng bê tông cốt sắt, trông giống như ḷ suởi chụm củi vậy.
Bệ thờ có kích thước bề cao một thước, bề rộng một thước hai, và bề sâu cũng tới tám mươi phân. Trên bệ thờ có đặt một pho Tượng Phật ngồi trên toà sen cao ước chừng hơn một thước, mà tôi không biết là Tượng Phật Bà Quan Âm hay Tượng Đức Phật Di Lặc.
Phía dưới bệ thờ Phật có một khoảng trống được “trang trí” như quang cảnh dưới Địa Ngục với những quỷ sứ Đầu Trâu, Mặt Ngựa, tay cầm đinh ba và có “một ông quỷ” đang nắm một tội nhân để bỏ vào vạc dầu.
Ngoài ra c̣n có những cảnh đang tra tấn mà tội nhân bị nắm cổ đến le lưỡi, sơn đỏ chót trông cũng rùng rợn lắm.
Bên cạnh bàn thờ Phật, và cảnh địa ngục về phía bên phải có để một giá bằng gỗ có cắm những: Đinh Ba, Thanh Long Đao, Bát Xà Mâu… tổng công 8 loại vũ khí trong truyện Tàu ngày xưa, cái giá gỗ có vũ khí này c̣n được gọi la “Bát Bửu”.
Những vũ khí này dài đến hai thước và nó rất nặng v́ là vũ khí của các Tướng Lănh người Tàu như Quan Vân Trường, Trương Phi trong truyện Tam Quốc Chí.
C̣n bên trái bệ thờ th́ cũng có một cái giá gỗ có cắm những lá cờ bằng vải đỏ, lớn cỡ 80x80cm và cán cờ làm bằng cây Mây, có đường kính tới hơn hai phân và dài đến hai thước.
Ngoài ra trên vách tường c̣n treo những bức h́nh tượng trưng cho Ông Thiện và Ông Ác, mà mỗi khi ta đến thăm các đền đài hay chùa chiền miếu mạo, ta thường thấy những pho tượng Ông Thiện và Ông Ác đứng trấn ở ngoài mặt tiền ở những nơi này.
Đúng ngày đă định, mẹ tôi thuê một chiếc xe du lịch, hồi đó nếu ai ở Hànội th́ sẽ thấy loại xe Vedette 8 máy, là xe thông dụng nhất trong việc cho thuê, v́ rộng răi và được các cô gái Hànội thường dùng làm xe rước dâu trong những dịp cưới hỏi.
Khi xe đến mẹ tôi, tôi và cô bạn gái tên là Phụng cùng hai anh công nhân làm nghề khuân vác, đă đưa chị tôi ra xe để xuống nhà ông Thầy Phù Thuỷ.
Để chị tôi không phá phách lúc ra xe, mẹ tôi đă nói:
- Để mẹ đưa con đến Bệnh viện Phủ Doăn cho Bác sĩ chạy điện nhé.
Nhờ câu nói dối này cho nên chị tôi đă lặng lẽ ra xe và xe chạy dọc đường không có ǵ trục trặc.
Khi xe ngừng trước cửa nhà ông thầy là bắt đầu có chuyện. Chị tôi sau khi nh́n dáo dác hai bên đường như t́m kiếm cái ǵ, nhưng khi nh́n thấy nhà ông Thầy th́: dang hai tay, dang hai chân, mắt nhắm nghiền, môi mím chặt, nghiến răng và mặt mày xanh lét trông rất ghê sợ.
Hai anh công nhân vác gạo ngồi hai bên chị từ lúc xe chạy, đă thật là vất vả mới đưa được chị tôi ra khỏi xe.
Khi vào đến lối đi để ra sân đằng sau nhà th́ ôi thôi, thật không thể nào tin vào con mắt của chính ḿnh nữa, bốn người gồm hai anh công nhân, anh tài xế và tôi, lúc này tôi cũng đă 19 tuổi rồi c̣n ǵ, đă vất vả xoay nghiêng chị tôi, như ta mang “một h́nh nhân bằng thép” v́ nó nặng có tới hơn 100kgs để vào nhà ông thầy pháp.
Vào đến nơi tôi thấy ông thầy đang ngồi trên ghế tràng kỷ cạnh bàn nước, miệng nhai trầu bỏm bẻm, khi nh́n thấy chúng tôi đă đưa được chị vào đến sân Thầy nói với mẹ tôi:
- Nhà chị đưa con nhỏ đó vào đây và để nó nằm trên phản cho tôi.
Chúng tôi làm theo lời thầy dạy rồi ra ngoài nghỉ mệt v́ mất cũng đến gần mười phút, mới đưa được người bệnh vào nhà, với khoảng cách chỉ có hơn hai mươi thước mà thôi.
Nằm trên bộ ván, con gái ǵ mà nằm dang chân dang tay h́nh chữ đại (viết theo chữ Nho) trông mất nết quá, trong lúc mắt nhắm lại, răng cắn chặt, coi bộ giận dữ lắm. Ông Thầy nh́n thấy vậy bèn cười rồi nói với mẹ tôi:
- Nhà chị cứ yên tâm, để nó đấy cho tôi, đă vào đến đây th́ thép cũng phải chảy thành nước.
Nói xong ông gọi vọng xuống nhà dưới ở phía cuối sân. Ông Thầy không có vợ con mà chỉ có ba anh con nuôi mà thôi, và được gọi thứ tự ngoài Bắc như: Anh Cả, Anh Hai và Anh Ba.
- Thằng Cả đâu, cho nó con ‘Bạch Xà’ cho tao coi.
- Dạ thưa Thầy có con đây.
Trả lời xong anh con Cả của ông Thầy xuất hiện nơi cửa sau, đó là một người trên dưới 50 tuổi, trên tay ông Cả có một cái khay, trên có phủ một vuông vải điều (vải đỏ) có kích thước cỡ 50x50cm.
Trên vuông vải đỏ có để một cái đĩa có h́nh Thất Hiền, Bát Tiên, trên đĩa là một mảnh giấy quyến, loại giấy mà các ông thầy phù thuỷ thường dùng để vẽ bùa cho con nít đeo nếu khó nuôi.
Mảnh giấy cỡ 5x30cm, bên cạnh tờ giấy quyến tôi c̣n thấy có ba cây nhang nhưng chưa đốt, Ông thầy Cả mang khay tới trước bàn thờ Phật để lên bàn thờ, sau đó đốt ba cây nhang để cúng Phật.
Cúng xong ông mới đốt ba cây nhang trên khay, rồi mang khay đến bộ ván gỗ nơi có chị tôi nằm, đặt khay xuống một bên, rồi ông ta ngồi lên bộ ván chân xếp bằng, bàn tay phải cầm ba cây nhang để chuẩn bị “thư bùa” vào tờ giấy quyến.
Khi thư bùa, miệng ông lâm râm đọc “thần chú” trong lúc đó ngón tay cái của bàn tay trái, th́ được dùng để bấm vào những đốt ngón tay của những cung Tư, Ngọ, Mẹo Dậu... của thập nhị chi (12 con giáp) để “bắt quyết”.
Mỗi lần ngón cái bấm vào một vị trí nào “quan trọng” của thập nhị chi, th́ bàn tay trái được giơ cao lên rồi đánh “cách không” (đánh dứ) trên tờ giấy quyến.
Trong lúc đó tay phải với ba cây nhang cũng được viết những chữ nho (Hán Tự) “cách không” (không đụng đến) trên tờ giấy quyến, và miệng đọc thần chú những câu mà tôi không hiểu nghĩa là ǵ.
Sau khi đọc hết bài “thần chú” th́ “Quưêt” cũng vừa bắt xong, ông thầy Cả bèn đặt ba cây nhang xuống khay, cầm tờ giấy quyến đă “thư bùa” lên rồi se nó lại chỉ nhỏ và dài như chiếc đũa ăn cơm.
Se xong th́ chập đôi lại rồi vặn tiếp cho nó không bung ra và để một đầu, chỗ gập đôi của đạo bùa, vào lỗ tai bên phải của chị tôi.
Sau khi đặt xong con “Bạch Xà” vào lỗ tai trông rất là nhẹ nhàng, tôi không thấy ảnh hưởng ǵ đến người bệnh và cũng không có triệu chứng ǵ là đau đớn cả và rồi th́ ông thầy Cả tay phải cầm cái quạt giấy, phe phẩy như ta quạt cho mát; miệng ông đọc thần chú, tay trái lại “bắt quyết” ở những cung trong thập nhị chi trên những lóng tay.
Tôi nh́n chị Phượng với đạo bùa và thấy con Bạch Xà đang từ từ đi sâu vào lỗ tai của chị. Khuôn mặt chị Phượng đang tái mét đă bắt đầu ửng đỏ nhưng vẫn nhắm mắt và nghiến răng để “chịu đựng con Bạch Xà”.
Một lúc sau tôi thấy toàn thân chị đă bắt đầu run rẩy nên khi nh́n h́nh ảnh đó ḷng tôi cũng thấy nao nao như thế nào ấy mà không thể nói ra được; thế rồi ông thầy phù thủy lại gọi xuống nhà dưới:
- Thằng Hai đâu, lên cho nó con bạch xà nữa cho tao coi.
- Dạ thưa thầy con lên ngay.
Thế là lại cũng những hành động như ông thầy Cả đă làm, Ông thầy Hai sau khi đặt con Bạch Xà thứ hai vào lỗ tai trái của chị tôi rồi cũng cầm quạt phe phẩy, bắt quyết và niệm “thần chú”.
Chừng chưa tới một phút sau tôi thấy toàn thân chị Phượng run lên bần bật như có ai “đang tra khảo” dữ dội lắm.
Bất chợt chị đưa hai tay lên nắm lấy hai con Bạch Xà rồi kéo chúng ra khỏi lỗ tai và vứt chúng lên bộ ván gỗ sau đó chị lồm cồm ngồi dậy, ḅ vào một góc nhà, hai con mắt ngó láo liên như muốn t́m đường chạy trốn; khi ánh mắt đụng đến ông thầy phù thủy chị vội vàng cúi xuống trong sợ hăi.
Thưa quư bạn, một trong hai con Bạch Xà, con thứ nhất ở lỗ tai bên phải “máu tươi” của chị Phượng đă nhuộm đỏ chừng hơn một phân tây ngay phần đầu của con Bạch Xà.
Nh́n thấy máu của con gái ḿnh mẹ tôi đă phát khóc nhưng được ông thầy phù thuỷ trấn an:
- Không có sao đâu, nhà chị đừng sợ, sau khi ra khỏi đây th́ kể như con cháu không c̣n cảm thấy đau đớn nữa đâu.
Nói xong ông quay sang tôi rồi hỏi:
- Thằng nhỏ này là thế nào với con nhỏ kia?
- Dạ thưa Cụ, nó là em ruột của con gái tôi.
- A! trông thằng nhỏ cũng “được việc đấy”. Nhỏ ra cúng Phật rồi “ngồi đồng” nghe chưa?
Mẹ tôi nghe vậy liền dẫn tôi ra điện thờ, ông thầy Cả đă thắp nhang và đưa cho tôi để cúng Phật. Sau khi cúng Phật xong, ông thầy Cả bắt tôi ngồi xếp bằng trên một bục gỗ chỉ cao hơn mặt đất có chừng mười phân mà thôi.
Hai tay tôi được lật ngửa và để trên hai đầu gối; sau đó ông thầy Cả lấy một chiếc khăn đỏ (vải điều) có kích thước vuông vắn chừng một thước vuông, chùm lên đầu tôi và bắt tôi nhắm mắt lại để ông “phụ đồng”.
Bản tính nghịch ngợm từ lúc c̣n bé nên trước khi nhắm hai con mắt lại, tôi cũng ngẩng mặt lên để nh́n khuôn mặt Đức Phật xem “nó ra làm sao” và tôi thấy cũng “b́nh thường thôi” rồi tôi mới làm theo lời ông thầy Cả.
Khi những câu “Thần chú” được đọc trong lúc tôi nhắm mắt để ngồi đồng, th́ áng chừng một phút sau tôi thấy người tôi, phần trên từ bụng trở lên đă bắt đầu quay ṿng tṛn như ta lắc ṿng vậy.
Trong bụng tôi lúc bấy giờ rất tỉnh táo nên sau khi quay vài ṿng, tôi lại tự ư rùng ḿnh th́ thấy hết quay như trước.
Ít lâu sau đó thân ḿnh tôi lại bắt đầu quay ṃng ṃng như lần trước, nhưng quay nhanh hơn nhiều với một “góc độ” quay của cơ thể đă ở 60 độ so với mặt phẳng của sạp gổ.
Trong bụng cũng vẫn tỉnh táo cho nên tôi lại rùng ḿnh thật mạnh lần thứ hai, tôi thấy mất hiệu lực của những câu thần chú, tôi chợt nghe tiếng mẹ tôi nói:
- Con để yên cho thầy phụ đồng chứ, con đừng làm vậy mất “linh thiêng” nghe.
- Ôi cái nhà chị này khéo lo, nó đang “thử tài” thầy đấy, cứ để nó tự do thử pháp thuật của thầy rồi sẽ biết.
Sau câu nói của ông Thầy, những câu thần chú cũng được đọc càng lúc càng nhanh hơn, và thế là đến lần thứ ba tôi đành chịu thua ông thầy Cả, sau khi đă rùng ḿnh nhiều lần nhưng không phá được pháp thuật của thầy.
Ông thầy Cả đă “phạt” tôi bằng cách bắt tôi quay cho đến khi cái trán của tôi đụng sạp gỗ phía trước, c̣n cái gáy (ót) th́ chạm mặt sạp phía sau, có nghĩa là thân ḿnh tôi khi quay lúc sấp lúc ngửa đă gần như song song với mặt đất.
Cứ như thế tôi quay cho đến khi hết bài thần chú tôi mới được ngồi thẳng người như trước. Sau khi lột bỏ vuông vải điều, tôi ngẩng mặt nh́n lên bàn thờ Phật tôi thấy “Khuôn mặt Đức Phật như có Hào Quang”.
Quá sợ hăi tôi bèn cúi xuống, th́ mắt tôi lại nh́n thấy những h́nh ảnh tra tấn nơi “Địa Ngục”, thế là tôi bèn ngó mênh ngó mông ở những chổ đâu đâu chứ không c̣n dám nh́n thẳng về phía trước nữa.
Ông thầy phù thủy lúc này đă đứng dậy và đi đến chỗ tôi, đồng thời kéo theo một cái ghế đẩu cao chừng 20cm để ngồi. Phản ứng tự nhiên, không phải do tôi muốn, tôi đă tḥ tay cầm lấy cái ghế và tính kéo ra chỗ khác để cho ông thày “té cái chơi”.
Nhưng “thiên bất dung gian”, trong lúc tôi có ư đồ đen tối th́ cây cờ cán bằng mây đă được ông thầy rút ra khỏi giá cờ từ lúc nào tôi đâu có thấy, và thế là một cái vụt bằng roi mây được giáng thẳng cánh từ vai trái của tôi xuống đến mông đít bên phải, làm cho ruột gan tôi đau như có ai cắt thịt, cái đau như có muôn vàn mũi kim nhọn đang chích vào cơ thể của tôi vậy.
Đau quá tôi vội rút tay lại trong lúc ông thầy ngồi xuống, đồng thời hỏi tôi và bắt tôi phải khai “gia phả” để thầy xét.
Bụng ḿnh th́ vẫn tỉnh, nhưng hành động th́ lư trí không thể kiểm soát được, nên tôi đă nói với ông thầy phù thuỷ:
- Ông không có quyền hỏi và bắt tôi phải khai gia phả với ông.
- A thằng này láo, mày đă đến trước bàn thờ Phật, mày phải khai những ǵ thầy muốn biết. Thằng Cả đâu, cho nó con Bạch Xà.
Ngồi nh́n ông thầy Cả đọc thần chú để làm con Bạch Xà xong, và được nhét nó vào lỗ tai trái của tôi, rồi phe phẩy cái quạt giấy trong lúc miệng lâm râm đọc thần chú, tôi thấy như có ai đó lấy cái búa và cái đục đóng vào đầu tôi làm đầu tôi nhức nhối vô cùng tưỏng chừng như cái đầu muốn vỡ làm đôi vậy.
Tôi không thể nào chịu nổi lâu được, cho nên không đầy một phút sau tôi đă lấy tay trái để rút con Bạch Xà và vứt nó xuống sàn nhà, kể từ lúc đó tôi mới bắt đầu trả lời những ǵ ông thầy hỏi.
Tôi c̣n nhớ những lời khai như sau:
- "Gia đ́nh tôi" người làng Du Lâm, Phủ Từ Sơn, Tỉnh Bắc Ninh, toàn gia đ́nh bảy người gồm có hai vợ chồng, một cô em gái và bốn đứa con đă bị chết khi Phát Xít Nhật ném bom vào sân bay Gia Lâm (bên kia bờ đê của Sông Hồng thuộc Thành Phố Hànội) và những vùng phụ cận.
V́ chết hết cả nhà nên không có ai ma chay cúng kiếng rồi kể từ ngày đó gia đ́nh tôi “đă trở thành ma đói” đi lang thang để xin ăn. Tháng Bảy Âm Lịch vừa qua, khi chúng tôi thấy cô này có ḷng nhân hậu, nên đi theo cô này chỉ để xin ăn mà thôi chứ không có ư định ǵ khác.
Lúc này chị Phương vẫn c̣n ngồi trên bộ phản gỗ ở gian trong, chị nh́n ra Điện Thờ và lặng thinh không nói một câu nào.
Sau khi nghe những lời khai báo tên tuổi của từng người một trong gia đ́nh xong, ông thầy phù thuỷ mới yêu cầu “tôi”, tức gia đ́nh những người quá cố, phải buông tha chị Phượng để rồi sẽ được ông thầy giúp đỡ cho đi đầu thai kiếp khác.
“Tôi” nằng nặc không chịu mặc dầu đă ăn thêm một roi mây từ vai phải xuống đến mông đít trái, hai cái đau đớn vô cùng nhưng củng nhất định không chịu nên thầy nổi nóng và gọi to xuống nhà dưới:
- Thằng Hai đâu lên chặt tay nó cho tao coi.
Nghe đến chặt tay, trong lúc bụng tôi th́ vẫn tỉnh nên thấy ghê quá. Dao thớt được đem ra từ trong Hoả Ngục và được để ở bên cạnh tôi, rồi ông thầy Hai một tay cầm bàn tay trái của tôi đặt lên cái thớt, trong lúc tay kia th́ cầm con dao thật lớn, loại dao mổ trâu, để chuẩn bị chặt bàn tay trái của tôi.
Trong bụng của tôi th́ rất tỉnh táo tôi nhớ tất cả những ǵ tôi đă nói và làm, nhưng khi thấy thầy Hai sửa soạn ‘phập bàn tay’ th́ không biết bởi nguyên nhân nào tôi đă tự động rút tay lại và chấp nhận điều kiện của ông thầy.
Điều kiện th́ cũng dễ thôi, đó là buông tha chị tôi, không được lẽo đẽo đ̣i ăn và không được phá phách kể từ lúc này.
Nếu chấp nhận th́ ông thầy sẽ giúp cho toàn gia đ́nh được đi đầu thai kiếp khác đồng thời gia đ́nh của cô gái này sẽ mua bảy h́nh nhân để “thế mạng”, mua nhà cửa, xe cộ quần áo và vàng bạc để gia đ́nh người chết có “nơi ăn chốn ở” và no đủ trước khi đi đầu thai kiếp khác.
Sau khi thoả thuận xong, ông thầy Cả đă làm một ít “thủ tục” mà tôi không biết như thế nào, rồi sau đó tôi được “thăng đồng” và tỉnh lại.
Phụng, cô bạn gái đi theo tôi đă lại giở áo lên để coi xem vết roi đánh ở trên lưng nó ra làm sao, rồi lấy dầu nóng thoa cho tôi cho nó tan máu bầm, do hai vết roi đánh chéo vào nhau như h́nh chữ X.
Khi chưa thăng đồng tôi cảm thấy đau đớn triền miên không lúc nào ngớt, nhưng sau khi thăng đồng tôi không c̣n thấy đau đớn, mà chỉ c̣n lại hai vết roi mây mà thôi, đúng như lời ông thầy đă nói.
Phía gian trong của căn nhà, trên bộ phản, khi tôi thăng đồng th́ chị Phượng cũng bừng tỉnh như sau một giấc ngủ dài, và v́ quá mệt mỏi nên lại nằm xuống và ngủ một giấc chừng 15 phút sau mới thực sự tỉnh hẳn.
Hai con mắt của chị tôi đă trở lại b́nh thường nhưng có nhiều mệt mỏi v́ thiếu ngủ và bệnh hoạn.
Trước khi ra xe về, ông Thầy Cả c̣n làm một “đạo bùa” cho chị tôi đeo, một đạo bùa khác được đưa cho mẹ tôi để đem về nhà, chôn ngay tại ngưỡng cửa ra vào của căn nhà cùng với “đầu một con chó mực” để gia đ́nh người chết không c̣n bước chân trở lại căn nhà của mẹ tôi để quấy phá nữa đồng thời ông thầy phù thuỷ c̣n nói với mẹ tôi rằng:
- Đúng ngày giờ đă định, chị nhớ cho thằng em nó xuống theo để nó ngồi đồng nhé.
Kể từ lúc ra khỏi nhà ông thầy, chị tôi đă đi lại b́nh thường, ăn uống được và cũng không c̣n phá phách hay nói năng lảm nhảm nữa nhưng người th́ cứ như là “ốm tương tư ai vậy đó”.
Cuộc sống của bố mẹ và anh chị em chúng tôi đă trở lại b́nh thường cho đến ngày đem “lễ vật” xuống nhà ông thầy để “đút lót” những linh hồn của gia đ́nh người quá cố.
Một buổi sáng trước ngày ấn định, mẹ tôi đă thuê xe để đem xuống nhà ông Thầy tại Ngă Tư Sở: vàng mă, nhà lầu, xe hơi, bảy h́nh nhân thế mạng tất cả đều làm bằng giấy trông cũng đẹp lắm, nhất là những người nữ th́ cũng ‘mặt hoa da phấn’ để thay thế cho những người đă chết v́ bom đạn trong thời kỳ chiến tranh.
Để rồi ngày hôm sau, mẹ tôi và chúng tôi mới xuống nhà ông thầy. Khi xuống đến nơi, bước chân vào nhà tôi thấy chị tôi có hơi do dự một chút.
Nh́n khuôn mặt và hai con mắt của chị Phượng mới thấy được rằng, gia đ́nh người chết đă oán hận ông thầy ghê gớm lắm, v́ đă khoán bùa không cho lai văng vào nhà “sau khi đă kư hoà ước” thành ra mất ăn tới mấy tuần lễ.
Tôi lại được làm thủ tục để ngồi đồng cho gia đ́nh người chết nhập vào, để tiếp nhận tặng vật mà gia đ́nh nạn nhân đă hứa vào mấy tuần trước.
Lần ngồi đồng này v́ đă bị khuất phục bởi tài nghệ của Thầy, nên tôi cứ để đồng lên sau khi hết bài thần chú, tôi được bỏ vuông vải điều để nh́n lên tượng Đức Phật, rồi lại nh́n xuống Hoả Ngục, tôi thấy “h́nh như” tôi không c̣n cảm thấy sợ hăi nhiều như lần trước.
Thủ tục tiếp nhận tặng vật được bắt đầu bằng việc “điểm chỉ trên lá bùa” do ông thầy Cả đưa ra th́ tôi lại cưỡng lại và không chịu “cho lấy dấu tay” (lăn mấy ngón tay trên đạo bùa) để xác nhận có sự thoả thuận giữa “Âm và Dương”.
Và những linh hồn này kể từ nay không c̣n được xuất hiện trên dương thế để phá phách mọi người. Thế là lại một con Bạch Xà rồi cũng với hai cái roi mây, lúc bấy giờ tôi mới thuận “kư Hiệp Định đ́nh chiến” với ông thầy.
Điểm chỉ xong, đạo bùa được để lên bàn thờ Phật đồng thời ông thầy Cả đọc một bài thần chú rồi thỉnh mấy hồi chuông xong th́ đốt đạo bùa.
Lúc này ngoài sân, vàng mă đă được “Tôi” kiểm nhận từng món một, và được ông thầy Hai cho đốt cho đến khi cháy hết và chỉ c̣n lại một đống tro hồng.
Lúc đốt, ở trong Điện Thờ tôi nh́n ra đống lửa và khi thấy tro sắp tàn, không hiểu sao tôi “thở dài làm như luyến tiếc lắm th́ phải”.
Đúng lúc này ông thầy Cả đă mang ly nước lạnh trên bàn thờ Phật đến bên cạnh đống lửa, rồi lại niệm thần chú gọi tên từng Linh Hồn của người chết, rồi hất ly nước lạnh vào đống tro c̣n đỏ hồng th́ ở trong Điện thờ.
Tôi tự động “bật ngửa” và thế là thăng đồng, tôi lồm cồm ḅ dậy mà nghe mỏi hết tứ chi, đi cũng không muốn nổi, mẹ tôi và Phụng đă phải đỡ tôi lên ngồi trên ghế mất vài phút sau mới hoàn hồn.
Thế là kể từ ngày rằm tháng bảy năm 1952, ngày chị tôi bị ma nhập cho đến ngày “dứt nợ với bảy Linh Hồn” th́ cũng gần nửa năm.
Và cũng kể từ ngày “kư hoà ước” với những người chết, chị tôi đă trở về nếp sống b́nh thường, cũng lập gia đ́nh 1953, rồi sinh chín người con trai và chỉ có một cô con gái mà thôi.
V́ thời cuộc đưa đẩy, miền Nam Việt Nam bị mất, chị tôi đă cùng với các cháu đến định cư tại Melbourne, trong đó có hai người con trai đă cắt tóc đi tu tại Linh Sơn Tự Melbourne.
Đó là: Thượng Tọa Thích Tịnh Đạo, Đại Đức Thích Tịnh Giác; suốt ngày đêm các thầy đă đem tiếng kinh tiếng kệ để đưa những Linh Hồn của những người đă khuất về “ăn mày Phật”.
Ngô Duy Lâm
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1145 of 2534: Đă gửi: 07 December 2008 lúc 7:30am | Đă lưu IP
|
|
|
THẾ GIỚI TÂM LINH
(KỲ BA)
Tháng 6 năm 1954, tôi nhận được lệnh nhập ngũ và phải nhập học tại Liên Trường Vơ khoa Trừ Bị Thủ Đức. Đầu năm 1955, tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu Úy, tôi được thuyên chuyển ra miền Trung, đóng quân tại Thành Phố Quảng Trị rồi đến quận Đông Hà gần Vỹ Tuyến 17 chia đôi đất nước Việt Nam theo Hiệp Định Geneva.
Sau khi truất phế Hoàng Đế Bảo Đại qua cuộc trung cầu dân ư ngày 23-10-1955, để rồi thành lập nền Đệ Nhất Cộng Ḥa cho miền Nam Việt Nam vào ngày 26-10-1955 cũng là lúc Binh Chủng Công Binh được Quân Đội Pháp giao cho Quân Đội Việt Nam dưới thời Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm.
Do đó việc mở rộng Binh Chủng đến những vùng Chiến Thuật và việc thành lập những Tiểu Đoàn Công Binh cấp Sư Đoàn đă là việc cần thiết để đáp ứng nhu cầu của việc cải tổ Quân Đội.
Nhưng các sĩ quan Công Binh, ṇng cốt là cấp Trung Đội Trưởng, đă thiếu rất nhiều do đó tôi xin theo học Khoá 6 Công Binh tại Trường Công Binh Thủ Dầu Một thuộc Tỉnh B́nh Dương gần Sàig̣n.
Trở vào lại Thủ Đô Sàig̣n sau hơn một năm xa cách để rồi đến Trường Công Binh B́nh Dương, tôi đă học ở đây cho đến tháng 6 năm 1957 mới măn khoá học, trong thời gian đang học, ngày 01-02-1957 tôi được thăng cấp Trung Uư thực thụ nên cũng thấy đời lên hương một chút.
Trong lúc học khoá 6 Công Binh, chúng tôi đă được đưa xuống Năm Căn thuộc Tỉnh Cà Mau để quan sát việc đóng cừ, và phóng cầu Năm Căn của Tiểu Đoàn 1 Công Binh Chiến Đấu.
Muỗi Năm Căn ghê quá, may mà chúng tôi chỉ phải ở lại có hai đêm mà thôi, nhưng tôi cũng đă học được một số kinh nghiệm khi đóng những cây cừ làm trụ trung gian cho cầu Năm Căn, là vùng đất śnh lầy của miền Hậu Giang.
Sau khi ra trường tôi được chọn Vùng Chiến Thuật để về làm việc v́ tôi thi đậu thủ khoa, cho nên tôi đă xin về làm việc tại Hóc Môn, Thành Ông Năm, gần Sài g̣n, nơi đồn trú của Liên Đoàn 1 Công Binh Chiến Đấu do Thiếu Tá Nguyễn văn Quư làm Liên Đoàn Trưởng.
Tŕnh diện Liên Đoàn xong tôi được thuyên chuyển về Tiểu Đoàn 1 Công Binh Kiến Tạo, sau này cải danh là Tiểu Đoàn 53 Công Binh Kiến Tạo, do cố Đại Tá Lê Văn Nghĩa làm Tiểu Đoàn Trưởng vào lúc bấy giờ.
Sau đó tôi được đưa về Đại Đội 3 của Đại Uư Nguyễn Đ́nh Cận và Đại Đội hiện tạm thời đóng quân gần cầu tầu Quận Châu Phú (Tỉnh Châu Đốc cũ) thuộc Tỉnh An Giang.
Đại Đội của Đại Uư Cận đang đảm nhận công tác xây đồn dọc theo Kinh Vĩnh Tế thuộc Quận Châu Phú và một số đồn dọc theo Biên giới Việt Miên tại Quận An Phú cũng thuộc Tỉnh An Giang.
Xuống đến Quận Châu phú, tôi được chỉ định làm Trung Đội Trưởng Trung Đội 2 Công Binh và thế là đầu tháng 7-1957 tôi đă khăn gói lên đường qua Kinh Vĩnh Tế để đến Xă Vĩnh Ngươn nhận Trung Đội của tôi.
Xă Vĩnh Ngươn nằm ngay trên ngă ba của Kinh Vĩnh Tế và Sông Châu Đốc, trên đường đến biên giói Việt Miên bằng đường thuỷ, và chỉ cách chỗ đóng quân của Đại Úy Nguyễn Đ́nh Cận không đầy một cây số.
Sự liên hệ giữa các Vong Hồn
Trong việc xây dựng Đất Nước Việt Nam.
Đang ở giáp ranh Bến Hải, nay xuống vùng giáp ranh biên giới với nước bạn Cao Miên, tôi thấy lần chuyển dịch này của tôi cũng lên đến hơn một ngàn năm trăm cây số.
Trung Đội của tôi do anh Thượng sĩ nhất Vấn đang làm Trung Đội Trưởng, nhưng v́ sự cải tổ Quân Đội vào những lúc này, cho nên các Thượng sĩ chỉ c̣n được giữ chức vụ Trung Đội phó mà thôi.
Sau khi nhận bàn giao đơn vị xong, tôi thấy nơi đóng quân của tôi là một ngôi đ́nh bỏ hoang của Xă Vĩnh Ngươn. Đền thờ “Thần Hoàng Làng” được dọn sạch để quân nhân các cấp có gia đ́nh cũng như c̣n độc thân, cùng chung sống dưới một mái đ́nh, “trống thiên trống địa” trông không ra làm sao cả.
Anh Thượng sĩ nhất Vấn, lúc này là Trung Đội Phó của tôi, đă thu xếp cho tôi một chỗ ngủ ở phía trước bệ thờ, bên trái là chỗ ngủ của mấy chú lính độc thân, c̣n bên phải là chỗ của mấy quân nhân có gia đ́nh, có mang theo vợ và con nhỏ, cho nên đến đêm tối th́ đ́nh xă Vĩnh Ngươn có một âm thanh hỗn loạn như ở những trại tạm cư, khi chúng tôi trở về lại Hànội vào năm 1948 vậy.
Sáng ngày hôm sau, v́ t́nh h́nh lúc bấy giờ không có ǵ là nguy hiểm, nên tôi bèn ra nhà dân để thuê một gian nhà để ở trọ, đồng thời cũng nhờ ông bà chủ nhà nấu cơm nước cho tôi luôn cho nó tiện.
Tôi đă được anh chủ nhà tên là Út Trọn, làm nghề y tá, cho ở trong nhà của anh ta và nấu cơm cho tôi hàng ngày, cho đến khi tôi hoàn tất công việc xây đồn tôi mới chia tay với anh Út Trọn.
Yên ổn chỗ ăn và chỗ ở xong tôi mới bắt tay vào việc đi thăm địa điểm xây cất đồn, nơi mà công tác đă khởi công từ bốn tháng qua, trong khi vật liệu xây cất đă được chở đến đầy đủ, nhưng công việc th́ hầu như chưa đuơc hoàn tất phần làm đất và làm móng cho công tác xây tường đồn.
Ra đến địa điểm xây cất, tôi thấy nơi đây là một cái g̣ đất nổi lên ở giữa cánh đồng lúa bát ngát, g̣ đất chỉ cao hơn mặt ruộng chưa tới một thước, diện tích của g̣ đất th́ không quá 2000 mét vuông.
Phía xa xa ta có thể thấy đựoc nhũng ngôi nhà của người Miên, cách chỗ xây đồn chừng hơn một cây số, đó là những làng của người Miên được thành lập dọc theo biên giới Việt Miên từ xa xưa, và lẫn trong những ngôi nhà này, cũng có một đồn lính có treo cờ của Vương Quốc Cao Miên.
Xe ủi đất được đem tới đây và cũng đă ủi được một ít đất ruộng lên g̣ đất, để đắp nền đồn cho cao thêm lên hầu tránh cho đồn không bị ch́m trong nước, hàng năm vào mùa nước nổi là mùa lụt của Châu Phú, khi nước sông Châu Đốc dâng lên theo mực nước của sông Cửu Long.
Một số móng của tường đồn cũng đă được đào xong, nhưng cừ tràm được dùng để tăng cường sức chịu nén cho nền móng của tường đồn, th́ không thể nào đóng sâu được vào trong nền của móng và anh Thượng sĩ nhất Vấn cũng không hiểu tại sao.
Việc đóng cừ được thực hiện bằng máy ép hơi có áp xuất là 210 psi (14,78 kgs/cm2) với cái vồ (cái đầm) bằng thép, cán vồ cũng bằng thép h́nh lục giác có đường kính chừng 5cm (2”) c̣n đường kính của cừ tràm khoảng 8cm ở phần gốc.
Khi coi tổng quát xong, tôi cho đóng thử mấy cây cừ tràm chỉ dài có hơn hai thước xem sao, khi đóng cừ xuống được chừng 30 phân tây, th́ làm như có cái ǵ cản lại không cho cừ đóng xuống sâu hơn nửa.
Tôi bèn cho tăng sức ép của máy để tiếp tục đóng, tôi thấy cây cừ run rẩy nhưng không gẫy và cũng “nhất định” không xuống sâu thêm một tấc nào. Thế rồi trong tiếng “gầm gừ” của máy ép hơi, cán vồ bằng thép đă bị bẻ “găy làm đôi”.
Tôi cho ngưng đóng rồi thay cán vồ khác để lại tiếp tục công việc, nhưng thưa quư bạn: “cán vồ mới thay lại bị bẻ gẫy làm ba khúc”.
Cán vồ chỉ dài có hơn 30 phân mà bị bẻ gẫy làm ba đoạn trong lúc cây cừ tràm lại không bị sứt mẻ chút nào thật là điều quá lạ.
Báo cáo với ông Đại Đội Trưởng Nguyễn Đ́nh Cận để tŕnh về Tiểu Đoàn ở Hóc Môn xin tiếp liệu thay thế; trong khi chờ đợi, tôi cho người mang hai cái cán vồ bị găy ra Quận Châu Phú để hàn lại rồi đem về tiếp tục công việc.
Sau khi hàn xong, buổi chiều hôm đó, tôi cho khởi sự việc đóng cừ tiếp th́ lần này: cừ không xuống, cán vồ không găy nhưng cái vồ (cái đầm) có kích thước với đường kính là 20cm, bề dầy của cái vồ từ ngoài b́a vào đến giữa từ 2,5cm đến 5cm đă bị bể làm năm mảnh thế là hết làm việc.
Trong lúc thu xếp dụng cụ để rút quân về đ́nh làng Vĩnh Ngươn, tôi đi một ṿng chung quanh khu đất làm đồn, tôi thấy “mấy lóng xương chân, xương tay” bị xe ủi đất cầy lên và đă bị cán bể nát ra thành từng mảnh. Giật ḿnh tôi vội gọi anh Vấn và hỏi:
- Cái này là cái ǵ đây anh Vấn?
- Dạ thưa Trung Uư, “xương người chết”
- Ở đâu ra mà nhiều thế này? Bộ xe ủi đất của ḿnh đào lên để đắp nền đồn có phải không?
- Dạ đúng Trung Uư. Hôm trước c̣n đào được mấy sọ người, lớn có, bé cũng có.
- Thế mấy cái sọ người anh để ở đâu rồi?
- Dạ lấp đất luôn v́ có mấy thằng lính mất dạy của Trung Đội lấy sọ người đứng tiểu vào đó cho nên tôi cho chôn lại rồi.
- Thật bậy quá, sao anh không cho tôi biết khi tôi vừa mới tới nhận việc?
- Dạ tôi thấy Trung Uư c̣n trẻ, sợ rằng Trung Uư không tin nên không dám nói ra.
- Thế mấy người có tin là người ta có “linh hồn” hay không?
- Dạ tôi tin người ta khi chết đi th́ linh hồn vẫn c̣n tồn tại mà Trung Uư.
- Thế phản ứng của anh và của trung đội ra sao khi xe ủi đất ngày nào cũng cầy lên những “hài cốt của người quá cố”?
- Dạ thưa Trung Uư, mấy cậu không tin và muốn phá ảnh hưởng “ma quái” tụi nó có ư định dùng đồ ô uế vứt tùm lum trên mặt đất để làm khu vực này không c̣n trong sạch nữa th́ các Linh Hồn sẽ “đi chơi” chỗ khác.
- Kết quả ra sao anh kể cho tôi nghe đi.
- Da, thế rồi mấy cậu lính của trung đội đều bị quẳng xuống ruộng nước hết, sợ quá cho nên từ đó cho đến này không một đứa nào c̣n dám nghĩ đến chuyện phá phách những linh hồn của người đă khuất.
- Thôi được rồi anh cho rút quân và nghỉ làm việc ba ngày để tôi t́m biện pháp đối phó và sẽ có quyết định sau.
Khi về đến nhà của anh Út Trọn tôi hỏi anh chủ nhà về t́nh h́nh trong mùa nước nổi, những thi hài của người chết được chôn cất ở đâu và như thế nào, nghe tôi hỏi, anh Út Trọn mới kể cho tôi biết như sau:
- Hằng năm cứ vào mùa nước lụt, cánh đồng lúa nước ngập mênh mông v́ nước sông Châu Đốc tràn vào đồng, và chỉ c̣n có mỗi một cái g̣ đất hiện được chọn làm nơi xây cất đồn, là không ngập nước mà thôi.
Những người già cả, hay trẻ thơ trong Xă kể cả dân chúng chung quanh vùng này, nếu có ai bị chết đều được đưa lén về đây để chôn cất.
Dân làng đều biết việc này nhưng không một ai dám ngăn cản, và cứ thế hết năm này sang năm khác, người chết cứ chôn đè lên nhau cho đến lúc này th́ chính tôi cũng không biết đă có bao nhiêu người được chôn cất tại đây.
G̣ đất này nằm phía sau nhà anh Út Trọn chừng 400 thước. Sau khi kể cho tôi nghe đến đây, tôi cũng nói cho anh Út Trọn biết về vụ gẫy cán đầm và bể mặt đầm vừa mới xẩy ra trong ngày hôm nay, nghe xong anh Út Trọn mới hỏi tôi:
- Bây giờ Trung Uư tính sao?
- Gần đây có ngôi chùa nào không anh Út?
- Dạ gần nhà ḿnh chừng vài trăm thước về hướng biên giới, có một ngôi chùa của người Miên, tất cả sư, săi đều là người Miên nhưng họ nói được tiếng Việt, mà Trung Uư tính chi vậy?
- Sáng mai, anh Út dẫn tôi lên chùa để gặp nhà sư trụ tŕ của ngôi chùa này nhé.
Thế là sáng ngày hôm sau, tôi và anh Út Trọn lên chùa và đươc vị sư trụ tŕ của ngôi chùa Việt Miên độc nhất của xă Vĩnh Ngươn tiếp chuyện.
Sau khi thăm hỏi xă giao xong tôi mới vào thẳng vấn đề với nhà sư để xin được giúp đỡ, tôi tŕnh bày tất cả những sự việc xẩy ra trước khi tôi đên đây, và những việc mới xẩy ra vào ngày hôm trước, đồng thời tôi xin nhà Chùa dọn cho tôi một bàn thờ để ‘Rước Vong' (những linh hồn người chết) về chùa Ăn mày Phật, sớm tối nghe tiếng kinh tiếng kệ để những linh hồn này được siêu thoát.
Để trả ơn nhà chùa, tôi hứa sau khi xây xong đồn những vật liệu c̣n dư tôi sẽ cúng chùa, và cho lính Công Binh sửa chữa lại ngôi chùa cho khang trang hơn.
Chấp nhận lời yêu cầu của tôi, nhà Sư đă đồng ư ngày hôm sau sẽ cho làm lễ rước vong về chùa vào đúng giờ Ngọ (12 giờ trưa), việc tổ chức lễ rước vong sẽ được nhà chùa lo liệu tất cả.
Trở về đơn vị, đúng giờ ngọ của ngày hôm đó tôi đă ra g̣ đất một ḿnh, đứng giữa g̣ đất tôi bắt đầu nói:
- Tôi là Trung Uư Ngô Duy Lâm, Trung Đội Trưởng Trung Đội 2, Đại Đội 3, Tiểu Đoàn 1 Công Binh Kiến Tạo, tôi đựoc lệnh xuống đây để xây cất một đồn lính để bảo vệ nhân dân địa phương chống lại sự quấy phá của người Miên.
Vị trí xây đồn được chỉ định là g̣ đất này, nhưng tôi được biết nơi đây là nơi an nghỉ của những Linh Hồn già cũng như trẻ từ bao nhiêu năm qua, tôi rất tiếc là v́ việc nước không thể không làm được, vậy tôi có mấy đề nghị với những linh hồn đang yên nghỉ tại đây như sau:
· Đúng giờ Ngọ ngày mai, chúng tôi sẽ làm lễ rước vong về chùa tại Xă Vĩnh Ngươn để các linh hồn, không phân biệt tôn giáo, được ăn mày Phật. Sớm tối nghe kinh kệ để được siêu thoát và đầu thai kiếp khác.
· Nếu Linh Hồn nào có những điều ước muốn nào khác với ư định của tôi trong việc đưa linh hồn về chùa, th́ trong đêm nay hăy về báo mộng cho tôi biết, trong quyền hạn cùng như khả năng của tôi, tôi làm được điều ǵ tôi xin hứa sẽ làm theo ước muốn của người báo mộng.
· Nếu đến sáng ngày mai, tôi không được linh hồn nào báo mộng, tôi coi như các vong hồn đă chấp nhận lời yêu cầu của tôi, và nghi lễ về Phật giáo sẽ được xúc tiến vào giờ Ngọ, để “thỉnh các vong hồn” về chùa, “trả đất lại cho chính phủ” để tôi xây đồn bảo vệ đất nước. Tôi xin thành thật cám ơn các linh hồn trước.
· Sau buổi lễ ngày mai nếu mọi công tác xây cất không được xúc tiến như ấn định, tôi cũng xin lỗi quư vong hồn tôi sẽ xoá bài làm lại. Tôi sẽ sử dụng một khối lượng thuốc nổ để san thành b́nh địa khu vực này, và các linh hồn sẽ không c̣n nơi tá túc.
Đó không phải là ước muốn của tôi, xin quư vong hồn thông cảm. Đây là việc nước chứ không phải là việc nhà, vậy xin quư vong hồn hăy chấp nhận lời yêu cầu của tôi để về chùa “ăn mày Phật”. Tôi xin đa tạ.
Sau khi tuyên bố với những người khuất mặt xong, trở về lại nơi đóng quân, tôi nhờ vợ của Trung Sĩ An và vợ Trung sĩ Tô Hồng Lạc hai anh đang là Tiểu Đội Trưởng của tôi, v́ hai chị theo đạo Phật để sáng hôm sau mua nhang đèn, vàng mă, tiền giấy và hoa quả để rồi tôi cho lập bàn thờ tại nơi xây đồn vào ngày cúng vong.
Tôi cũng yêu cầu anh Út Trọn cho tôi được ăn cơm chay ngày hôm đó, để chờ đến đêm xem có linh hồn nào báo mộng chăng.
Tôi cũng đă thắp nhang cúng Phật và Đức Thổ Thần của gia đ́nh anh Út Trọn xin cho phép các vong hồn được nhập cư để báo mộng cho tôi, sau đó tôi cho người liên lạc lên chùa, để xin tổ chức đưa vong về chùa vào ngày giờ đă được ấn định trước.
Mọi việc diễn biến đúng như tôi đă tính, tôi không được vong hồn nào báo mộng, nên Lễ Rước Vong được nhà Chùa tổ chức rất trọng thể vào ngày hôm sau, và được bà con nhân dân Xă Vĩnh Ngươn tham dự rất đông đảo.
Nhà chùa đă tụng kinh cầu siêu cho các vong hồn trong suốt ba ngày đêm, với sự tham dự của một số gia đ́nh có người thân được chôn trên g̣ đất làm đồn.
Vàng mă và tiền giấy (tiền Âm Phủ) được chúng tôi đốt khi “tiễn vong ra khỏi nơi cư trú của họ”, việc làm này đă đem đến cho chúng tôi, những người lính Công Binh xây đồn, một sự thoải mái trong tinh thần, v́ đă làm được một việc mà chúng tôi cứ nghĩ rằng khó mà làm nổi.
Trưa ngày hôm sau đúng giờ Ngọ, tôi dẫn quân và đem cơ giới công binh đến g̣ đất để chuẩn bị làm việc, trước khi tái khởi công công tác, tôi cũng thắp mấy nén nhang, và nói mấy lời cám ơn những người đă khuất rồi mới cho tiếp tục công tác đắp nền, đào móng, đóng cừ.
Trong lúc làm, nếu thấy nhũng hài cốt nổi lên th́ đều được đặt vào một thùng gỗ để rồi đem lên chùa hoả thiêu, công tác đă được Trung Đội của tôi tiến hành một cách nhanh chóng và đặc biệt là không có một trục trặc nhỏ nào xẩy ra.
Gần bốn tháng sau th́ việc xây cất hoàn tất, như đă hứa, tôi cho thuộc cấp đem hết vật liêu dư thừa lên tu bổ chùa trong một tuần lễ rồi mới từ giă nhà Chùa, từ giă người sống cũng như người chết, để di chuyển Trung Đội đến nhận công tác xây một đồn khác, tại Xă Bắc Đay Quân An Phú, bên bờ sông Châu Đốc trên đường sang Miên.
Vào năm 1981 khi c̣n đang ở tù tại Trại tù Vĩnh Quang, thuộc Tỉnh Vĩnh Phú, Tam Đảo th́ con trai anh Út Trọn, cấp bậc Đại Uư cũng đang ở tù như tôi, đă t́m lại gặp tôi khi anh ta thấy tôi đang đi lang thang trong sân trại có gần một ngàn người.
Ngày tôi ở Vĩnh Ngươn anh ta mới chỉ được chừng 8 hay 9 tuổi. Đó là năm 1957, 24 năm sau, 1981 anh c̣n nhớ đến tôi, để rồi cho tôi biết t́nh h́nh ở Vĩnh Ngươn như sau:
- Đồn vẫn c̣n đó và bà con Vĩnh Ngươn lúc nào cũng nhớ đến người lính Công Binh đến xây đồn hồi năm nào, và hy vọng sẽ có một ngày tôi trở về thăm nơi tôi đă để lại bao nhiêu kỷ niệm cho người dân quê của Xă Vĩnh Ngươn.
Tôi tuy lúc đó c̣n độc thân nhưng cũng đứng ra cưới vợ cho chú lính của tôi tên là Cương, vợ Cương là cháu gọi Út Trọn bằng Cậu ruột, đến năm 1975 Cương giải ngũ và có 10 người con và hai vợ chồng sống rất hạnh phúc tại Quân Châu Phú.
Viết đến đây tôi c̣n thấy nao nao trong ḷng, v́ những kỷ niệm đầu tiên của đời lính và tôi tự hỏi: “biết đến bao giờ tôi mới trở lại quê tôi để về thăm Xă Vĩnh Ngươn”?
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
HoaCai01 Hội viên


Đă tham gia: 03 April 2008
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 3743
|
| Msg 1146 of 2534: Đă gửi: 07 December 2008 lúc 9:33am | Đă lưu IP
|
|
|
Thật là cảm động !
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1147 of 2534: Đă gửi: 07 December 2008 lúc 7:25pm | Đă lưu IP
|
|
|
Cám ơn hai bác KimTonCang và bác Hoa Cai01 góp ư kiến. Kính
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1148 of 2534: Đă gửi: 10 December 2008 lúc 11:23am | Đă lưu IP
|
|
|
THẾ GIỚI TÂM LINH
(KỲ BỐN)
Sau khi chấm dứt công tác xây hai đồn, một tại xă Vĩnh Ngươn quận Châu Phú và một đồn tại xă Bắc Đay quận An Phú cũng thuộc tỉnh An Giang, tôi trở về Sàig̣n rồi sau đó du học Hoa Kỳ vào năm 1959.
Sau khi hoàn tất khóa học vào tháng 9 năm 1959 tôi trở về Việt Nam và được trở về nhiệm sở cũ là Tiểu Đoàn 1 Công Binh Kiến Tạo tại Hóc Môn gần Sàig̣n.
Tôi đă làm việc tại đây cho đến đầu năm 1961 tôi mới rời Liên Đoàn 1 Công Binh Chiến Đấu tại Hóc Môn, v́ được thuyên chuyển lên Kontum, thuộc Liên Đoàn 4 Công Binh Chiến Đấu, nơi đồn trú của Liên Đoàn là Kôn Trang Kla, c̣n gọi là Ngô Trang, cách Thị Trấn Kontum 13 cây số về hướng Tân Cảnh.
Nhưng đến cuối năm 1961 Liên Đoàn 4 Công Binh Chiến Đấu, đă rời về đóng quân tại Quận Lệ Trung thuộc Tỉnh Pleiku trên Quốc Lộ số 19 gần đèo Mang Yang.
Sau ngày tôi được cử đi học Khoá 1 sĩ quan Tâm Lư Chiến tại Sàig̣n. Sau khi tốt nghiệp khóa 1 Chiến Tranh Chính Trị, tôi trở về lại Liên Đoàn 20 Công Binh Chiến Đấu và được đề cử giữ chức vụ Trưởng pḥng Tâm Lư chiến pḥng 5 của Liên Đoàn tại Suối Đôi thuộc Quân Lệ Trung, trên Quốc Lộ 19 từ Pleiku đi về Quy Nhơn.
Tôi đă đưa vợ và đứa con trai đầu ḷng về Suối Đôi sống bên nhau và rồi th́ tại đây gia đ́nh chúng tôi đă gặp một chuyện không vui đó là:
Tṛ chơi giấu quần áo, giữa người sống và người chết tại Suối Đôi.
Suối Đôi là một căn trại của một Công Ty làm đường Hoa Kỳ c̣n được gọi là RMK. Khi họ rút đi sau khi đă hoàn thành đoạn đường Pleiku, Đèo Mang Yang, Thị Xă An Khê và Quy Nhơn.
Liên Đoàn 20 Công Binh Chiến Đấu của Cố Đại Tá Nguyễn văn Bạch, ông c̣n được gọi là Bạch Râu v́ ông để “râu mép” điều này rất đặc biệt đối với Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa lúc bấy giờ, và ông Bạch mặc dù lên đến cấp bậc Thiếu Tá nhưng vẫn c̣n sống độc thân.
Liên Đoàn được Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn hai, Vùng hai Chiến Thuật điều động về trấn đóng ở Suối Đôi, để tiện cho mọi hoạt động của Liên Đoàn, khi công tác phải bao trùm hết lănh thổ của Vùng hai Chiến Thuật.
Sau khi tŕnh diện ông Bạch xong, gia đ́nh tôi được đưa về khu cư xá sĩ quan có gia đ́nh, và chúng tôi đă cư ngụ trong một căn nhà với kích thước 4x4 mét, nhưng được làm thêm một mái phụ để làm bếp và nhà tắm.
Tôi được ở căn nhà đầu tiên sát với pḥng ăn của Liên Đoàn. Căn nhà kế tiếp là nhà của Thiếu Úy Lê Bá Thu, riêng anh chị Nguyễn Thu Hồ Virginia, và anh chị Lê Thanh Tùng San José, th́ ở hai căn nhà không phải là nhà sàn như Thu và tôi và rộng răi hơn nhiều.
Mới có đứa con đầu ḷng lại c̣n quá trẻ, nên trước khi đem con lên Pleiku để ở với tôi, nhà tôi cũng đă may năm bộ đồ lụa với năm màu sắc khác nhau để thay đổi hàng ngày. Một hôm sau bữa cơm chiều, mẹ con tắm xong, th́ nhà tôi thay bộ đồ để chờ sáng ngày hôm sau sẽ giặt luôn với đồ của tôi.
Nhưng đến sáng hôm sau th́ bộ quần áo lụa của vợ tôi đă “không có cánh” mà bay mất tiêu rồi. Chái nhà làm bếp và pḥng tắm cùng hầm trú ẩn, có khoét một lỗ trên vách tôn của chái nhà, để cho xe nước của Đại Đội chỉ huy và công vụ thuộc Liên Đoàn hàng ngày tiếp tế nước cho mọi gia đ́nh.
Cái lỗ tiếp nước chỉ có đường kính chừng mười phân vậy th́ ai đă lấy mất bộ đồ ngủ của nhà tôi? cũng cần nói thêm ở đây là gia đ́nh vợ tôi theo đạo Công Giáo, c̣n tôi th́ “theo Đạo vợ”.
Thế rồi tôi cũng chẳng quan tâm đến việc mất bộ đồ này, nhưng đến ngày hôm sau bộ đồ thứ hai cũng lại bị lấy mất đi như bộ đồ ngày hôm trước, tức quá tôi lục khắp nhà để coi xem nhà tôi có để lẫn vào đâu hay không, sau một hồi t́m kiếm nhưng không thấy nên tôi đành an ủi nhà tôi:
- Chắc có ai lấy chứ nhà này đâu có ma mà có thể giấu đồ, thôi để đấy rồi mai sẽ tính sau.
Sang đến ngày thứ ba, vợ tôi sau khi thay xong bộ đồ th́ không đem xuống để ở dưới pḥng tắm như hai lần trước, mà lại giấu trong giường ngủ của con trai chúng tôi, rồi buông màn cho cháu ngủ, sau đó vợ chồng tôi đă sang nhà mấy người bạn chơi cho đến khi trời chạng vạng tối mới trở về.
Khi vén màn coi thấy con chưa thức giấc, nhưng khi nh́n đến bộ đồ giấu ở dưới chân thằng bé, th́ nó cũng lại “không cánh mà bay” mất tiêu rồi, trong lúc “cậu cả” của tôi vẫn c̣n ngủ một cách say sưa.
Khi hay được tin vợ tôi mất thêm bộ đồ thứ ba, ông Liên Đoàn Trưởng của tôi đă “nổi cơn lôi đ́nh” thật sự, v́ ông nghĩ là “một người nào đó” của gia đ́nh binh sĩ trong trại gia binh đă lấy cắp mấy bộ đồ của nhà tôi.
Thiếu Tá Bạch đă chỉ thị Trung Uư Trần văn Đoàn, Đại Đội Trưởng Đại Đội Chỉ Huy và Công Vụ của Liên Đoàn cùng với sĩ quan An Ninh và các sĩ quan tham mưu của Liên Đoàn, xuống “tổng kiểm soát tư trang” của các gia đ́nh Hạ sĩ quan và binh sĩ đang cư ngụ trong trại gia binh của Liên Đoàn, để t́m lại những bộ đồ đă mất.
Các anh Trần Xuân Dục San José. Cố Trung Tá Trần Quốc Quy, anh Trung Uư Chánh, Thiếu Uư Triết, Thiếu Uư Hạnh đều có tham gia vào việc kiểm kê tư trang của các gia đ́nh Hạ Sĩ Quan và Binh Sĩ thuộc Đại Đội Chỉ Huy và Công Vụ của Liên Đoàn.
Sau gần một ngày làm việc nhưng không có kết quả, mọi người đành ra về để tường tŕnh lên ông Liên Đoàn Trưởng, với nhiều nghi vấn không thể nào hiểu nổi trong việc mất mấy bộ đồ.
"Viết tới đây tôi xin thưa với quư anh chị em trong trại Gia Binh, thuộc Đại Đội Chỉ Huy và Công Vụ, Liên Đoàn 20 CBCĐ đồn trú tại Suối Đôi năm 1962, là những người bị quấy nhiễu trong lúc t́m lại những bộ đồ đă mất, xin quư anh chị thông cảm và thứ lỗi cho tôi v́ cuộc lục soát này ngoài ư muốn của tất cả mọi người".
Sau khi không t́m thấy ǵ, lúc bấy giờ tôi mới được nghe một tin động trời về căn nhà vợ chồng tôi đang ở. Căn nhà này đă được sử dụng làm Bệnh Xá của Liên Đoàn, trong lúc mới di chuyển từ Ngô Trang cách Thị Xă Kontum 13 cây số về hướng bắc, hướng Tân Cảnh, để về Suối Đôi khi tôi đang theo học Khoá Tâm lư Chiến tại Sàig̣n.
Bệnh xá đă đón nhận một chú lính bị chết v́ bệnh từ công trường, chở về để chờ mai táng tại Suối Đôi. Trong lúc tiễn đưa áo quan ra khỏi Bệnh Xá, mọi người đă quên không làm “thủ tục đưa linh hồn theo xác chết” ra nghĩa địa, nên “linh hồn người chết vẫn c̣n quanh quất trong nhà” và gia đ́nh của tôi đă “chiếm ngụ” căn nhà này mà không có lời yêu cầu đối với người chết.
Khi biết được đến đây th́ đúng giờ Ngọ của ngày hôm đó, tôi đă nói với Vong Hồn người quá cố:
- Anh là Trung Uư, c̣n “chú mày” là lính của Liên Đoàn, “đùa” như vậy là đủ rồi, xin chú mày “trả” lại quần áo cho chị nhé”.
Đến buổi chiều, bộ quần áo thứ tư được thay xong để chờ giặt, th́ sáng ngày hôm sau “nó cũng lại biến mất” nhưng hai bộ đồ đă mất, bộ thứ nhất và thứ nh́ “được trả lại” trên dây phơi đồ ở trong nhà tắm.
Nhà tôi cầm lấy hai bộ đồ chưa giặt rồi nói:
- “Nó” trả lại hai bộ đồ đầu tiên, nhưng c̣n giữ lại hai bộ kế tiếp em sợ quá.
- Th́ đem giặt sạch rồi mặc không có sao đâu, đừng có sợ.
Nhà tôi đem giặt sạch rồi buổi chiều hôm đó lại thay bộ đồ khác, và để trong đống đồ dơ chờ giặt th́ ngày hôm sau, bộ đồ số năm cũng lại “biến” luôn, nhưng “được” trả lại bộ đồ số ba. Rồi cứ như thế lúc nào “nó” cũng giữ lại hai bộ đồ dơ không biết để làm ǵ?
Ông Bố vợ của tôi là Sĩ quan Pháo Binh của Quân Đoàn hai, khi biết được tin này đă hối thúc bà mẹ vợ tôi vào Suối Đôi, để đón vợ con tôi rồi đưa về Sàig̣n, v́ theo bố mẹ vợ tôi nói:
- Người sống không thể ở chung với người chết được.
Nhà tôi ẵm con về Sàig̣n được mấy hôm th́ Thiếu Tá Nguyễn văn Bạch, c̣n được chúng tôi gọi là Anh Cả, về Sàig̣n công tác, ở Liên Đoàn lúc này chỉ c̣n ông Liên Đoàn Phó là Đại Uư Nguyễn Như Quảng, c̣n được gọi là Anh Trưởng.
Đúng lúc tôi đang đánh xi đôi giầy trận th́ Anh Trưởng, Đại Uư Nguyễn Như Quảng, xuất hiện tại chân cầu thang của nhà tôi anh nói:
- Thằng Năm cậu ở nhà “thủ trại” anh đi xuống An Khê thăm Lê Viết Tri...
Thường khi Anh Cả và Anh Trưởng đi vắng lẽ ra anh Quy, sĩ quan thâm niên nhất của Liên Đoàn phải giữ chức vụ Xử Lư Thường Vụ Chức vụ Liên Đoàn Trưởng, nhưng anh Quy không bao giờ nhận nhiệm vụ này, do đó chuyển đến tôi v́ theo các anh th́ “tôi nhanh nhẹn và tháo vát” đến nỗi anh Dục thường nói:
- Anh Năm lẹ c̣n hơn tép.
Khi Anh Quảng đến nhà tôi, tôi quăng bàn chải và hôp xi đánh giầy trên sàn nhà, để đứng dậy nói chuyện với Anh Quảng, lúc quay vào tôi thấy chỉ c̣n đôi giầy mà thôi c̣n hộp xi và cái bàn chải “đă biến mất tiêu đâu rồi”.
Tôi hét toáng lên. Nghe thế anh Quảng quay lại hỏi:
- Cái ǵ mà thằng Năm la um sùm vậy?
- Dạ anh coi, mới đánh đôi giầy chưa xong th́ anh đến. Ra nói chuyện với anh xong quay vào th́ hộp xi và cái bàn chải giầy đă bị nó giấu mất rồi thế này th́ c̣n ǵ là “thể thống của Quân Đội nữa”?
- Ôi trời! cậu kiếm lại coi.
Và sau một hồi lục lạo đồ của tôi và của anh Quảng, chúng tôi cũng không thể nào kiếm ra hộp xi và bàn chải giầy được. Sau khi đi ăn cơm trưa ở trên Câu Lạc Bộ sĩ quan xong, tôi trở về nhà th́ nó đă nằm lù lù giữa nhà.
Hai bộ đồ bị giấu trước ngày vợ tôi về Sàig̣n, đă không được trả lại cho vợ tôi, tất cả mọi người đều không hiểu tại sao, và cho đến lúc ngồi viết những trang hồi kư này th́ cũng đă "bốn mươi hai" năm qua đi.
Tôi viết ra đây câu truyện này để quư bạn đọc thấy được rằng: người chết nhưng linh hồn không chết và vẫn c̣n có thể theo ta để chọc phá.
Ngô Duy Lâm
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1149 of 2534: Đă gửi: 10 December 2008 lúc 11:57am | Đă lưu IP
|
|
|
QUY HỒI CỐ THỔ
Tôi có ông anh ruột tên là Ngô Hán Đồng, anh tôi sinh năm Canh Ngọ tháng 12 năm 1930 tại Hànội. Giữa anh tôi và tôi lúc nào cũng như có một khoảng cách không gian làm chia rẽ t́nh anh em ruột thịt của chúng tôi, đó cũng là lư do anh tôi và tôi cứ vài năm mới được gặp nhau một lần.
Lúc tôi c̣n nhỏ, khi mà khối óc non nớt của tôi bắt đầu ghi nhận vào bộ nhớ những sự việc xẩy ra trong cuộc sống hàng ngày, tôi chỉ được gặp anh tôi có vài lần cho đến khi tôi vào đời vào năm 1954 v́ anh tôi không sống với Bố Mẹ chúng tôi ở Hànội mà xuống Nam Định, quê Ngoại, để cùng học chung với mấy anh là con của ông anh ruột mẹ tôi.
Thường th́ những lúc gặp nhau đều xẩy ra vào những dịp gia đ́nh của Bố mẹ và anh chị em chúng tôi có những sự kiện cần ghi nhớ như những lúc gia đ́nh có dịp cưới, gả..v.v.. anh tôi mới trở lên Hà Nội ít ngày rồi lại về Nam Định.
C̣n trong chiến tranh giữa Pháp với Việt Minh, anh tôi cũng không về với bố mẹ mà chạy loạn theo gia đ́nh của người chị họ, anh chị Trần Doăn Thường, cho đến khi an toàn mới "dinh tê" về thành phố vào năm 1948.
Sau đó một thời gian, Anh Trần Doăn Thường (Đại Tá, Pasadena, USA) đă cùng với anh tôi nhập học Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức, Khóa 2, năm 1952 rồi ra trường với cấp bậc Thiếu Úy ngành Pháo Binh.
Khi ra đến Hànội, anh tôi được thuyên chuyển về Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh đóng tại Hưng Yên. Khi Hiệp định Geneva ra đời, Tiểu Đ̣an 3 Pháo Binh phải di chuyển vào Nam trên chuyến tầu Abberville trong lúc đó tôi đang học Khóa 5, khóa V́ Dân, tại Liên Trường Vơ Khoa Trừ Bị Thủ Đức cho nên anh em chúng tôi cũng không hề gặp nhau ở trong Nam cho đến năm 1958 và 1959 mới gặp lại khi anh tôi và anh chị Trần Doăn Thường đứng ra cưới vợ cho tôi vào mấy năm này.
Những năm tiếp theo thỉnh thoảng tôi có gặp anh tôi là vào khoảng thời gian anh tôi giữ chức vụ Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Truởng Tỉnh Phú Bổn (Cheo Reo) và Tỉnh Ninh Thuận (Phan Rang) vào mấy năm 1967, 1968, 1969.... c̣n tôi lúc đó trong chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 202 Công Binh Chiến Đấu tại Pleiku.
Lần chót tôi gặp anh là vào giữa năm 1971 tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn khi anh em chúng tôi cùng du học ở Hoa Kỳ, anh tôi học khóa Chỉ Huy và Tham Mưu Cao Cấp tại Fort Leavenworth, Kansas USA, c̣n tôi học khóa Công Binh Cao Cấp tại Engineer School, Fort Belvoir Virginia USA.
Sau khi thăm viếng Thủ Đô Hoa kỳ, anh tôi về Việt Nam và được thuyên chuyển ra Đà Nẵng giữ chức vụ Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Quân Đoàn 1 Vùng 1 Chiến Thuật khoảng tháng 9 hay tháng 10 năm 1971, Trung Tướng Hoàng Xuân Lăm là Tư Lệnh Quân Đoàn lúc bấy giờ.
Đến đầu năm 1972 Chuẩn Tướng Phan Đ́nh Soạn, cựu Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh cũa Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa được thuyên chuyển ra Quân Đoàn 1 Vùng 1 Chiến Thuật để giữ chức vụ Tư Lệnh Phó Quân Đoàn cho Tướng Lăm.
Bộ Chỉ Huy Pháo Binh Quân Đoàn 1 do anh tôi chỉ huy đóng ở Phước Tường, Trại Nguyễn Bỉnh Khiêm nằm trên Quốc Lộ số 1 từ Đà Nẵng đi về hướng Sàig̣n.
Ngày 25/2/1972, tôi đang làm việc ở Trường Công Binh B́nh Dương, tôi nhận được một cú điện thoại của Bộ Chỉ Huy Pháo Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, báo cho tôi biết anh tôi đă tử nạn cùng với Tướng Soạn khi hai ông ra thăm viếng Khu Trục Hạm (Destroyer) thuộc Đệ Thất Hạm Đội đang hoạt động ngoài khơi cửa biển Đà Nẵng.
Vợ chồng tôi vội ôm mấy đứa con về Sàig̣n giao chúng cho ông Bà Ngoại các cháu rồi chúng tôi bay ra Đà Nẵng vào ngày hôm sau.
Tôi được Ông Đại Tá Phan Văn Điển, Chỉ Huy Trưởng Trường Công Binh B́nh Dương cấp cho bảy ngày phép để lo liệu cho anh tôi.
Hồi đó Air Việt Nam có hai loại máy bay đi Đà Nẵng: mấy bay cánh quạt DC6 (Douglas Constellation) và phản lực Boeing 727.
Máy bay DC6 không c̣n chỗ cho ngày hôm sau nhưng Boeing 727 th́ c̣n nhưng giá vé quá cao tuy nhiên vợ chồng tôi không thể tŕ hoăn được cho nên chúng tôi đă ra đến Đà nẵng vào sáng ngày 26-2-1972 và được Bộ Chỉ Huy Pháo Binh Quân Đoàn, Thiếu Tá Lê Văn Sanh, Houston Texas USA, cho xe ra đón và đưa về trại Sĩ Quan Pháo Binh để gặp Chị dâu tôi, hiện định cư tại Na Uy, đồng thời thu xếp mọi việc.
Sau đó tôi sang bên văn pḥng của Bộ Chỉ Huy Pháo Binh và được biết mọi tin tức liên quan đến cái chết của Anh tôi vào ngày hôm trước.
Ngược thời gian, khi anh tôi làm Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Phú Bổn (Cheo Reo), năm đó là năm 1967, sau khi anh tôi chấm dứt nhiệm vụ Tiểu Khu phó Tiểu Khu B́nh Định, anh tôi có quen biết với một Đại Đức đang trụ tŕ tại một ngôi Chùa thuộc Tỉnh Giáo Hội Phật Giáo Phú Bổn.
Không biết do ai giới thiệu, anh tôi được nhà Chùa lấy cho một lá số Tử Vi, trong đó có một câu chú thích có lẽ cũng làm cho anh tôi không được vui lắm, tuy nhiên nó là chuyện tương lai nên chị dâu tôi có nói là anh tôi không quan tâm đến và cũng có thể là đă quên lá số Tử Vi này.
Sau Tết Mậu Thân, qua năm Kỷ Dậu 1969, anh chị tôi có thêm một cậu con trai Út khi về làm Tỉnh Trưởng Phan Rang, cháu hiện định cư tại Nauy cùng với mẹ và mấy anh chị em của cháu, tôi lại cũng không được biết do ai giới thiệu mà anh chị tôi lấy một lá số hay coi bói cho cháu với lời giải đoán khi cháu ra đời th́ sẽ "có nhiều bất lợi" cho anh tôi v́ sự xung khắc giữa Canh Ngọ và Kỷ Dậu.
Chị tôi cũng không nhớ ông Thầy Bói hay ông Thầy Tướng số đă chấm lá số Tử Vi cho người con trai út của anh tôi là ai nữa.
Anh chị tôi đổi ra Đà Nẵng được chừng vài tháng th́ đến Tết năm Nhâm Tư, 1972; có lẽ cũng tin vào Tướng Số Tử Vi hay sao cho nên anh tôi đă nhờ một ông Thầy ở Đà Nẵng coi dùm xem trong mấy ngày Tết, ngày nào th́ "tốt" cho việc chào cờ đầu năm của Bộ Chỉ Huy Pháo Binh Quân Đoàn v́ Anh tôi tuổi Canh Ngọ mà nhằm năm Nhâm Tư (Tư Ngọ Mẹo Dậu: tứ hành xung) e rằng sẽ có nhiều điều không tốt cho anh tôi.
Ông Thầy sau khi bấm quẻ đă cho giờ chào cờ đầu năm là giờ Tuất (8 đến 10 giờ sáng, giờ Việt Nam lúc đó tăng 1 giờ cho phù hợp với múi giờ của Hoa kỳ chênh nhau 12 tiếng); ngày thượng kỳ là ngày mồng ba Tết.
Đúng ngày giờ ấn định, mặc dầu c̣n nghỉ ăn Tết, quân nhân các cấp thuộc Bộ Chỉ Huy Pháo Binh tại Phước Tường đều tề tựu để làm lễ "Chào Cờ Đầu Năm" dưới quyền của Anh tôi, Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Quân Đ̣an.
Khi lá Đại Kỳ kéo lên đến lưng chừng của cây cột cờ cao hơn 12 thước, lúc đó là 9 giờ sáng ngày mồng ba Tết, một ngọn gió, đúng ra là một cơn gió lốc nhỏ đă cuốn tung lá cờ, bụi đất mịt mù, khi ngọn gió qua đi trong mấy giây đồng hồ, lá Đại Kỳ đă không c̣n được đưa lên hay hạ xuống theo nhịp kéo dây của hai anh Hạ Sĩ Quan hầu cờ.
Sau mấy lần vật lộn với việc kéo dây cờ, lá cờ của Đơn Vị nhất định không lên cũng không xuống mà trở thành "cờ tang" (Half mast) trong Đơn Vị v́ dây cờ đă mắc kẹt vào ṛng rọc ở trên ngọn cột cờ khi trời nổi gió.
Các sĩ quan dưới quyền anh tôi đă "chịu trận, chết trân" nh́n anh tôi trong lúc anh đang mồ hôi vă ra như tắm v́ "điềm dữ quá". Đơn Vị phải đưa xe cứu nạn (Wrecker) đến để hạ cây cột cờ, sửa lại dây cờ rồi buổi lễ mới hoàn tất.
Mọi người trong Đơn Vị tuy có bàn tán xôn xao nhưng không ai dám nghĩ đến một tai nạn "thảm khốc" sắp xẩy đến cho đại gia đ́nh Pháo Binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.
Khoảng ngày mồng tám Tết, văn pḥng Tư Lệnh Phó Quân Đoàn, Tướng Soạn nhận được thư của Hạm Trưởng Khu Trục Hạm thuộc Đệ Thất Hạm Đội mời ra thăm viếng Chiến Hạm Destroyer đồng thời quan sát Hải Pháo yểm trợ chiến trường đang diễn ra ở một vài nơi trên dăy núi Trường Sơn.
Đây là một lời mời có tính cách xă giao v́ Trướng Soạn là Cựu Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh của Quân Đội Việt Nam đồng thời Hạm Trưởng Khu Trục Hạm Hoa Kỳ cũng muốn tiếp đón một Tướng Lănh Pháo Binh của Việt Nam trong lúc chiến hạm đang hoạt động ở ngoài khơi Đà Nẵng.
Chuẩn Tướng Phan Đ́nh Soạn và anh tôi, hai người rất thân với nhau v́ cùng là "dân pháo thủ" cho nên ông Soạn đă rủ anh tôi đi theo, một phần cho có bạn c̣n phần kia là v́ anh tôi đang là Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Quân Đoàn, người có hỗn danh là Phù Thủy Pháo Binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa v́ tài "chính xác" khi yểm trợ chiến trường.
Khi nhận được giấy mời Trung Tướng Tư Lệnh Hoàng Xuân Lăm đă đồng ư cho hai ông đi thăm chiến hạm của Đệ Thất Hạm Đội và để có trực thăng đưa Tướng Soạn và anh tôi ra chiến hạm, Trung Tướng Hoàng Xuân Lăm đă cho ông Soạn xử dụng trực thăng của Tư Lệnh mà bay ra khơi.
Phi công trực thăng của Tướng Lăm là một ông Đại Tá thuộc Lục Quân Hoa Kỳ, ông Đại Tá này sắp chấm dứt nhiệm kỳ thứ hai của ông trong vài tuần lễ tới, sẽ lái tàu đưa phái đoàn của ông Soạn ra thăm chiến hạm.
V́ là Phi công trực thăng của Lục Quân, không quen cất cánh và hạ cánh trên sàn tàu trong khi tàu vẫn di chuyển cho nên Hạm Trưởng Khu trục hạm đă cử một sĩ quan Hải quân của chiến hạm tập dượt cho ông Đại Tá Lục quân cách lên xuống sàn tàu mấy lần trước ngày thăm viếng của Tướng Soạn.
Thế rồi ngày 25-2-1972, là ngày 11 Tháng Giêng năm Nhâm Tư, lúc 9 giờ sáng, phái đoàn của Chuẩn Tướng Phan Đ́nh Soạn gồm có:
Phía Hoa Kỳ: Ngoài hai phi công chính và phụ cũng như hai xạ thủ đại liên ở hai bên thân tàu, c̣n có: một sĩ quan Hải Quân Hoa Kỳ và một cố vấn, tôi không nhớ là cố vấn của anh tôi hay của ông Soạn như vậy phía Hoa Kỳ gồm có sáu người.
Bên Việt Nam: Tướng Soạn, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn 1 V1CT; tùy viên của Tướng Soạn là Trung Úy Phương; Anh tôi, Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Quân Đoàn và Thiếu Tá Lê văn Sanh. Tuy nhiên khi ra đến trực thăng, Thiếu Tá Lê văn Sanh đă phải ở lại v́ không c̣n chỗ trên tàu cho nên Thiếu Tá Lê Văn Sanh đă thoát chết trong tai nạn này. Hiện nay Thiếu Tá Lê Văn Sanh đang sinh sống ở Houston Texas, USA.
Sau khi trực thăng rời Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn, mấy phút sau phái đoàn của Tướng Soạn đă đáp an toàn trên sàn chiến hạm, sau đó trực thăng quay vào đất liền trong lúc Tướng Soạn và anh tôi được hướng dẩn thăm tàu cũng như tham dự cuộc Hải Pháo yểm trợ cho mấy Đơn Vị của Việt Nam đang hành quân trong dăy Trường Sơn. Sau bữa ăn trưa, trực thăng cũa Tướng Lăm mới được gọi ra tàu để đưa phái đoàn vào lại đất liền.
Khoảng hai giờ chiều, sau lễ đưa tiễn phái đoàn của Tướng Soạn, mọi người kéo nhau lên tàu và trực thăng cất cánh ngay sau đó.
Khi trực thăng rời sàn tàu với chiều cao chừng hơn hai thước và chuẩn bị chuyển hướng vào đất liền th́ bất chợt một ngọn cuồng phong thổi ngang trên sàn của chiến hạm, ngọn gió đă quật chiếc trực thăng xoay hơn một nửa ṿng tṛn cho nên đuôi trực thăng đă đập vào cột antenna của chiến hạm.
Kết quả là trực thăng gẫy làm đôi, đuôi trực thăng rớt ngay xuống nước c̣n thân trực thăng th́ xoáy nhanh theo với chong chóng rồi rớt xuống sàn chiến hạm trước khi rơi xuống biển với kết quả như sau:
. Ông sĩ quan Hải Quân Hoa Kỳ v́ chưa cột dây an toàn nên văng lên trên sàn tàu, bị thương nặng nhưng được cứu sống.
· Một xạ thủ đại liên v́ cũng chưa cột dây an toàn bị văng ra khỏi trực thăng và cánh quạt trực thăng đă phạt ngang cần cổ của anh ta nên anh chết ngay tức khắc nhưng thi hài th́ vớt được liền trong ngày hôm đó.
· Phi công chính, ông Đại Tá Lục Quân Hoa Kỳ sắp hết nhiệm kỳ, kẹt trong thân tàu, thi hài được t́m thấy sau này. Phi công phụ t́m cách ra được nhưng không hiểu sao một ngày sau mới vớt được thi hài của phi công phụ.
· Anh xạ thủ đại liên thứ hai chết theo tàu, mấy ngày sau cũng mới vớt được xác.
· Chuẩn Tướng Phan Đ́nh Soạn và anh tôi cùng anh sĩ quan tùy viên của ông Soạn đă chết theo tàu nhưng thi hài của anh Trung Úy Phương được trôi dạt vào bờ mấy ngày sau c̣n riêng ba người là ông Soạn, anh tôi và ông Đại Tá Phi công th́ không t́m thấy đâu.
Ngay khi tai nạn xẩy ra, mọi thủ tục cấp cứu và t́m kiếm người mất tích đă được Hải Quân Hoa Kỳ cũng như bên Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng 1 Chiến Thuật cho thi hành. Máy Sonar được đem đến nhưng hai mươi bốn giờ qua đi mà chúng tôi chưa nhận được kết quả.
Sau khi nói chuyện với mấy sĩ quan Pháo Binh về những nguyên nhân dẫn đến cái chết của anh tôi, tôi trở về nhà chị dâu tôi để sắp xếp nhưng giấy tờ cùng chuẩn bị mọi việc phải làm cho gia đ́nh chị tôi trong lúc chờ đợi tin tức t́m lại thi hài những người mất tích.
Trong lúc lục và sắp xếp những giấy tờ quan trọng của anh trong hộc tủ, tôi mới thấy được lá số Tử vi của một Đại Đức trên Phú Bổn chấm số cho anh tôi vào năm 1967.
Cầm lá số trên tay, tôi đọc những ḍng chữ bằng nét mực xanh và thấy chữ viết như "cua ḅ", không ngay hàng thẳng lối đồng thời tôi lại chẳng biết một tư ǵ về Tử Vi nên coi mà cũng như không, nhưng khi nh́n thấy ở giữa trang giấy có một ḍng chữ viết bằng mực đỏ, có gạch đít ḍng chữ này với nguyên văn câu viết tôi vẫn c̣n nhớ cho đến ngày nay:
"Năm 1972, nếu xuất dương th́ thọ tử".
Cầm lá số, tôi hỏi chị tôi:
- Chị, ai đă chấm lá số Tử vi này cho anh Đồng?
- Ông Đại Đức trụ tŕ ngôi Chùa ở Phú Bổn.
- Chị có đọc lá số này hay chưa?
- Có tôi có đọc và biết câu ghi chú trong lá số nhưng cũng cứ nghĩ rằng anh đi "du học" năm 1970 – 1971 là "xuất dương", năm nay mới là năm 1972, anh chú đâu có đi học mà sợ? Ai dè, "xuất dương" là đi ra biển nên anh mới gặp nạn đến nay chưa kiếm được thi hài, nói đến đây chị tôi lại khóc. Tôi hỏi tiếp:
- Hồi đêm hôm qua, nghe cháu Thủy, con gái lớn của anh chị tôi, nói là chị có được anh về "báo mộng", có thật hay không đấy hả chị?
- Vâng chiều hôm qua khi nghe tin anh mất tích th́ đêm đến, cháu Thủy đang ngủ bên cạnh tôi c̣n tôi vẫn c̣n thức, tôi nghe tiếng mở của pḥng, tôi hỏi ai nhưng không có tiếng trả lời, tôi nh́n về phía cửa, tôi thấy anh chú đứng ở đó, quần áo ướt xũng, nước rỏ ṛng ṛng trên nền nhà.
Tôi gọi tên anh, anh đứng yên, nh́n tôi rồi khóc. Tôi thấy con mắt bên trái của anh bị vỡ do một vật ǵ đó đụng vào và c̣n ra máu. Tôi bật khóc và tính chạy về hướng anh th́ anh quay đi và khuất sau cánh cửa. Suốt đêm qua tôi không ngủ được và mong sao cho mau sáng để hy vọng t́m được xác anh.
Vợ tôi nói mấy lời an ủi chị, c̣n tôi, tôi tiếp tục lo thu xếp những hồ sơ giấy tờ của anh tôi và chuẩn bị đưa gia đ́nh chị và các cháu vào Sàig̣n khi t́m được hay không t́m được thi hài của anh v́ thời gian của tôi ở Đà Nẵng chỉ có hạn.
Hai ngày sau tôi được tin Trung Tướng Hoàng Xuân Lăm đă phúc tŕnh lên Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu để xin truy thăng thêm một cấp cho ông Soạn và cho anh tôi một sao. Tôi được biết ông Thiệu đồng ư truy thăng cho ông Soạn thêm một sao, riêng anh tôi th́ nhất định không v́ lư do khi anh tôi làm Tỉnh Trưởng Tỉnh Ninh Thuận đă thiếu tế nhị đối với những người thân thuộc của Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu.
Chuyện truy thăng hay không truy thăng gia đ́nh chúng tôi cũng đă mất anh, nên chị tôi không đặt nặng trong phần "được hay không được" mà chỉ chú tâm vào việc t́m kiếm thi hài của anh để đem về chôn cất cho được "mồ yên mả đẹp".
Tôi nóng ruột hết sức v́ c̣n ba ngày nữa là hết phép, tôi chưa biết tính sao trong lúc thi hài của Trung Úy Phương đă trôi dạt lên bờ biển giữa Đà Nẵng và Hội An vào lúc 10 giờ sáng do đó Tư Lệnh Quân Đoàn chỉ thị Không Đoàn Đà Nẵng cho máy bay quan sát L19 thay phiên bay dọc theo bờ biển từ Đà Nẵng xuống đến Quảng Nam những mong rằng hai ông Soạn và Đồng sẽ nổi lên như anh Trung Úy Phương.
Thật vậy, không uổng công của Không Quân Đà Nẵng khi máy bay quan sát bắt gặp một xác người đang trôi về hướng Hội An vào lúc 11:30 giờ cùng ngày. Trong khi chờ đợi người nhái Việt Nam ở Chu Lai được phái tới, một trực thăng và người nhái Hoa Kỳ đă từ ngoài khơi Đà Nẵng bay vào và t́m cách đưa thi hài mới t́m thấy lên máy bay.
Trực thăng đă "đứng" trên cao cách mặt biển chừng 10 thước để thả người nhái xuống nhưng v́ cánh quạt trực thăng quạt mạnh quá để giữ thăng bằng cho máy bay nên sức ép của gió đă lại nhận ch́m cái xác này.
Sau một thời gian t́m kiếm, trong lúc đó người nhái Việt Nam cũng vừa tới nơi nên xác này đă đem được lên xuồng phao cao su vào khoảng một giờ chiều nhưng người chết lại là thi hài của anh Xạ thủ đại liên, c̣n Ông Soạn, Đại Tá Phi Công Hoa Kỳ và anh tôi th́ vẫn chưa có tin tức.
Buổi chiều hôm đó, tôi được một người bên Bộ Chỉ Huy Pháo Binh mách nước là nên hỏi một ông Thầy nổi tiếng ở Đà Nẵng "xem sao".
Tôi đến nhà ông Thầy lúc 2 giờ chiều, bước chân lên cầu thang tôi thấy Thầy khoảng trên dưới 80 tuổi, rất đẹp lăo với một cḥm râu bạc dưới cằm dài có tới hơn mười phân tây. Thầy đang coi cho một bà, gần đó c̣n có mấy bà đang chờ đến phiên.
Thấy t́nh cảnh như vậy, tôi hơi lưỡng lự v́ nếu thầy coi hết cho mấy bà cũng phải mất vài tiếng đồng hồ nhưng tôi cũng nghĩ "đă lỡ vậy cho lỡ luôn"; bất chợt tôi nghe tiếng ông Thầy:
- Chú em lên đây, chú em cần hỏi Thầy có việc ǵ?
- Dạ kính chào Cụ, cháu có ít việc xin Cụ giúp đỡ nhưng Cụ c̣n mấy bà khách, cháu xin chờ.
- Không sao đâu chú em, cứ nói đi
- Dạ thưa Cụ, thế là tôi kể sơ lược câu chuyện cho ông Thầy nghe. Nghe xong, ông Cụ cầm tờ giấy và cây viết đưa cho tôi rồi nói:
- Chú em viết cho tôi mấy chữ để tôi coi.
Cầm tờ giấy và cây viết, không biết lư do nào thúc đẩy mà tôi viết bốn chữ:
"Quy hồi cố thổ" (tạm dịch là "trở về quê cũ").
viết xong tôi đưa cho ông Thầy coi. Nh́n bốn chữ tôi viết trên trang giấy, ông Thầy nh́n tôi rồi vừa cười vừa nói:
- Chú em về đi, Bạch Hổ (có lẽ ám chỉ máy sonar) đă gầm lên rồi, về nhanh lên, ở nhà đă có tin và bà chị đang chờ Chú em đấy"; mừng quá, tôi tính lấy tiền trả công Ông Cụ nhưng bị chặn lại: Chú em Thầy không lấy tiền công đâu, chú em giữ lấy để c̣n nhiều việc phải tiêu đến; thôi Chú em đi đi.
Về đến nhà, chị tôi cho biết lúc hai giờ chiều, Sonar của Hải Quân Hoa Kỳ đă t́m thấy máy bay ở cách chổ tai nạn chừng mười cây số về phía nam Đà Nẵng. Hiện Trung Tướng Tư Lệnh đă cho Hải Quân Việt Nam và Người Nhái đang lặn t́m xem có thấy mấy anh hay không.
Hồi hộp quá tôi chạy sang bên Bộ Chỉ Huy Pháo Binh Quân Đoàn, găp anh Thiếu Tá Sanh và chúng tôi ngồi chờ tin tức từ ngoài khơi gửi về, tôi nghĩ rằng: Ông Thầy hay thiệt, chỉ nh́n bốn chữ mà biết đă t́m được chiếc trực thăng gặp nạn.
Đến năm giờ chiều, tôi buồn bă từ biệt mấy anh sĩ quan Pháo Binh về nhà để cho chị tôi biết là chỉ t́m được có phần đuôi của trực thăng mà thôi c̣n cái bụng (chúng tôi c̣n gọi nó là cái hột vịt) th́ chưa thấy nó v́ nó đang ở đâu trong Vịnh Đà Nẵng.
Không thể chờ lâu hơn được, hôm sau tôi yêu cầu Pháo Binh Quân Đoàn cho tôi hai xe vận tải của Đơn Vị để dọn nhà chị tôi vào Sàig̣n, sau đó Bà Soạn và Chị tôi quyết định trước ngày vào Nam sẽ làm một lễ cầu siêu và cầu hồn nhập vào cành phan để đem về Sàig̣n thờ cúng anh tôi.
Đến ngày thứ sáu khi anh tôi chết, ngày 17 Tháng Giêng năm Nhâm Tư, hai gia đ́nh đă ra băi biển Nam Ô, có mời mấy vị Đại Đức đến để làm lễ cầu hồn. Trong lúc làm lễ, việc khóc than không thể tránh được th́ tôi gặp một ông Cụ người địa phương chống gậy đến gặp tôi rồi nói:
- Chú em, tôi biết gia đ́nh chú em đang có chuyện buồn, nhưng tôi biết tôi có thể giúp được, vậy chú em nói với mấy bà chị đừng khóc than nhiều quá có hại cho sức khỏe.
- Thưa Cụ, v́ từ ngày gặp nạn cho đến hôm nay cũng đă sáu ngày, gia đ́nh hai chị tôi không hy vọng ǵ t́m lại được thi hài của mấy anh tôi, nay được Cụ giúp cho chúng tôi xin hậu tạ.
- Chú em đừng có lo, tôi đă tính rồi, tôi sẽ chọn ngày tốt rồi đón mấy ông ấy về tôi sẽ cho chú em hay sau.
- Dạ thưa Cụ vâng, chúng tôi cũng hứa sẽ bồi hoàn tất cả mọi chi phí liên quan đến buổi lễ đón các anh tôi về.
Buổi lễ chấm dứt, hai gia đ́nh quay về lại Đà Nẵng để rồi ngày hôm sau vợ chồng tôi đưa gia đ́nh chị tôi về Sàig̣n.
Thực t́nh mà nói, tôi không tin tưởng lắm đến lời hứa của ông Cụ tại Nam Ô v́ tôi cứ nghĩ là máy móc tinh vi của Hải Quân Việt Mỹ c̣n t́m không ra "cái hột vịt" đang ở đâu th́ làm sao mà người dân chài lưới của Nam Ô lại có thể t́m được ông Soạn và anh tôi trong cái mênh mông của Vịnh Đà Nẵng?
Nhưng tôi chợt nhớ khi tôi c̣n làm việc ở Nha Trang, từ năm 1963 đến năm 1967, tôi có quen một ông Trưởng ấp chài lưới ở Xóm Cồn sau Chợ Đầm Nha Trang, khi tôi làm chiếc cầu bằng bê tông cốt sắt thay thế cái cầu khỉ để các em học sinh cũng như dân Xóm Cồn qua lại, tôi có nghe nói về cách thức t́m xác người chết trên biển hay trên sông hồ của người dân chài như sau:
"Những người dân khi đi đánh cá, chẳng may gặp tai nạn như giông băo, ch́m ghe, xác thường bị ch́m theo ghe không có cách ǵ vớt được để đem vào đất liên mà chôn cất; tuy nhiên, cha truyền con nối, họ có một cách t́m lại những thi hài của những bạn chài ngoài biển cho nên rất ít khi bị mất tích hoàn toàn trong ḷng biển.
Phương pháp t́m kiếm những người chết ch́m trên biển hay trên sông hồ đều giống nhau và chỉ diễn ra vào lúc nào mà ông Thầy cúng ở trong Làng sau khi bấm số của người chết và thân nhân của họ để t́m một ngày tốt mới làm lễ đón người quá cố trở về.
Tôi không biết thế nào là ngày tốt, nhưng tựu chung có lẽ là ngày hợp với ngày sinh, tháng đẻ cũng như ngày gặp nạn của người chết, sau đó dân chài bèn làm một cái lễ rước thi hài về đất liền và tùy theo khu vực mà trong đó người mất tích được coi như đă chết ch́m, rộng lớn hay nhỏ hẹp để dân làng cho một số ghe chài loại nhỏ ra khơi, dàn hàng ngang, cách vài trăm thước mới có một ghe, mỗi ghe mang theo một thùng dầu đậu phụng chừng hai mươi lít rồi từ từ đổ dầu xuống biển.
Dầu đậu phụng (peanut oil) đă loang ra và tản mát theo sóng biển, lững lờ trôi vào một nơi "hữu định" trong lúc đó sau khi đổ hết dầu xuống nước, những chiếc ghe câu này cứ tà tà lần theo dấu vết loang của dầu đang trôi ở phía trước; đến một lúc nào đó, tất cả số dầu đậu phụng được đổ xuống nước mấy giờ trước đă tập trung lại một chổ, dù có ngọn sóng đánh chúng văng ra xa th́ sau đó dầu lại gom đến nơi chúng vừa gặp nhau; người chủ lễ sau đó đốt nhang, khấn vái và quăng lưới ngay giữa vũng dầu và thế là thi hài người chết được vớt lên, đem về đất liền để mai táng.
Nghe câu truyện này của ông Trưởng Ấp Xóm Cồn Nha Trang, tôi thấy nó có vẻ "huyền bí" và giống như trong mấy câu truyện "thần thoại" để kể cho mấy cháu bé trước khi chúng ngủ.
Nhưng lần này, khi không t́m lại được anh tôi, tôi đă cầu xin phương cách t́m thi hài anh tôi và ông Soạn của dân chài Nha Trang sẽ ứng dụng và trở thành hiện thực đối với hai gia đ́nh sĩ quan Pháo Binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa".
Thế rồi thời gian cứ chầm chậm trôi qua, tôi được biết Trung Tướng Hoàng Xuân Lăm đă điện cho ông Cậu hay ông Chú của Tổng Thống Thiệu đang ở Phan Rang để xin can thiệp với Tổng Thống xét lại việc truy thăng cho anh tôi; sau đó ông Thiệu có hứa là khi nào t́m được thi hai anh tôi th́ chấp thuận cho một sao.
May quá đây không phải là lời hứa cuội tuy nhiên chúng tôi thấy nó khôi hài ở chỗ có rất ít hy vọng t́m lại được thi hài anh tôi và ông Soạn vào những ngày kế tiếp vậy theo tôi th́ lấy đâu ra xác anh tôi để được truy thăng cho người chết?
Hai mươi sáu ngày đă trôi qua kể từ ngày anh tôi gặp nạn: 25-2-1972 tức là ngày 11 Tháng Giêng Năm Nhâm Tư, mọi chuyện hầu như vô vọng v́ Hải Quân Hoa Kỳ cũng như Hải Quân Việt Nam đă chấm dứt việc t́m kiếm sau gần hai tuần lễ mà không có kết quả. Hy vọng của chị tôi và các cháu cũng đă trôi theo với thời gian v́ cuộc sống bương trải để kiếm sống và lo việc học hành cho các cháu.
Ngày thứ hai mươi bảy, ngày 23-3-1972, (tháng hai 1972 có 29 ngày) tôi đang làm việc ở Trường Công Binh B́nh Dương, vào lúc hai giờ chiều tôi nhận được hai cú điện thoại: một của Bộ Chỉ Huy Binh Chủng Pháo Binh và một của chị tôi cho tôi biết là dân chài Nam Ô vừa t́m thấy thân tàu vào trưa ngày hôm nay, ngày 23-3-1972; họ đă thả phao đánh dấu nơi "hột vịt" cách bờ biển Thị xă Đà Nẵng có vài cây số nhưng cách nơi bị nạn có đến gần hai mươi cây số.
Sau khi được tin Trung Tướng Tư Lệnh Hoàng Xuân Lăm đă chỉ thị cho căn cứ người nhái tại Chu Lai đưa một toán người nhái do một Đại Úy chỉ huy để đưa các ông về vào sáng ngày mai, ngày thứ hai mươi tám, 2-/3-1972; nghe đến đây, tôi có nói với chị tôi:
- Chị đi trước, c̣n em ngày mai mới lên đường được; khi gặp anh, chị nhớ coi xem con mắt trái của anh có bị chảy máu như tối hôm anh gặp nạn, anh đă về thăm chị không nhé, đồng thời chị đừng quên mang theo tiền để trả ơn những người dân chài ở Nam Ô, chị cũng nhắc cho Bà Soạn biết việc này nghe chị, em cũng sẽ xuống Sàig̣n giữ chỗ ngay bây gị.
Nói với chị dâu tôi xong, tôi thu xếp một ít công việc nhà và giao việc điều hành các khóa học của Trường Công Binh cho anh phụ tá rồi cầm giấy phép đặc biệt bốn ngày của Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Trường Phạm Văn Điển.
Xuống đến Sài g̣n đâu cũng gần bốn giờ chiều, tôi tạt vào nhà Bố Mẹ vợ của tôi và báo tin cho ông Bố vợ biết kết quả của việc t́m kiếm anh tôi cũng như nhờ ông bà chăm sóc vợ con tôi trên B́nh Dương; gặp ông tôi nói:
- Ba, xác anh Đồng con người ta đă t́m ra rồi, bây giờ con phải đi lấy vé máy bay ngay cho kịp.
- Thế vợ con có đi với con không?
- Dạ không mà Ba, nhà con ở lại lo cho mấy cháu, đi nữa cũng chẳng làm được ǵ chỉ thêm tốn kém lại nữa chưa đến ngày lănh lương.
- Ba biết, con cầm lấy tiền đi ngay ra Hăng Air Việt Nam cho kịp lấy vé mà ra Đà Nẵng vào ngày mai, mọi chuyện ở nhà có Ba lo cho, nhớ lấy vé Boeing 727 cho nó nhanh và không sợ trễ nải.
Ông Cụ tinh tế quá, tôi chưa kịp hỏi ông tiền th́ ông đă đưa ngay cho tôi. Bố vợ tôi mấy năm về trước có làm việc chung với anh tôi ở Tiểu Đoàn Pháo Binh tại Dĩ An Biên Ḥa, do đó tôi đă "phỗng mất" cô con gái rượu độc nhất của ông. Ông rất thương và quư anh tôi cho nên ông không thắc mắc khi tôi vào làm rể.
- Cám ơn Ba, con cũng tính hỏi Ba cho con mượn.....
- Thôi đi đi con, gần đến giờ nghỉ việc rồi, nhớ cho Ba biết tin tức khi vớt được anh Đồng con nhé.
- Dạ vâng, con đi đây.
Sau đó tôi chào Bố Mẹ vợ rồi đi mua vé và máy bay cất cánh vào lúc năm giờ chiều ngày hôm sau. Đêm đến, tôi trằn trọc khó ngủ và hồi tưởng lại lời hứa của ông Cụ mà tôi gặp khi làm lễ cầu hồn vào ba tuần trước, cho nên khi tôi ra đến nơi vào lúc tám giờ tối của ngày hôm 24-3-72 th́ việc tẩm liệm ông Soạn và anh tôi đă hoàn tất vào buổi trưa.
Thật tốt cho tôi v́ anh tôi tuổi Canh Ngọ, c̣n tôi tuổi Quư Dậu, xung khắc, khi nhập quan tôi phải tránh mặt. Tướng Soạn và anh tôi đă trở về đất liền sau hai mươi tám ngày ngâm ḿnh trong biển, và sau đây là câu truyện t́m người chết và đưa người chết trở về mà tôi được biết khi tiếp xúc với những người đă giúp đỡ hai gia đ́nh Soạn và Đồng.
Lời kể của anh Thượng Sĩ Nhất Trung Đội Trưởng Trung Đội Chung Sự thuộc Đại Đội Tổng Hành Dinh Quân Đoàn 1 Vùng 1 Chiến Thuật:
- Vào ban đêm của ngày thứ hai mươi sáu, 22-3-1972, tôi (Trung Đội Trưởng) trong lúc ngủ, tôi thấy "hai ông" mở cửa bước vào nhà, nh́n lên tôi thấy ông Soạn và Ông Đồng trông người rất to lớn, quần áo mặc chật ních, nước rỏ ṛng ṛng trên sàn nhà; tôi vừa đứng lên chào, tôi nghe Ông Đồng nói với tôi:
- Thượng Sĩ cho dọn chỗ để chúng tôi về.
Sau câu nói, hai ông quay ra cửa là lúc tôi toát mồ hôi và tỉnh dậy chờ cho đến sáng. Sáng hôm qua 23-3, tôi gọi anh Trung Đội Phó của tôi rồi lấy tiền đưa cho anh ta để đi mua gỗ "Giáng Hương" đem về làm hai cỗ áo quan cho hai ông, tôi nói:
- Hồi đêm tôi nằm mộng thấy ông Soạn và ông Đồng về gặp tôi và yêu cầu tụi ḿnh dọn chỗ để hai ông về. Chú cầm tiền ra mua hai cỗ bằng gỗ Hương và nhớ là cho lính đóng áo quan lớn hơn thường lệ v́ tôi thấy hai ông to lớn lắm, anh Thượng sĩ Trung đội Phó nói:
- Thượng Sĩ, ḿnh đâu đă có tin ǵ về việc t́m thấy hai ông ấy mà đi mua gỗ, nhỡ một cái th́ hai "Cỗ áo" này dùng cho ai?
- Th́ chú cứ đi mau lên, không có sao đâu, sáng mai các ông ấy về đây th́ lấy đâu ra "hàng" để tẩm liệm? Bảo mấy thằng em làm nhanh tay nghe.
Anh Thượng Sĩ Trung Đội Phó đă đi ra trại Cưa ở Phước Tường mua gỗ Hương vừa đem về đến nhà Quàn th́ có tin đă t́m được ông Soạn và anh tôi đúng như trong giấc mơ của anh Trung Đội Trưởng Trung Đội Chung Sự vào đêm hôm trước".
Lời kể của một người Dân Chài Nam Ô:
- Sau buổi lễ cầu hồn vào ba tuần trước của hai gia đ́nh mấy ông, chúng tôi t́m được ngày tốt là ngày 22-3 để đón mấy ông về và chúng tôi đă làm lễ cầu hồn hai ông theo thủ tục của Dân Chài chúng tôi, sau đó chúng tôi ra khơi rồi bủa lưới th́ lưới vướng vào "càng của thân tàu".
Sau khi lặn khoăng 40 sải nước (trung b́nh một sải là 1.3 thước), chúng tôi sờ được thân tầu rồi cột phao đánh dấu nơi tàu ch́m sau đó báo cho mấy ông ở Quân Đoàn biết để đưa thi hài mấy ông ấy về; công việc như vậy là hoàn tất, chúng tôi đă t́m được thi hài của mấy ông cho gia đ́nh rồi đấy.
Tôi hỏi anh ta v́ tôi muốn t́m gặp ông Cụ, người đă hứa giúp gia đ́nh chị tôi, để trả ơn nhưng không gặp tuy nhiên bà Soạn và chị tôi đă đưa mấy trăm ngàn trả tiền công và tiền mua lễ vật để cúng trước khi t́m được thi hài hai anh".
Lời kể của một Sĩ quan Pháo Binh Quân Đoàn.
- Sau khi được thông báo dân chài lưới ở Nam Ô đă t́m được xác chiếc trực thăng, người nhái tại Chu Lai được đưa đến vào sáng sớm ngày 24-3. Người đầu tiên lặn xuông thám sát rồi sau khi trồi lên mặt nước anh ta cho biết:
- Thân tàu ngập trong đám bùn và cát của cửa biển Đà Nẵng, thân tàu lật úp đưa hai càng lên nên khi bủa lưới, lưới đă mắc vào càng của trực thăng sau đó dân chài đă cột giây phao để đánh dấu nơi trực thăng được t́m thấy, chỗ này sâu hơn 40 thước nước.
Nhận được báo cáo của anh chuyên viên người nhái, anh Đại Úy trưởng toán gọi một nhân viên đi theo rồi lặn xuống để t́m cách đưa tàu ra khỏi vũng bùn, khi đến nơi, anh sờ và nh́n thấy 2 càng của trực thăng, c̣n cửa và thân tàu hoàn toàn ngập trong lớp bùn dầy đặc của cửa biển Đà Nẵng.
Anh Đại úy t́m cách lật nghiêng thân tàu để xem có ông nào c̣n ở bên trong thân tàu hay đă văng ra ngoài ngay khi bị nạn, khi "hột vịt" được lật nghiêng, một bóng đen từ trong thân tàu thoát ra khỏi cửa và như "ôm" lấy người anh Đại Úy, anh Đại Úy đă xô vật này ra v́ chưa biết là cái ǵ nhưng khi định thần th́ thấy là thi hài của một trong số những người mất tích đang trồi lên mặt nước.
Giật ḿnh v́ sợ bị mất thi hài nên anh Đại Úy Trưởng toán đă vội nắm lấy cổ chân của xác chết giữ lại nhưng v́ xác chềt trồi lên quá nhanh trong lúc anh Đại Úy không đủ sức nặng để tŕ lại nên đă bị xác chết kéo theo trồi lên mặt nước cùng với xác chết, việc lên khỏi mặt nước quá nhanh tạo nên thế mất quân b́nh áp xuất của cơ thể và kết quả là trên xuồng phao cao su, nhân viên người nhái thấy ông Đại Úy ngất xỉu bên cạnh thi hài của anh Đại Tá phi công.
Toán người nhái trên tàu đă vội đưa anh Đại Úy lên thuyền đồng thời gọi trực thăng tản thương đem về Bệnh viện Đà Nẵng cấp cứu, sau đó họ cũng vớt được ông Đại Tá Hoa Kỳ và giao cho văn pḥng Cố Vấn Quân Đoàn 1.
Rút kinh nghiệm, lần này hai người nhái lặn xuống và cùng làm một động tác để t́m những người c̣n kẹt lại trong tàu, khi hai anh người nhái đứng một bên và cùng nhau dở càng trực thăng để lật nghiêng, anh Đồng tôi, thân thể đă trương ph́nh chật cứng trong bộ quân phục tác chiến, trong tư thế ngồi co hai chân như ta ngồi ghế dựa, dây an toàn đă được tháo, hai tay khùynh ra như muốn ôm một vật ǵ, xác của anh đă từ từ trôi ra phía cửa, hai anh người nhái, mỗi anh một bên đă d́u anh tôi lên mặt nước, để đem lên thuyền.
Sau đó đến phiên ông Soạn; ông chưa gỡ được dây an toàn cho nên chết trong lúc vẫn c̣n ngồi trên ghế dây vải của trực thăng, hai anh người nhái phải cắt dây để đưa ông lên mặt nước, công việc t́m kiếm những người c̣n lại chấm dứt với việc ông Đại Úy người nhái phải nhập viên mất hơn một tuần lễ mới khỏi bệnh".
Sáng ngày thứ hai mươi tám, 24-2-1972, chị dâu tôi đă nhận được xác anh tôi và thấy con mắt bên trái của anh đă bị vỡ như chị thấy trong giấc mơ ngay hôm gặp nạn, thật là một điều kỳ diệu.
Trước khi đưa thi hài ông Soạn và anh tôi về Sài g̣n, Trung Tướng Hoàng Xuân Lăm đă thay mặt Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa Truy Thăng cho ông Soạn thêm một sao, và anh tôi cũng được một sao như lời hứa của Ông Thiệu; ngoài ra ông Soạn c̣n được nâng cấp Bảo Quốc Huân Chương lên Đệ Nhị Đẳng trong lúc đó anh tôi cũng được truy tặng Đệ Tam Đẳng Bảo Quấc Huân Chương.
Sau phần nghi lễ, quan tài của ông Soạn và anh tôi được đặt lên hai xe Thiết vận Xa M113 để đưa ra phi trường Đà Nặng. Trung Tướng Hoàng Xuân Lăm đă đưa tiễn hai ông Soạn và Đồng một quăng đường; tôi đă thay mặt hai gia đ́nh để lạy tạ những người đưa tiễn Ông Soạn và Anh tôi vào Sàig̣n.
Chúng tôi đă đưa hai Anh vào Sàig̣n bằng hai máy bay C119 của Không Quân Việt Nam, khi máy bay "b́nh phi" sau khi lên đến cao độ được chỉ định, tôi thấy không xong v́ ḥm thiếc đă hàn không kỹ khi nhập quan, tôi lên buồng lái gặp anh Đại Úy Trưởng tầu:
- Đại Úy, ḿnh đang bay ở cao độ bao nhiêu đấy?
- Dạ, tầu ḿnh đang ở cao độ 4,000 bộ (1,200m)
- Không xong rồi Đại Úy, ḥm kẽm hàn không kỹ, Đại Úy cho tụt cao độ được không?
- Không được đâu Trung Tá, tàu đang bay dọc Quốc Lộ 1, nếu xuống thấp th́ có thể ăn đạn thêm nữa Tân Sơn Nhất đă chỉ định cao độ và hướng bay cho tàu.
- Đại Úy, theo tôi anh xin Trung Tâm kiểm soát không lưu Tân Sơn Nhất để xuống cao độ khoảng 1,000 bộ (300m) và bay ra biển, dọc theo bờ biển đến Vũng Tàu mới quẹo vào Sàig̣n, tôi thấy an toàn cho tàu và cho "mấy ổng ở trong đó", được không?
- Vâng để tôi coi, thế rồi chừng một phút sau chúng tôi đă lạng ra bờ biển Quảng Ngăi và bay dọc theo bờ biển từ Quảng Ngăi vào Sàig̣n với cao độ khoảng 300 thước cho nên đây cũng là lần cuối cùng tôi được nh́n bờ biển Việt Nam thân yêu từ trên phi cơ cho đến ngày nay.
Khi đang bay, tôi nghe tiếng lụp bụp của một trong hai động cơ của C119, tôi cũng ngán quá v́ nhỡ một cái mà xuống biển th́ ai vớt tôi đây? Nh́n anh Trưởng Tàu đang xoay xoay mấy cái núm trên bảng điều khiển tôi hỏi:
- Có ǵ trục trặc hay sao hả anh, tôi thấy máy nổ lụp bụp rồi x́ khói, ḿnh có sao không?
- Yên trí mà ông, nó có tên là "Quan Tài Bay" do giới phi công chúng tôi đặt tên cho nó đấy nên không có sao đâu.
- Trời đất, tên ǵ mà kỳ cục vậy?
- Máy móc th́ hay hư bất tử, không tin tưởng được. Hư và nhập xưởng để sửa hoài hoài à.
- Chúng tôi luôn luôn được "mấy ông" phù hộ cho nên chưa rớt phi vụ nào.
Gần đến Sài g̣n, anh Đại Úy Trưởng tàu rời khỏi ghế xuống gặp tôi:
- Trung Tá, có lệnh khi về đến Tân Sơn Nhất, tàu ḿnh sẽ đáp sau tầu của Tướng Soạn khoảng 15 phút v́ cần thời gian để làm lễ tiếp đón Tướng Soạn tại Phi Trường, như vậy tôi sẽ lượn vài ṿng và lên cao độ 600 thước chung quanh Phi Trường "cho ăn chắc".
Khi nào lễ đón Tướng Soạn xong lúc đó tôi mới đáp và đưa tàu vào khu vực hành lễ của đại diện các Quân Binh Chủng. Trung Tá nói với gia đ́nh chỉ rời tàu khi nào Đại Đội Danh Dự đón chào đă chuẩn bị xong nhé.
- Okay, khi nào anh mở cũa hậu chúng tôi mới xuống.
Sau lễ nghi quân cách tại Tân Sơn Nhất, thi hài anh tôi được đưa về quàn tại Chùa Vĩnh Nghiêm, một tuần sau Anh tôi mới được chôn cất tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Ḥa c̣n Ông Soạn được an táng tại đâu tôi không biết.
Mấy năm sau khi mất nước, gia đ́nh chúng tôi và các cháu đă cải táng để rồi cho đến bây giờ Anh tôi đang "ăn mày Phật" tại Chùa Pháp Vân Phú Nhuận thành phố ***.
Lúc này gia đ́nh chị tôi hiện định cư tại Na Uy c̣n gia đ́nh bà Tướng Soạn th́ bất hạnh thay, khi Bà và mấy cháu vượt biên, ghe bị vỡ và bà Soạn đă gặp được chồng cũng trong làn nước biển trong xanh tại Hải phận Vũng Tầu.
Viết lại câu truyện này tôi muốn nêu lên mấy khía cạnh thuộc về sự mầu nhiệm và huyền bí của Dân Tộc Việt Nam trong mấy chục năm qua; tôi xin tóm lược những suy nghĩ của tôi gửi đến quư bạn đọc để quư bạn giúp tôi t́m một câu giải đáp sao cho thỏa đáng nhé:
1. Ông Đại Đức tu hành tại Chùa Tỉnh Giáo Hội Phú Bổn vào năm 1967. Ông đă viết vào giữa là số của Anh tôi một câu: "Năm 1972 nếu xuất dương th́ THỌ TỬ" (th́ chết).
Nói về người con Út của Anh tôi khi cháu chào đời: "Cậu bé này ra đời th́ Cha cậu bé sẽ HẾT SỐ".
Sự xung khắc giữa Canh Ngọ 1930 với Kỷ Dậu 1969. Và Anh tôi đă "hết số" vào ba năm sau 1972, năm Nhâm Tư.
2. Ngày Mồng Ba Tết năm Nhâm Tư, 17-2-1972, trong buổi lễ Thượng Kỳ đầu năm, mặc dầu đă đi "coi Thầy" và được Thầy cho ngày giờ để làm lễ nhưng có lẽ v́ đă tới số rồi cho nên một trận cuồng phong, bụi đất mịt mù và "Lá Cờ" của Đơn Vị, được coi là "Bản Mệnh của người Chỉ Huy", khi đang kéo lên đă bị kẹt lại và trở thành "Cờ Tang" của Đơn vị. Đây có phải là điềm báo trước cho cái chết của Chỉ Huy Trưởng sẽ xẩy ra trong nay mai?
3. Ngày 11 tháng Giêng năm Nhâm Tư, 25-2-1972 sau khi thăm viếng ở ngoài khơi Đà Nẵng, giữa cái mênh mông của biển cả sao lại có một ngọn gió "quái ác" thổi ngang thân tàu đễ gây nên việc gẫy làm đôi chiếc trực thăng? Đây có phải là: đúng giờ, đúng ngày, đúng tháng mà tám trong số chín người người "phải chết" (người sống sót là anh sĩ quan Hải Quân Hoa Kỳ).
4. Tám ngày sau lễ chào cờ, ngày 11 Tháng Giêng Năm Nhâm Tư, 25-2-1972, khi tai nạn xẩy ra vào lúc buổi chiều, đêm đến, Anh tôi đă về gặp chị dâu tôi, quần áo ướt xũng nước chảy ṛng ṛng trên nền nhà, đứng lắc đầu rồi khóc, một con mắt đă bị vỡ khi gặp nạn. Hai mươi tám ngày sau, khi vớt được xác, chi dâu tôi xác nhận con mắt anh tôi đă bị vỡ như có vật ǵ bén nhọn đâm vào và có máu chảy.
5. Chuyện ǵ đă xẩy ra và sự huyền bí cùng linh thiêng của buổi lễ tại Nam ô khi những người dân chài địa phương làm lễ rồi ra khơi t́m anh tôi và ông Soạn. Tại sao lại dùng dầu đậu phụng như tôi được nghe kể ở Nha Trang trong những năm 1963-1967 mà không dùng loại dầu nào khác?
Buổi lễ t́m anh tôi có đúng như lời ông Trưởng Ấp Xóm Cồn bên sau Chợ Đầm Nha Trang đă kể cho tôi nghe hay là một buổi lễ với nhưng nghi thức khác và phương pháp khác mà tôi v́ không có thời gian nên không hỏi được đến nơi đến chốn.
6. Trước ngày dân chài t́m được những người mất tích một đêm, anh Trung Đội Trưởng Trung Đội Chung Sự nằm mộng gặp Ông Soạn và Anh tôi, yêu cầu dọn chỗ để hai ông về.
Thực hay hư chưa được biết nhưng anh Trung Đội Trưởng cũng bỏ tiền riêng của anh đễ mua hai cỗ áo quan bằng gỗ Hương, loại gỗ đắt tiền chỉ dùng để đóng bàn ghế, để lo chỗ nằm cho hai người vừa chết.
Mười ngày đă trôi qua kể từ khi gặp nạn, trong lúc việc đi t́m thi hài ông Soạn và anh tôi đă không c̣n được Hải Quân Mỹ Việt lưu tâm đến chúng tôi mới được tin ông Thiệu chấp thuận truy thăng cho Anh tôi khi nào đem được xác về.
Xét về t́nh th́ hợp lư nhưng xét về lư th́ nếu ông Thiểu muốn cho truy thăng th́ lúc nào cũng làm được đâu phải chờ đến khi mang được xác về. Vậy lời hứa này coi như "hứa để mà hứa", t́m được th́ "Ta" cho c̣n mất xác th́ "Không".
Nhưng đúng ngày thứ hai mươi tám (Nhị Thập Bát Tú = hai mươi tám v́ sao trong truyện Tàu) hai anh đă về để tiếp nhận sự Truy Thăng và Truy Tặng theo đứng lễ nghi của Quân Đội Miền Nam dành cho những người chết v́ công vụ.
Anh Thiếu Tá Lê Văn Sanh, người có tên trong danh sách ra thăm Chiến Hạm nhưng v́ "số chưa chết" cho nên anh phải trở về trong nuối tiếc v́ mất một dịp may hiếm có để thăm Đệ Thất Hạm Đội.
Anh đă "không được đi chung một tàu với những người sắp chết". Khi tôi viết câu truyện này anh Lê văn Sanh đang sinh sống ở Houston Texas USA. Chúng tôi mừng anh v́ anh được thêm tuổi thọ.
Câu giải đáp chúng tôi xin dành cho quư bạn, chúng tôi cũng chân thành cám ơn quư độc giả đă theo dơi câu truyện riêng tư của gia đ́nh chúng tôi, xin đa tạ.
Ngô Duy Lâm
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1150 of 2534: Đă gửi: 10 December 2008 lúc 12:04pm | Đă lưu IP
|
|
|
THẾ GIỚI TÂM LINH
(KỲ SÁU)
Miền Nam Việt Nam bị "bức tử" vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, chúng tôi, những quân nhân thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, không phân biệt cấp bậc hay Quân Binh Chủng, chúng tôi đă theo nhau vào những nhà tù cải tạo, có lẽ lớn nhất nh́ Thế Giới, để rồi tôi lại gặp một chuyện liên quan đến:
Thế Giới Vô H́nh Trên Hoàng Liên Sơn 1979
Ngày tháng lại tiếp tục qua đi chúng tôi vẫn c̣n bị giam lỏng ở Hoàng Liên Sơn. Các bạn tôi vẫn tiếp tục đi rừng, phát quang, làm rẫy để trồng khoai ḿ c̣n tôi v́ là con cháu Bà Hỏa cho nên tôi lại được cử vào nhà bếp để nấu nướng cho 300 anh em cùng cải tạo như tôi, sau đây là câu chuyện "Ma nữ với Chảo Bắp" tôi xin kể ra đây để quư bạn thưởng lăm.
Khi Trại tám thành lập th́ nơi đây chỉ là một sườn đồi và được dân địa phương canh tác các loại hoa mầu cũng đă lâu đời rồi; tại đây có một căn nhà ba gian lợp bằng lá và cột kèo đều là tre, nứa và cây rừng.
Trong căn nhà này có một gian để một cái trơng tre một thước bề rộng và hai thước bề dài có lẽ là dùng để cho người coi rẫy ngả lưng vào những giấc ngủ buổi trưa th́ phải.
Trại tám cho xử dụng căn nhà này làm bếp cho Trại cải tạo và cho nới thêm hai gian nữa cho thành năm gian và được bố trí như sau: một gian làm kho có cửa sổ để phân phát thức ăn, một gian làm chỗ ngủ có cái trỏng tre và để dụng cụ nhà bếp, hai gian kế tiếp th́ xây năm ḷ cho năm chảo để nấu nước và nấu thức ăn cho Trại; gian nhà c̣n lại th́ làm sàn nước, có che thêm mái cho đủ rộng để lấy chỗ làm trâu và heo những khi chúng tôi được ‘bồi dưỡng’.
Lúc tôi đổi đến trại và được điều động xuống bếp, tôi lấy làm lạ là không có anh nào trong nhóm nhà bếp ngủ trên cái trơng tre này hàng đêm khi lên phiên trực, tôi hỏi mấy bạn th́ ai cũng nói:
- Lạ lắm nhưng nếu muốn th́ cậu cứ ngủ thử một đêm th́ biết.
Th́ ra "hiện tượng lạ xẩy ra hàng đêm" khi anh trực bếp mang đồ ngủ xuống và giăng màn rồi ngả lưng trên cái trơng tre này th́ cứ vào nửa đêm về sáng, nhà bếp gồm 15 đến 17 anh lần lượt đều "bị ném xuống đất" với một câu nói mơ hồ bên tai:
- Trả chỗ này lại cho tôi.
Chỉ có 2 trong 17 anh làm bếp là "có quyền nằm trên cái Trơng Tre này" mà thôi. Đó là Anh Trung Tá Sáu Nhỏ, Binh Chủng Nhẩy Dù, bếp Trưởng và anh Trung Tá Khuyến, Không Đoàn Trưởng Không Đoàn Khu Trục Đà Nẵng, c̣n tôi là người thứ 18.
Khi nghe được câu chuyện này và anh em trong nhà bếp ai cũng muốn tôi thử xem sao, thế là tôi "đồng ư ngay" và tối hôm đó tôi dọn đồ xuống bếp và nằm lên trơng tre để ngủ cho đến sáng mà không có chuyện ǵ xẩy ra cho tôi.
Sau này tôi được biết là nơi đây: "Một cô Thôn nữ đă nằm xuống và thi hài của cô được đặt trên cái trơng tre này để chờ mai táng".
Kể từ đó những anh nào "không được phép" đều dọn chỗ ngủ ở trong kho hay gần ḷ nấu, c̣n ba anh em chúng tôi (cấp Trung Tá) th́ khi lên phiên đều "được linh hồn người quá cố" cho phép ngủ qua đêm mà không bao giờ bị quấy phá hay "đuổi đi" chổ khác.
Riêng tôi những lúc sau này mỗi lần xuống ngủ dưới bếp, trước khi ngả lưng tôi cũng thầm khấn "linh hồn cô bé" để xin được ngủ qua đêm trong yên ổn.
Sau đó một hôm tôi lên phiên trực nấu bắp, sau khi gạt than ba ḷ nấu vào lúc mười giờ tối như thông lệ, rồi b́nh tĩnh để lên trơng tre giăng màn và nằm ngủ, vào lúc nửa khuya th́ văng vẳng bên tai tôi có tiếng nói mơ hồ từ đâu vọng lại:
- Dậy.. dậy.. khéo không th́ chảo số ba sẽ bị khét..
Đồng thời làm như có ai nắm hai ngón chân cái của tôi để đánh thức tôi dậy, trong lúc đó tôi ngửi được mùi bắp bị khê. Tôi bật dậy như cái ḷ so, tung mùng chạy vội ra bếp, mở nắp chảo số ba, cầm cái xẻng đẩy xuống sát đáy chảo và lật lên, th́ bắp đă bắt đầu hết nước, hơi khô nhưng chưa khét.
Trộn đều chảo bắp xong tôi vội chữa cháy bằng mấy thau nước lạnh tạt vào trong ḷ để làm nguội thành ḷ chờ sáng mới không bị khê.
Anh vệ binh thấy tôi hùng hục ‘chữa lửa’ bèn lại hỏi tôi tại sao tôi thức dậy sớm thế, v́ mới có hơn một giờ sáng mà thôi, tôi trả lời cho qua câu chuyện rồi "thầm cám ơn người khuất mặt" để rồi lại tiếp tục đi ngủ.
Riêng rằm tháng 7 năm 1979, anh bếp phó Thiếu Tá Nguyễn Ky Biệt Động Quân, đă yêu cầu Hậu Cần cung cấp cho nhà bếp mấy thẻ nhang, rồi chúng tôi làm mâm cơm tươm tất để cúng "Cô Hồn" tại bếp, riêng tại ḷ bánh ḿ do tôi phụ trách, tôi cúng bánh ḿ nhưng cũng có vài nén nhang.
Lư do chúng tôi cúng "cô hồn" ở ḷ bánh ḿ là v́ căn cḥi này, một căn nhà lá có chiều rộng 2.5 thước và chiều dài là ba thước, trước khi tôi đến Trại tám là nơi quàn xác một anh bạn, Thiếu Tá hay Đại uư tên là Tấn bị chết khi cải tạo tại Trại tám, thi hài anh Tấn được để tại đây một đêm và một ngày rồi mới được chôn cất.
Khi tôi phụ trách nướng bánh ḿ, Trại đă chỉ thị cho tôi lấy căn cḥi này mà làm ḷ nướng bánh, tôi đă phải khấn anh Tấn để xin anh cho phép dùng nơi ở của anh để phục vụ những người cùng cảnh ngộ như anh nhưng "chưa chết".
Khi nướng bánh ḿ mẻ đầu tiên, tôi lấy năm ổ bánh rồi xếp lên mặt ḷ để cúng anh Tấn. Sau khi chúng tôi ra được mấy mẻ bánh tiếp theo th́ nhang cũng đă tàn, đâu cũng có tới gần một tiếng đống hồ, tôi thấy ‘tự dưng’ một trong năm ổ bánh để trên miệng ḷ đă "tự động" nhẩy xuống đất; thấy vậy tôi nói với anh Trung Tá Nguyễn Quang Lan, Tham mưu Trưởng Tiểu Khu Phú Bổn:
- Anh Lan làm ơn cất dùm tôi năm ổ bánh ḿ vào bao bố đi, anh Tấn đă dùng bữa xong rồi, cất đi anh Lan kẻo không th́ khi Vệ binh của trại đến chúng ta khó mà trả lời đây.
Anh Lan làm theo lời tôi vừa xong th́ một anh vệ binh của trại đă ló đầu vào cửa gian nhà và hỏi:
- Các anh đang nướng bánh ḿ đấy hả?
Tôi trả lời:
- Dạ vâng, chúng tôi đang nướng bánh.
Đứng nh́n một hồi lâu rồi sau đó anh vệ binh của Trại mới bỏ ra ngoài; chúng tôi nh́n nhau và thở dài nhẹ nhơm v́ anh Tấn đă kịp thời "báo động" cho nên chúng tôi mới không bị rắc rối.
Ngô Duy Lâm
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1151 of 2534: Đă gửi: 10 December 2008 lúc 12:55pm | Đă lưu IP
|
|
|
THẾ GIỚI TÂM LINH
(KỲ BẢY)
Thần Trùng
Tháng 6 năm 1994 khi thấy đa số cựu Quân Nhân của Quân đội Việt Nam Cộng Hoà được định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O, mà bản thân tôi vào năm 1992 người mua căn nhà cũ của bà ngoại, mấy cháu có nhận được thư của Sở Công An Thành Phố *** gọi tôi lên để lập hồ sơ cho tôi xuất ngoại, mặc dù tôi đă định cư tại Úc Châu đă có hơn tám năm rồi.
Do đó tôi quyết định về Việt Nam để thăm Bố Mẹ tôi tại Hànội và thăm lại Quê Cha Đất Tổ là nơi mà tôi đă xa cách có đến bốn mươi năm chưa về thăm lại từ năm 1954 đến 1994.
Trong lúc xếp đặt chương tŕnh đi thăm Hànội, tôi được ông bố chồng của con gái lớn của tôi, bảo lănh để về Sàig̣n thăm hai đứa con gái c̣n sót lại, v́ chúng đă có chồng trước khi tôi làm bảo lănh cho vợ con tôi vào năm 1984.
Khi mua vé máy bay, cô bán vé là con người bạn mới quen biết cho tôi hay rằng, cháu xin Visa cho tôi ra và vào Việt Nam trong ṿng ba tháng, trong lúc tôi chỉ tính đi có bốn tuần.
Sang tuần lễ thứ ba ở Hànội vợ chồng tôi đă về Sơn Tây để thăm mồ mả tổ tiên trong nghĩa trang của ḍng họ Ngô tại làng Kiểu Trung chợ gạch, nay được đổi tên là thôn Kiều Trung thị trấn Phúc Thọ, huyện Phúc Thọ tỉnh Hà Tây, mấy ngày trước khi chúng tôi trở vào lại trong Nam để lên đường về Úc
Ngày vợ chồng tôi thắp nhang trước ngôi mộ của Bà Nội tôi, Bà đă nuôi tôi từ khi tôi vừa mới chào đời được hơn một tháng, cầm ba nén nhang tôi khấn Bà:
- Vợ chồng con về thăm Nội sau hơn bốn mươi năm con lưu lạc giang hồ, Nội nhận ra con không?
Sau khi khấn xong tôi mới cắm mấy cây nhang vào bát hương trên ngôi mộ của Bà, trong lúc cắm mấy cây hương th́ không hiểu tại sao, lại có một cọng cỏ mảnh mai như cọng bún đă đâm vào ngón tay trỏ cũa tôi đến chảy máu, như ta cầm ống chích để rút máu vậy.
Phải chăng Bà Nội tôi đă nhận ra thằng cháu mà Bà nuôi nấng cưng chiều hơn sáu mươi năm về trước, nếu không có Bà th́ tôi đâu có cơ hội sống cho đến bây giờ?
Máu của tôi đă để lại trên bát nhang của Bà như những chứng tích của sự thăm viếng của tôi sau hơn bốn mươi năm tôi mới về lại quê tôi, khi thấy việc này xẩy ra một cách quá bất ngờ nhưng tiềm ẩn một sự mầu nhiệm của huyết thống, Bố tôi đă phải nói:
- Bà Nội nhận ra anh là cháu của bà rồi đấy.
Buổi chiều khi về lại Hà Nội, tôi đă kể sự việc vừa xẩy ra cho Mẹ tôi nghe, đồng thời v́ nhớ lại ngày nào khi tôi c̣n bé, mẹ tôi đă nói về Bà sau khi Bà chết, tôi nói:
- Mẹ, bà nội mất gần sáu mươi năm rồi, sao bà lại “lấy máu” của con để nghiệm xem có phải con là cháu nội của bà hay không, nếu đúng th́ bà đâu đă “siêu thoát”?
- Câu chuyện lấy máu của anh hồi sáng tôi nghĩ là có thật, c̣n chuyện bà nội anh có siêu thoát hay không th́ tôi không biết.
- Vậy mẹ kể lại cho con nghe câu chuyện hồi xưa khi gia đ́nh ḿnh c̣n ở dưới phố Khâm Thiên, liên quan đến bà nội về thăm Bố Mẹ mà hôm ngày giỗ bà, mẹ gặp bà đấy.
- Ừ tôi kể lại để anh nghe nhé, câu chuyện xẩy ra đă lâu rồi tôi cũng không c̣n nhớ nhiều đâu, tuy nhiên anh c̣n trẻ anh c̣n nhớ những chi tiết tôi nói cho anh nghe vào những năm 1942 hay 1943 th́ phải, câu chuyện như sau:
- "Bà Nội của anh ngày c̣n sinh tiền bà mở tiệm thuốc Bắc tại Chợ Gạch Sơn Tây, do vậy khi anh sinh thiếu tháng mà nguyên nhân có lẽ D́ Sáu của anh, là em ruột tôi, lấy chồng là em ruột của Bố anh. Sau khi sinh được mấy ngày D́ Sáu v́ ghen tuông, nên đă nhẩy xuống giếng nước trong làng tự tử chết đi để lại cô Nhung, mà sau này tôi nuôi như anh thấy đấy.
Do cái chết của em tôi, tôi có buồn phiền mà cũng có người lại nói rằng, tôi đưa D́ Sáu anh đi sinh nên “anh đ̣i ra sớm” nên tôi mới sinh ra anh trong lúc anh ở trong bụng tôi mới chỉ có hơn bảy tháng, cho nên khi ra đời tôi đă phải đưa anh về quê để bà, chăm sóc anh với “sâm nhung quế phụ” cho nên anh mới c̣n sống đến ngày nay vậy.
Người ta thường nói: “mẹ chồng thường ghét bỏ con dâu, hay nói xấu con dâu... nhưng với bà nội của anh th́ khác, bà rất thương Bác Hai gái, thương tôi và thương D́ Sáu.
Tôi chưa thấy ai thương những người con dâu như bà cho nên sau này, bắt chước bà cũng như học theo tính bà, nên tôi đă thương mấy cô con dâu của tôi như anh thấy đấy.
Bà thương chị em bạn dâu chúng tôi quá, cho nên nó cũng là cái “tội” của chúng tôi sau khi bà chết đi được ít ngày, để tôi nhớ lại kể cho anh nghe:
Ngày bà vừa trút hơi thở th́ lúc đó trong làng có một ông thầy cúng, tôi từ Hànội về quê trước đó mấy ngày nên khi bà vừa nhắm mắt, tôi ghé thăm ông thầy cúng để xin ngày giờ tốt làm ma chay cho bà.
V́ các bác chú cô của anh đều là những người có vai vế ở Chợ Gạch và làng Kiều Trung như: Bác Lư Trưởng, bác Chánh Tổng và bác Tổng Sư... cho đến bố anh cũng tốt nghiệp phổ thông và làm việc ở Hànội. Sau khi lấy số, coi giờ ông thầy nói cho tôi biết như sau:
- Cụ chết vào ngày giờ không được tốt, ảnh hưởng đến tương lai và sự nghiệp của con cháu sau này, nhưng điều này không quan trọng mà điều tôi quan tâm đến là Cụ chết vào giờ “Trùng Năm” nguy hiểm lắm.
- Thưa thầy “trùng năm” là cái ǵ, tôi hỏi lại ông thầy.
- Trùng năm là cứ đến ngày giỗ cụ, cụ sẽ bắt đi môt người trong gia đ́nh.
- Thưa thầy, thầy cho tôi hỏi là “thầy có biết” bà nội mấy cháu có ư định bắt ai không, con trai, con gái hay con dâu con rể?
- Nhà chị là thế nào với bà cụ?
Ông thầy hỏi ngược lại.
- Dạ thưa thầy, cháu là con dâu thứ hai của Cụ Đồ (bà nội tôi).
- À thế th́ không xong rồi, bà có tiếng là người thương và quư con dâu, theo tôi tính toán th́ bà sẽ bắt người con dâu thứ nhất của bà vào ngày giỗ đầu đấy.
Nghe đến đây tôi sợ quá nên tôi hỏi lại ông thầy:
- Thưa thầy, nếu vậy th́ chúng cháu phải làm sao bây giờ?
- Chuyện không đơn giản, nếu nhà chị cần đến thầy th́: cụ phải được chôn cất vào ngày giờ tôi ghi cho chị đây, đồng thời thầy cũng phải làm một cái lễ để “yểm” một đạo bùa vào trong áo quan của cụ trước khi hạ huyệt.
Nếu nhà chị thuận làm việc này, th́ ngay bây giờ lấy tên tuổi của mấy bà con dâu của Cụ Đồ, đem lại đây để tôi “thư bùa”.
- Vâng thưa thầy, cháu sẽ báo cho mấy chị em chúng cháu biết, rồi sẽ ra gặp thầy vào sáng sớm ngày mai.
- Thôi được rồi nhà chị về đi nhưng chị cho tôi biết tên và ngày sinh tháng đẻ của chị, tôi sẽ cố gắng giúp chị, v́ tôi biết ông Hai (anh ruột của bố tôi) cũng gàn lắm và không tin vào tôi đâu.
Sau khi chào ông thầy cúng xong, mẹ tôi về nhà của bà chị bố tôi, bà có ông chồng là thầy đồ dạy chữ nho cho cả Tổng, nên ông được mọi người trong Tổng gọi là ông Tổng Sư, kể lại câu chuyện vừa rồi cho bà Cô Tổng tôi nghe xong, mẹ tôi nói:
- Bây giờ th́ chị tính sao, em sợ bác Hai, em không dám nói câu chuyện này đâu, bác Hai nổi cơn lên là em ăn đ̣n đấy.
- Mợ để đấy cho tôi, ông thầy giỏi có tiếng hàng Huyện nhà ḿnh, tôi sẽ lựa lời nói với bác Hai rồi sẽ cho mợ biết sau.
Bà Tổng sau đó đă đi sang thăm ông anh ruột, nơi mà thi hài bà nội tôi được quàn tại đây, gặp ông Hai bà nói:
- Em vừa đi coi thầy để t́m ngày và giờ tốt an táng mẹ trong thửa đất của nhà. Ông thầy sau khi bấm số đă cho biết mẹ chết vào giờ rất “linh thiêng” nhưng có một điều là không được tốt cho chị Hai và mấy bà con dâu như mợ Tư (mẹ tôi) mợ Sáu chẳng hạn. Em có lấy ư kiến Thầy th́ muốn vậy phải bỏ một đạo bùa vào trong áo quan truớc khi hạ huyệt, anh đồng ư nhé?
- Đồng ư cái ǵ? Cô nói với thím Tư là không được lộn xộn, tôi mà điên tiết lên là không xong đâu.
Hoảng sợ bà Tổng về gặp mẹ tôi:
- Không xong rồi mợ, mợ tránh mặt đi, lấy cớ về Hànội lo cho con của mợ, để cậu Tư ở đây là được rồi, khi nào gần đến giờ động quan tôi sẽ nhắn mợ lên để đưa Cụ ra nghĩa trang.
Nghe lời bà chị của bố tôi, mẹ tôi đă về Hànội ngay buổi chiều hôm đó và thế rồi mọi việc cũng qua đi, trong lúc mải lo cho cái sống cho mấy anh chị em chúng tôi gồm năm đứa, mà chú em tôi nhỏ nhất mới được hơn một năm, cho nên mẹ tôi cũng quên luôn chuyện “chết trùng” của bà mẹ chồng.
- Một năm sau,
Mẹ tôi kể tiếp:
- Đúng vào ngày giỗ đầu của bà nội anh, tôi cũng quên luôn chuyện chết trùng, tôi lại không về quê để dự đám giỗ, v́ em Sơn của anh mới hơn hai tuổi, cho nên tôi chỉ được tin Bác Hai gái, không bệnh mà chết vào ngày giỗ cụ.
Tôi cũng không quan tâm đến cái chết này phần v́ lo buôn bán, phần th́ cũng không mấy tin vào những lời nói của ông thầy cúng trên Sơn Tây, thêm nửa ông Thầy cũng không c̣n thờ cúng thần linh nữa v́ già yếu và bệnh hoạn.
Lại một năm nữa qua đi gần đến ngày giỗ hết, mẹ tôi mới nói với bố tôi ngày giỗ hết sẽ làm ở nhà bố mẹ tôi tại phố Khâm Thiên, v́ trên Sơn Tây Bác Hai ngoài giỗ bà nội c̣n phải làm giỗ cho bà Hai.
Bố tôi đồng ư cho nên sau bữa giỗ “thiên thường" (trước ngày giỗ một ngày) vào lúc sáu giờ chiều th́ ngay trong đêm hôm đó, mẹ tôi kể tiếp:
- Tối hôm đó, Bố anh, anh Đỉnh, anh Đồng, Cô Phượng và anh đều nằm ngủ ở pḥng ngoài trên gác, c̣n tôi và chú Sơn nằm ở pḥng trong nơi có cửa cầu thang xuống nhà dưới, chắc anh c̣n nhớ, cái cầu thang lên lầu ở ngoài sân sau của nhà ḿnh.
Vào khoảng gần nửa đêm, chú Sơn thức giấc khóc tôi ngồi dậy dỗ chú nín khóc, trong cái tĩnh mịch của nửa đêm nơi nhà ḿnh cũng gần như nửa quê nửa tỉnh thành, tôi chỉ c̣n nghe tiếng nút sữa của chú Sơn. Trong lúc đó nh́n qua của sổ, những con đom đóm đang lập ḷe bay qua bay lại làm tôi cũng thấy hơi rợn người.
Bất chợt tôi nghe tiếng ai mở cửa nơi cầu thang để vào buồng của tôi, ngẩng lên tôi thấy một bóng người sau khi vào nhà đă quay lưng đóng cửa ra vào.
Giật ḿnh tôi hỏi:
- Ai đó?
Tôi không nghe tiếng trả lời mà lại thấy một bóng người đàn bà h́nh dáng quen thuộc, tḥ tay vén màn của tôi. Sợ quá tôi hét ầm lên:
- Trộm, trộm ...
Đến đây tôi thấy bóng người đi nhanh ra buồng ngủ phía ngoài, nơi bố anh và các anh chị đang ngủ, nhưng tại buồng này cũng có đặt bàn thờ của Bà Nội và bóng người biến mất.
Bố anh nghe tôi la “trộm, trộm” ông thức dậy vào buồng tôi rồi nói:
- Không phải trộm đâu, Bà Nội về đấy tôi thấy bà lên bàn thờ.
Nghe bố anh nói vậy tôi sợ quá, và nhớ lại lời ông Thầy trên Sơn Tây đă nói là Bà chết vào ngày trùng năm, và sẽ bắt mỗi năm một người con dâu đi theo Bà, do đó tôi bắt bố anh canh thức cho đến sáng.
Khi có bóng mặt trời, tôi bỏ cả buôn bán mà chạy xuống dưới Ấp Thái Hà t́m đến đền thờ của ông Thầy cúng của Ấp để nhờ giúp đỡ.
Sau khi làm những thủ tục cúng vái, ông thầy giao cho tôi một đạo bùa và nói rằng:
- Nhà chị đem đạo bùa này về Sơn Tây, đúng tám giờ tối hôm nay, mang đạo bùa này ra nơi ngôi mộ của cụ rồi đào đất tại một góc mộ, chôn đạo bùa này là xong, năm sau cụ sẽ không c̣n về bắt cô con dâu nào nữa.
Mẹ tôi nói tiếp:
- Buổi chiều hôm đó, tôi đă về Phố Gạch vào lúc sáu giờ chiều, tôi không vào làng mà tạt vào nhà Thím Sáu (người vợ thứ hai của em ruột bố tôi) ở ngoài chợ.
Tôi kể cho thím Sáu anh nghe những lời ông thầy nói cho nên thím Sáu đă đồng ư với tôi, chờ đến tám giờ tối hai chị em tôi ra nghĩa trang chôn đạo bùa tại ngôi mộ bà nội anh.
Công việc làm xong tôi về ngay Hànội, nên trong làng không một ông bà nào biết hai chị em tôi vừa ra mộ cụ để yểm bùa, cũng kể từ ngày chôn đạo bùa, bà Nội anh đă không về bắt tôi hay bắt thím Sáu là những người con dâu c̣n lại của cụ nữa".
Nghe xong câu chuyện “Thần Trùng” mà mẹ tôi vừa kể, tôi lại chợt nhớ đến người anh Cả của tôi, tên là Ngô Hán Đỉnh chết khi vừa được 15 tuổi, cũng đă có lần “về thăm chúng tôi” nên tôi hỏi:
- Mẹ làm con nhớ lại hồi năm 1945 trong ngày giỗ đầu của anh Đỉnh, lúc đó mẹ có nói đến đêm hôm mẹ cúng cơm anh Đỉnh, anh ấy có về thăm mẹ và chúng con có phải không?
- Ừ đúng đấy, anh làm tôi cũng nhớ lại câu chuyện này.
- Vậy mẹ kể lại cho chúng con nghe đi.
Mẹ tôi yên lặng một chút như nhớ lại dĩ văng rồi bà kể:
- Như anh biết, anh Đỉnh sau khi đi học về đă ra tắm sông, khi trở về nhà anh Đỉnh bị lên cơn sốt, người anh nóng có lúc lên đến 40 độ, nhờ D́ Thoa của anh là Y Tá Trưởng của Bệnh viện Cống Vọng cho nên tôi đă đưa được anh Đỉnh vào điều trị tại đây.
Sau khi khám nghiệm, Bác sĩ Tây (người Pháp) cho biết anh Đỉnh bị bệnh thương hàn trong lúc đó thuốc của nhà thương chỉ c̣n vài ba mũi, và được bệnh viện dành cho bệnh nhân người Pháp, như vậy th́ anh Đỉnh không qua khỏi v́ bệnh viện thiếu thuốc.
D́ Thoa đă yêu cầu bệnh viện cho một mũi, nếu sau mấy giờ có thuyên giảm th́ sẽ tiếp tục chích để cứu sống, c̣n không “không nên phí thuốc”.
Sau một mũi thuốc, nhiệt độ cơ thể chỉ có tăng mà không thấy giảm cho nên mấy giờ sau Bác sĩ trưởng pḥng đă quyết định không chích thêm thuốc cho nên anh Đỉnh đă chết vào hai ngày sau, anh c̣n nhớ chuyện này không?
- Dạ con nhớ, con có vào thăm anh trước khi anh chết tại bệnh viện Cống Vọng, ngày đó D́ Thoa có uy tín với những người Pháp lắm.
- Đúng đấy nhưng anh Đỉnh “vắn số”, mũi thuốc đầu tiên không công hiệu cho nên mẹ chết cả nửa người khi anh tắt thở trên tay mẹ.
- Rồi sao nữa, mẹ kể con nghe đi.
- Ngày giỗ đầu của anh Đỉnh, chiều hôm trước mẹ có làm mâm cơm cúng anh, đêm đến pḥng ngoài ở trên gác chỉ có bố anh, chị Phượng, anh, chú Sơn và cô Loan nằm ngủ trên sàn nhà trước bàn thờ các cụ và bàn thờ anh Đỉnh.
Pḥng cầu thang lên gác tôi và cô Yến (em út của tôi) nằm v́ Yến cũng mới có ba tuổi. Lúc nửa đêm tôi trằn trọc không ngủ được, tôi nh́n ra cửa sổ, xa xa có những con đom đóm lập ḷe, trong đó tôi thấy có một con đom đóm lớn, sáng như một v́ sao cùng bay trong đám đom đóm này.
Không biết anh có nhớ không, lúc đó phía sau nhà ḿnh có mấy căn nhà, rồi tiếp đến là những ruộng rau muống và mấy thửa ruộng trồng ngô; mấy căn nhà này có nuôi chó, trong đó có một con chó mực.
Khi đám đom đóm đến gần, tôi thấy bầy chó “hực” lên rồi tôi nghe tiếng sủa của cả bầy chó phía sau nhà. Tiếng chó sủa mỗi lúc một dữ dội lẫn trong đó là tiếng “ư ử” đầy sợ hăi của nhửng con chó nhỏ.
Tôi ngồi dậy ra mở rộng cửa sổ để coi xem có kẻ trộm nào vào nhà hay không, v́ nhà ḿnh cũng đă mấy lần bị trộm thăm viếng. Bất chợt tôi thấy con đom đóm lớn tách bầy và bay thẳng về phía tôi, tuy có sợ hăi nhưng v́ chỉ c̣n nghe có một tiếng con chó mực sủa mà thôi, cho nên tôi linh cảm rằng anh Đỉnh về thăm nhà. Khi con đom đóm c̣n cách của sổ chừng vài thước, tôi nói:
- Phải Đỉnh đấy không con, ngày mai là ngày giỗ con, con về thăm bố mẹ và các em phải không? Nếu đúng th́ con vào đây với mẹ...
Anh biết không, con đom đóm đúng là linh hồn của anh Đỉnh, anh đă bay vào trong pḥng qua cửa sổ chỗ tôi đang đứng, ánh sáng lân tinh đă rà sát mặt tôi, tôi muốn giơ tay ôm lấy nó, nhưng không được, trong lúc đó tiếng sủa của bầy chó đă tắt hẳn, tôi mới nói:
- Bố và các em ở pḥng ngoài, anh ra thăm bố và các em đi, sau khi nói tôi đi ra pḥng ngoài th́ bóng sáng bay theo tôi, tôi thấy “linh hồn” anh qua ánh sáng lân tinh của con đom đóm đă rà sát mặt từng người một, lúc đó bố anh cũng như cô Phượng (Pháp Danh Nguyên Hoa, quá văng năm 2004 tại Linh Sơn Tự Melbourne), chú Sơn (Cựu phó Hiệu Trưởng Trường Đại Học Sư Phạm Hànội) và anh đều thức giấc, chỉ có cô Loan (chết năm 1980 tại Hànội, chồng là Giáo Sư Sử Học Trần Quốc Vượng) là c̣n ngủ.
Bố anh nói:
- Con về thăm nhà bố mẹ mừng, thôi âm dương cách trở con nên về đi th́ hơn.
Sau câu nói của bố anh, con đom đóm đă bay lên bàn thờ gia tiên và bàn thờ của anh Đỉnh, rồi bay một ṿng khắp pḥng ngoài lại trở vào pḥng trong, đến giường cô Yến (hiện là giáo viên tại Hải Pḥng) đang ngủ, đảo vài ṿng v́ cửa màn tôi gài kỹ, cuối cùng anh bay vọt ra của sổ đúng lúc này tiếng con chó mực lại hực lên coi dữ dằn lắm.
Tôi nh́n theo bóng anh cho đến khi khuất dạng cũng là lúc cả nhà thức giấc chờ sáng, anh c̣n nhớ câu chuyện này mà?
- Dạ con c̣n nhớ lúc đom đóm vờn trên mặt con, con nghe lạnh xương sống, nhưng khi bố nói với anh Đỉnh, con thấy vững tâm v́ không phải là ma đang nhát con.
- Đúng đấy người ta khi chết đi, thân xác tan rữa nhưng linh hồn th́ vẫn c̣n tồn tại măi măi trong không gian vô tận phải không anh?
Chấm dứt câu chuyện của gia đ́nh của chúng tôi, tôi hy vọng nếu có ai muốn t́m hiểu về con người với “xác phàm và linh hồn” quư bạn sẽ có thêm tài liệu để nghiên cứu, mong lắm thay.
Hổ Cáp
Ngô Duy Lâm
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1152 of 2534: Đă gửi: 11 December 2008 lúc 11:21am | Đă lưu IP
|
|
|
BỊ CHÔN SỐNG 40
NGÀY KHÔNG CHẾT
Theo một bài báo trên tờ London Telegraph năm 1880, một người đàn ông được chôn trong t́nh trạng đă chết suốt bốn mươi ngày nhưng vẫn sống sót. Không hề có dấu hiệu lừa bịp, vậy giáo sĩ này đă làm như thế nào?
Năm 1837 đích thân nhà vua Ranjeet Singh đă yêu cầu Haridas, một giáo sĩ Hồi giáo người Ấn Độ chứng minh khả năng trở về từ cơi chết sau một thời gian nằm dưới đất.
Trước sự chứng kiến của nhà vua và các quan lại trong triều, Haridas rơi vào trạng thái hôn mê chỉ trong một thời gian ngắn. Tướng Osborn, một nhân chứng lúc bấy giờ kể lại:
- Khi mọi dấu hiệu của sự sống đă tắt, người ta trói tay của Haridas và khóa lại, tiếp đến họ quấn một tấm vải lanh có dấu triện của nhà vua lên người ông ấy.
Sau đó thi thể được đặt vào trong một chiếc rương lớn, đưa ra ngoài thành phố và chôn trong ngôi vườn của một giáo sĩ.
Người ta xây tường quanh địa điểm chôn sau khi đă rắc lúa mạch xung quanh và cử lính canh gác suốt ngày đêm”.
Sau bốn mươi ngày ngôi mộ được đào lên. Dù hơi lạnh, nhưng cơ thể Haridas vẫn như trước đó bốn mươi ngày. Sir Claude Wade, một nhân chứng thứ hai cho biết:
- Chiếc vải lanh quấn trên người Haridas mốc meo như thể nó đă nằm dưới đất lâu lắm rồi. Chân tay ông ấy nhăn nhúm và cứng đờ, đầu nghiêng sang một bên vai y hệt một xác chết.
Tôi yêu cầu thầy thuốc bắt đầu làm công việc kiểm tra của ḿnh, ông ta cho biết không phát hiện thấy nhịp đập của tim hay mạch ở tay và chân, duy nhất khu vực năo là có hơi ấm.
Người hầu bắt đầu tắm cho Haridas bằng nước nóng, sau đó cho một chút bơ sữa trâu vào miệng ông ấy. Một vài phút sau đồng tử của Haridas giăn ra, Haridas ngồi dậy và nhận ra nhà vua đang ngồi cạnh ḿnh. Ông thốt lên:
- Giờ nhà vua đă tin tôi chưa?
Khỏi phải nói nhà vua khâm phục Haridas đến mức nào, ngài đă tặng Haridas rất nhiều quà trong đó có một chuỗi ngọc trai, ṿng vàng, gấm vóc những bổng lộc thường chỉ dành cho các quan lại được đặc biệt trọng vọng.
LÀM THẾ NÀO HADRIAS CÓ THỂ SỐNG SÓT SAU BỐN MƯƠI NGÀY?
Từ lâu người ta tin rằng các giáo sĩ Hồi giáo, pháp sư và những người luyện yoga có thể kiểm soát cơ thể mà chỉ cần dùng tâm lực.
Theo các ghi chép năm 1925 Tahra Bey, một người đàn ông Ai Cập có khả năng tăng nhịp đập của tim lên 140 nhịp một phút, và giảm xuống c̣n 40 nhịp một phút, đôi khi có thể làm cho tim ngừng đập hoàn toàn.
Năm 1974 một nhà ảo thuật đến từ Togo được chôn trong một quan tài, sau đó người ta xây mộ kiên cố bên trên.
Khi người xem bắt đầu sợ hăi và yêu cầu các nhà chức trách mở quan tài, nhà ảo thuật vẫn b́nh an vô sự. Người này cho biết bí mật của ḿnh là luyện ngồi thiền lâu trong ḷng đất.
Hadrias tiết lộ ông đă tiến hành thanh lọc hệ thống tiêu hóa và chỉ uống một chút ít sữa mỗi ngày trước khi thực hiện màn biểu diễn.
Vào ngày được chôn, ông nuốt một miếng vải lanh sau đó rút ra ngay lập tức để “lau sạch” bụng. Nhờ những bí quyết trên và khả năng ngồi thiền sâu đă giúp Hadrias sống sót sau bốn mươi ngày.
Một lần khác, Hadrias được chôn trong thời gian bốn tháng, nhưng lần này người ta cạo râu của ông trước khi chôn.
Đến khi đào lên, cằm vị tu sĩ vẫn nhẵn thín như ngày ông được chôn, điều này chứng tỏ khả năng ngừng sống của con người là có thể.
Environmentalgraffini
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1153 of 2534: Đă gửi: 11 December 2008 lúc 11:53am | Đă lưu IP
|
|
|
HUYỀN THOẠI THẤT SƠN VÀ
VỊ ĐẠO SĨ CUỐI CÙNG
Giết được con rắn hổ mây, ông Ba Lưới, vị đạo sĩ cuối cùng trên núi Thất Sơn, h́ hục đào một cái hố lớn và... chôn cất tử tế. Đây là con rắn lớn nhất mà ông từng được chạm mặt. Ông bảo cuộc đời tu luyện của ông trên đỉnh Núi Cấm này gặp hàng chục con rắn khổng lồ.
Thất Sơn vùng đất kỳ bí nhất của miền đồng bằng Nam Bộ, đă dệt nên vô số những câu chuyện truyền thuyết kỳ bí về những đạo sĩ, những nhân vật mai danh ẩn tích, luyện vơ, học đạo cứu giúp người nghèo khổ. Bây giờ trên dăy Thất Sơn chỉ c̣n lại vị đạo sĩ cuối cùng tuổi đă gần chín mươi, lặng lẽ với nghề bốc thuốc cứu người.
Thất Sơn có nghĩa là Bảy Núi, thuộc huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, người dân miền Tây cũng quen danh từ Bảy Núi. Núi Cấm là một trong bảy ngọn núi thuộc dăy Thất Sơn, v́ sao gọi là Núi Cấm th́ có rất nhiều giả thiết, có người kể lại rằng:
Nguyễn Ánh khi bị quân Tây Sơn truy nă có lúc phải vào núi này để chạy trốn, thao luyện binh mă, để tung tích không bị tiết lộ, các cận thần họ Nguyễn đă cấm dân chúng vào núi.
Người th́ kể rằng:
Có một đạo sĩ có tên Đơn Hùng Tín, thuở làm tướng cướp đă dùng nơi này làm sào huyệt, do đó, ông cấm người dân bén mảng tới.
Lại có người cho là Phật thầy Tây An, người khai sinh ra Bửu Sơn Kỳ Hương đạo, đă cấm các tín đồ của ḿnh lên núi cất nhà ở, Phật thầy sợ có người ăn ở sẽ làm ô uế núi non.
Theo học giả Nguyễn Văn Hầu, tác giả cuốn “Nửa tháng trong miền Thất Sơn”: Đơn Hùng Tín chính là người bắt đầu cho truyền thuyết đạo sĩ trên đỉnh Thiên Cấm Sơn.
Đơn Hùng Tín tên thật là Lê Văn Tín, gốc ở rạch Cái Sao, làng Nhị Mỹ, quận Cao Lănh. Cuộc đời giang hồ của Đơn Hùng Tín từng ngang dọc từ Xiêm Riệp tới Mỹ Tho, người đương thời không mấy ai không biết tiếng.
Hồi nhỏ Tín là tá canh cho một điền chủ, bất b́nh trước cảnh tá điền, điền chủ nên bỏ xứ ra đi. Thiếu thời Tín đă nuôi chí làm “anh hùng” để trừ các tay điền chủ khắc nghiệt.
Trên quăng đường phiêu bạt Tín học vơ thuật và đạo thuật, sau Tín chiêu nạp anh em cùng nhau đi cướp của người giàu chia cho người nghèo.
V́ tấm ḷng hiệp nghĩa đó người trong vùng thường gọi Tín là Luông Tín (Vua Tín). Năm 1926 có tin Đơn Hùng Tín bị mật thám Pháp bao vây và bắn chết tại Mỹ Tho, nhưng đệ tử của Tín nói rằng:
Đó không phải là Đơn Hùng Tín mà chỉ là một kẻ mạo danh. Đơn Hùng Tín nhận ra con đường ḿnh chọn là sai lầm, từ đó ông giải nghệ và đi tu. Người khai hoang đầu tiên trên Núi Cấm không phải là đạo sĩ Đơn Hùng Tín.
Vào những năm 1850 thầy Đoàn Minh Huyên, người đời sau c̣n gọi là Phật thầy Tây An đă cùng với rất nhiều môn đệ đặt những bước chân đầu tiên lên đỉnh Núi Cấm.
Phật thầy đă thực hiện giáo lư tự tu tự độ, hướng dẫn môn đệ khai hoang nhiều nơi ở miệt An Giang, Núi Cấm là một vùng trong số đó.
Ban ngày các tín đồ đi khai hoang đêm về th́ lễ bái, niệm Phật tham thiền. Theo tinh thần vô vi, nhập thế, tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương dù xuất gia cũng vẫn phục sức như người thường và tự làm lấy để sống mà tu.
Tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương nhiều người đă tuân theo thuyết nhập thế ấy, ḥa với chúng sinh để giúp đời.
Phật thầy Tây An có hai đại đệ tử là cụ Đ́nh Tây và cụ Tăng Chủ, hai cụ có đức lớn đạo pháp uyên thâm, vơ dũng phi thường.
Có một truyền thuyết về cụ Tăng Chủ thế này:
Cụ Tăng vơ nghệ rất giỏi, h́nh vóc cao lớn miệng rộng, tai dài tiếng nói sang sảng. Ông có tài áp phục thú dữ, có lần ông Tăng Chủ một ḿnh cầm mác rượt... cọp, khi đánh con cọp bất tỉnh, ông không giết mà lại thả cọp về rừng, từ đó, con cọp cũng “tu” và không dám bén mảng tới khu dân ở.
Năm 1911 người ta thấy xuất hiện tại sườn Núi Cấm một thảo am và một đạo sĩ lực lưỡng, khoác áo tràng đen, chân đất đầu búi tóc, ngày hai buổi ngồi thiền nhưng đêm đêm vẫn mài gươm luyện vơ, người này xưng danh là Bảy Do.
Lâu dần người người kéo về quy phục rất đông. Đạo sĩ Bảy Do cho dựng lên một ngôi chùa lớn, lấy tên là Nam Cực Đường. Chỉ trong một thời gian ngắn Nam Cực Đường thu phục hàng ngàn đệ tử.
Cụ Bảy Do vốn là người yêu nước và Nam Cực Đường đă trở thành tổng hành dinh của một tổ chức kháng chiến chống Pháp. Sau này Pháp gài mật thám giả làm bổn đạo.
Năm 1917 Pháp đem quân bao vây Nam Cực Đường, đạo sĩ Bảy Do bị bắt cùng với hơn chục môn đệ. Ông bị kết án và giam tại khám lớn Sài G̣n, rồi bị phát lăng tại Côn Lôn. Đạo sĩ Bảy Do đă cắn lưỡi tử tiết vào năm 1926 khi đó ông mới bốn mươi lăm tuổi.
Trên đỉnh Thiên Cấm Sơn có ngôi chùa Phật Lớn nổi tiếng linh thiêng, ngày thường phật tử khắp nơi về lễ lạt rất đông. Đường từ chân lên đỉnh Thiên Cấm Sơn có thể nói là con đường chông gai nhất miền Tây, đồi dốc không chỉ thoai thoải mà hầu hết là dựng đứng, không ít đá hộc chắn ngang đường.
Từ ngày xưa, khách hành hương lên chùa Phật Lớn phải đi mất hai ngày, ngày đi ngày về. Chỉ có người trong vùng mới dám chạy xe, người lạ không tài nào dám chạy xe lên xuống Núi Cấm.
Đường từ chân lên tới đỉnh Núi Cấm đi đường xe hết khoảng 10 cây số nhưng các bác tài “hét” giá 60 đến 70 ngh́n. Giá cả “đắt đỏ” như thế nhưng khách vẫn gọi xe đông nườm nượp. Một ngày mỗi bác tài chỉ cần một khách cũng kiếm được hơn 50 ngh́n.
Hỏi về các vị đạo sĩ, giới xe Núi Cấm có thể thao thao bất tuyệt hàng giờ. Anh xe tên Ba chở chúng tôi leo đỉnh Thiên Cấm Sơn quả quyết rằng:
Hiện giờ đạo sĩ trên đỉnh Cấm Sơn chỉ c̣n lại duy nhất một người: ông Ba Lưới, những người c̣n lại hầu hết là từ nơi khác đến, không th́ cũng chỉ là mạo danh đạo sĩ để làm những chuyện thương thiên hại lư. Anh khuyên chúng tôi nếu muốn biết tường tận về các đạo sĩ, phải gặp cho được đạo sĩ Ba Lưới.
Vị Đạo Sĩ Cuối Cùng Và Nỗi Buồn Nhân Thế.
Đạo sĩ Ba Lưới ngồi trước mặt chúng tôi trong căn nhà gỗ nhỏ chênh vênh bên suối, một cụ già râu tóc bạc phơ, mặc áo nâu sồng, đầu quấn khăn rằn, 88 tuổi nhưng đôi mắt vị đạo sĩ già này vẫn c̣n tinh anh lắm.
CAND
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1154 of 2534: Đă gửi: 12 December 2008 lúc 1:21am | Đă lưu IP
|
|
|
TÀU TITANIC BỊ BÙA
CHÚ MÀ CH̀M
Tháng ba năm 1912 một công ty vận tải biển Anh quốc đầu tư đóng một con tàu khách to lớn nhất thế giới lúc bấy giờ, tàu Titanic.
Tàu này có trọng tải 46.328 tấn, là tàu khách duy nhất trên thế giới bấy giờ có tải trọng vượt quá bốn vạn tấn. Tàu dài 159m, chổ rộng nhất 28m. Phần lái tàu nặng trăm tấn, tất cả có ba chân vịt, cái giữa nặng nhất hai mươi hai tấn.
Trong tàu có lỗ buồng dự pḥng nước, được tạo bởi những pḥng kín. Những pḥng đó có thể dùng máy chạy điện hoặc sức người để giăm đến mức thấp nhất độ nguy hiểm khi bị ṛ nước. Nói cách khác trong
mười sáu buồng đó, nếu ngập nước vài pḥng th́ con tàu vẫn vô sự.
Tàu Titanic vượt xa tiêu chuẩn quốc tế về mức độ sang trọng của vũ trường, quầy bar... Các thiết bị đều thuộc loại xa xỉ nhất. Trong khoang hành khách có những đèn chùm sang trọng, sàn pḥng trải bằng thảm đó Apganistan dày, bằng len thật.
Ngay cả trần pḥng cũng khiến cho người ta không thể rời mắt v́ những bức trang trí thanh thoát, nhă đạm. Khách có thể ngồi bất cứ chỗ nào, ngẩng đầu lên, thời gian rất lâu cũng vẫn thoải mái trong tư thế đó. Tàu Titanic đúng là một cung điện ngọc trên biển.
Tàu chạy từ Anh sang New York, thời gian dự định là bảy ngày, trên tàu có tất cả 2208 hành khách lẫn thuyền viên.
Tàu xuất phát từ Anh đă sang ngày thứ năm, tức 14/4 tàu vẫn hành tŕnh với tốc độ cao, hai mươi ba hải lư một giờ. trên Đại Tây Dương, lúc 11h40' đêm, bỗng tàu bị va vào tảng băng trôi, phát ra một tiếng kêu ghê rợn, tiếp đó, toàn thân tàu lắc lư mạnh, nước trong xô chậu té ra sàn tàu.
Tiếng kính vỡ pha lẫn tiếng người kêu cứu thảm thiết, trên tàu bao trùm một nỗi kinh hoàng. Dọc hành lang, trên boong tàu, hành khách chen chúc nhau t́m đường tháo thân, trên tàu trở nên hỗn loạn.
0h15' đêm tàu phát tính hiệu SOS, đến 0h45', sau khi tín hiệu phát đi, xuồng cứu hộ được thả xuống. Hành khách phát điên tranh nhau xuồng cứu hộ.
Nhưng mật ít mà ruồi lại nhiều, chỉ có hai mươi chiếc tàu cứu sinh, thế là đàn ông quyết định nhường cho phụ nữ và trẻ em, c̣n họ th́ tự nguyện ở lại trên tàu.
Thuyền trưởng smith cũng ở trên tàu cùng những người đàn ông khác. 2h20' con tàu tự xưng là tàu không ch́m đă đem theo 1513 người chôn xuống đáy đại dương.
Lúc tàu ch́m, mặt biển cuộn thành ḍng xoáy lớn, nhưng chỉ một lát sau th́ biến mất như chưa từng xảy ra bất cứ việc ǵ.
Chỉ có 695 người được cứu sống, một con số chỉ chiếm 1/3 số người trên tàu. Trên thực tế, trước lúc tàu Titanic ch́m, đă có nhiều tiên đoán vụ ch́m tàu xảy ra.
Lúc đó một nhà buôn nổi tiếng của Anh, ngài John, v́ một thương vụ phải đi Mỹ, khó khăn lắm mới t́m mua được một vé tàu Titanic, đó là việc của ngày 23-3-1912. Khi đó chuyến khởi hành đầu tiên của tàu Titanic đă làm xao động trong xă hội, kiếm được một vé tàu thật không dễ chút nào.
Nhưng trước khi khởi hành mười ngày, John đă hai đêm liền gặp cùng một cơn ác mộng. Ông mơ thấy tàu Titanic bị ch́m xuống biển. Rất nhiều trẻ em và người lớn bị vứt ra biển. Ông bị giấc mơ ám ảnh riết, cảm thấy không yên tâm cuối cùng đă hủy bỏ chuyến đi.
Mục sư Morgan ở thành phố Viniper Canađa cũng mơ thấy ác mộng, một tàu lớn đang ch́m xuống biển. Chiều hôm xảy ra tai nạn, mục sư Morgan đă suy nghĩ rất nhiều về nội dung buổi chiều tối, lúc quá mệt đă ngủ thiếp đi.
Ông mơ thấy một cảnh tượng đáng sợ, một chiếc tàu khổng lồ đang đi trên biển bỗng nhiên trời tối sập, sương mù dày đặc, trong sương mù chiếc tàu va vào núi băng. Trên boong tàu đầy những người gào thét kêu cứu. Cuối cùng chiếc tàu khổng lồ đó ngả nghiêng rồi ch́m xuống biển.
Sau khi tàu Titanic ch́m toàn thế giới xôn xao, đă đủ các lời tiên đoán được đưa ra. Trong đó nổi tiếng nhất là lời nguyền của xác ướp Ai Cập.
Vào trước sau năm 1900, các nhà khảo cổ khai quật một mộ cổ Ai Cập, phát hiện thấy một quan tài đá. Trên quan tài có khắc lời nguyền như sau: "Tất cả những người đụng phải quan tài này sẽ gặp nạn"
Nhưng những nhà khảo cổ nhiệt t́nh không để ư đến những lời nguyền đó, vẫn cứ mở nắp quan tài. Trong áo quan có xác ướp cổ ngàn năm tuổi vẫn nằm đó.
Lúc bấy giờ xác ướp và quan tài đều được chuyển sang Anh quốc được đưa vào viện bảo tàng cho dân chúng xem.
Nhưng chẳng bao lâu th́ nhà khảo cổ này chết một cách không rơ ràng. Về sau các nhà khảo cổ từng tham gia vụ đó đều lần lượt chết một cách mờ ám. Thế là bảo tàng quyết định dời quan tài và xác ướp đến chỗ dân chúng không nh́n thấy, để tránh những người tham quan ṭ ṃ muốn xem.
Sau mười năm, một nhà kinh doanh giàu có người Mỹ đă đề nghị viện bảo tàng bán cho ông cả quan tài đá và xác ướp. Ông đă được toại nguyện.
Khi vận chuyển chúng về Mỹ th́ vừa may gặp tàu Titanic chạy chuyến đầu tiên. thế là ông đưa xác ướp và quan tài đá lên tàu sau khi chạy vạy mua được tấm vé.
Nhưng lúc đó không ai chú ư tới, cuối cùng lời nguyền khắc trên quan tài đá, tất cả những người gặp phải quan tài đá đều gặp nạn, không ai ngờ nạn đó là bị nước biển nhấn ch́m.
nguyenhuynhduc
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1155 of 2534: Đă gửi: 12 December 2008 lúc 1:08pm | Đă lưu IP
|
|
|
CẢ THẾ GIỚI ĐEO BÙA
Một điều hết sức lạ lùng là Đông cũng như Tây, cổ cũng như kim, văn minh hay mông muội, da vàng hay da trắng, da đỏ hoặc da đen, đàn ông hoặc đàn bà…dân tộc nào trên thế giới cũng đều có…bùa.
Tôn thờ ở một đấng Thần linh, mà dường như sự phát triển của khoa học và sự nghiêm khắc của giáo dục vẫn không thể nào hạ gục được, người ta cho rằng nếu trong người có một vật ǵ để làm tin th́ sẽ được Thần linh phù hộ.
Vật làm tin ấy gọi là Bùa. Nhân loại làm bùa, không phải từ thời Trung cổ mà từ thời tiền sử, sống trong hang đá. Bởi vậy bùa...nhiều vô kể.
Chất liệu làm bùa phong phú vô cùng. Lúc đầu là những vỏ ṣ, vỏ hến có h́nh dạng đặc biệt, rồi bằng đất sét nung, bằng giấy, bằng vải, bằng kim loại, bằng đá quư kể cả kim cương, bằng răng báo, vuốt hổ, ngà voi..
H́nh dạng khác nhau, màu sắc khác nhau tuỳ thuộc vào tôn giáo hoặc nền văn hoá. Bùa các nước Trung Đông xưa có khắc những câu thần chú khó hiểu, như acabradacabra chẳng hạn..
Hoặc những câu trích từ thánh kinh, các h́nh vẽ kỳ quặc có tính chất biểu tượng, ví dụ con bọ hung tượng trưng cho sự tái sinh, con ếch tượng trưng cho lắm con nhiều cháu, chiếc móng ngựa tượng trưng sự may mắn.
Ở châu Phi bùa c̣n là những chiếc túi nhỏ bằng thổ cẩm, hoa văn đẹp trong đó đựng các cây thuốc, các lá thiêng.
Thật thú vị trường Đại học Freiburg Đức, có một bảo tàng bùa nho nhỏ, dành riêng cho một chuyên đề hẹp, trưng bày hàng ngh́n lá bùa Ai Cập, mà cổ nhất là những bùa bằng đất nung làm từ thế kỷ mười hai trước Công nguyên. Nhiều loại t́m thấy khi khai quật các Kim tự tháp.
Quyền lục của bùa là đại diện của Thần linh, bùa được gán cho biết bao nhiêu là tác dụng. Nó bảo vệ con người, tránh đủ mọi thứ rủi ro bất hạnh: tai nạn, bệnh tật, sự quấy nhiễu của ma quỷ và đôi khi c̣n có tác dụng chữa bệnh nữa.
Phổ biến nhất là xua đuổi tà ma. Trước đây nhà có tang, nhất thiết phải mời các thầy phù thuỷ cao tay về, vẽ những lá bùa phù phép vào, rồi đưa gia chủ treo trên khung cửa để “trấn”, không cho lũ ma vô h́nh có lối vào nhà.
Trẻ con được một lá bùa thầy cấp, đeo trên khuyết áo là yên tâm, không sợ bị ma quỷ nhập làm lẩn thẩn ốm đau. Đi trận tiền có bùa hộ mệnh trên ḿnh th́ “đạn tránh người chứ người không cần tránh đạn”.
Có lẽ hiện nay trong hoàn cảnh các lái xe lái bừa lái ẩu, đường chật người đông, có rất nhiều vị ngồi trên ô tô thủ sẵn một lá bùa kiểu này trong ví.
Không chỉ ta thôi đâu nhé báo chí đăng: Vận động viên nổi tiếng người Đức Michael Schumacher, nhà vô địch đua ô tô Công thức một của thế giới, cương quyết đeo bùa khi thi đấu, bất chấp lệnh cấm của Liên đoàn đua xe ô tô thế giới FIA.
Anh tâm sự: Đó là chiếc bùa mà anh được vợ là Corinna trao cho, sau khi bị găy chân trên đường đua Silvestone vào năm 1999. Kể từ đó anh liên tục đoạt chức vô địch. Chẳng phải là bùa mang cho anh may mắn đó sao?
Đến một số chùa cúng tiền vào ḥm công đức, bạn sẽ được các vị sư trụ tŕ tặng lại một lá bùa bằng hai ngón tay, ép plastic cẩn thận để bạn đặt trên túi áo ngực.
Họ bảo bạn sẽ luôn luôn có quư nhân phù trợ. Sang Lào và Thái văn cảnh chùa, bạn sẽ được hoà thượng đeo vào cổ tay một sợi dây, rảy nước và dặn cứ để vậy măi. Bùa đấy.
Song bùa không chỉ bảo vệ con người, mà c̣n bảo vệ tài sản và những con vật nuôi trong nhà. Người ta tin rằng dán bùa nơi chuồng gà vịt, chuồng trâu ḅ, chúng sẽ không bị bệnh.
Dán bùa trước cửa nhà (dân A-rập không dán mà chôn) chúng sẽ được bảo vệ khỏi cháy và ngập lụt. Bùa chống được Thần Dịch, Thần Lửa, Thần Nước, người ta tin thế.
Tuy nhiên ở đâu cũng vậy, bùa chỉ thiêng sau khi được phù phép, tức là được Thần linh thừa nhận. Nếu không, nó chỉ là một vật vô tri không có ư nghĩa ǵ. Đó là chưa kể có loại bùa c̣n phải luyện theo một quy tŕnh công nghệ bí truyền nào đó.
dep.com
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1156 of 2534: Đă gửi: 12 December 2008 lúc 3:42pm | Đă lưu IP
|
|
|
LINH CẢM KHẢ NĂNG
ĐẶC BIỆT
Một câu chuyện có thật kể rằng Alech là một nhân viên thuộc một trong những trường Đại học tổng hợp bang Ogeron Mỹ. Một hôm anh ta ngồi ở nhà lau chùi thật kỹ khẩu súng ngắn với băng đạn chứa được sáu viên.
Khẩu súng của anh ta hoạt động như sau. Mỗi lần ấn c̣ súng một viên đạn được bắn đi, c̣n băng đạn sẽ tự quay và dịch chuyển viên tiếp theo lên ṇng súng để sẵn sàng nhả đạn.
Để cẩn thận và an toàn, Alech bao giờ cũng chỉ lắp năm viên đạn vào hộp đạn, và để kim hỏa hướng vào ô trống thứ sáu trong hộp đạn.
Vào ngày hôm đó khi lau súng, anh ta rút hết năm viên đạn để lên bàn. Sau khi lau súng xong, Alech lắp đạn trở lại vào hộp đạn như thường lệ. Nhưng khi đến viên thứ năm, anh ta bỗng cảm thấy một nỗi lo lắng bất chợt ập đến, và Alech linh cảm thấy một hiểm nguy nào đó liên quan đến viên đạn thứ năm này.
Alech liền để lại viên đạn thứ năm đó lên bàn và không lắp nó vào hộp đạn. C̣n kim hỏa vẫn hướng vào ô trống số sáu trong hộp đạn. Và lần này trong hộp đạn có hai ô trống: ô thứ sáu và ô thứ năm bên cạnh.
Hai tuần sau đó gia đ́nh Alech có một cuộc vui lớn với đông đủ quan khách, trong số đó có hôn thê chưa cưới của Alech. Cuộc vui đang tiến triển th́ bỗng nhiên có hai vị khách nốc quá nhiều rượu rồi tranh căi nhau kịch liệt.
Một trong hai người vớ lấy khẩu súng của chủ nhà treo trên tường và chĩa về phía đối thủ, nhưng ngay lúc đó vị hôn thê của Alech bỗng nhiên đi lại chắn ngang đường ngắm. Alech nhảy chồm tới dùng thân ḿnh che chắn cho cô.
Một phát bóp c̣ vang lên khô gọn nhưng không có đạn. Một cú bóp c̣ thứ hai tiếp theo, nhưng kim hỏa cũng chỉ nhằm vào ô trống mà hai tuần trước đó Alech đă không lắp đạn như thường lệ. Thế là mọi người kịp giằng lấy khẩu súng và Alech thoát nạn.
Những trường hợp linh cảm thấy mối nguy hiểm như vậy cách xa nhau về thời gian không phải là hiếm, và từ lâu đă được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Có nhiều cách giải thích hiện tượng này, nhưng xem ra có ba cách có cơ sở nhất.
Khi mối nguy hiểm được cảm thấy vài phút hoặc vài giây, có các tác nhân kích thích trong hệ thống nhận thức của con người liền phát tín hiệu báo động. Chúng ta không nhận thấy điều đó, nhưng bộ năo ghi nhận được và khiến chúng ta né tránh không có ư thức.
Phương án thứ hai: Những linh cảm tương tự xuất hiện trong chúng ta không hiếm, nhưng chúng ta chỉ nhận thấy khi sự việc đă bỗng nhiên nhớ lại những tín hiệu đă từng báo động cho ḿnh nhưng không để ư.
Tuy nhiên, nhà tâm lư học Raydin ở Anh cho rằng con người chúng ta thực sự có giác quan thứ sáu, nhiều khi cứu chúng ta thoát nạn. Ông đă tiến hành một loạt thí nghiệm chứng tỏ linh cảm là có thật.
Những người thí nghiệm được ngồi trước một màn h́nh trên đó chương tŕnh máy tính điều khiển để thể hiện ngẫu nhiên các bức ảnh khác nhau.
Một số bức có tính vô hại như cảnh vật tĩnh lặng, một số bức khác có tính rùng rợn gây cảm giác sợ hăi như cảnh các con rắn độc hoặc ḅ cạp độc.
Các bức ảnh hiện ra trong ṿng ba giây. Khoảng lặng giữa các bức ảnh là tám giây. Trong quá tŕnh thí nghiệm, các chuyên gia đo điện trở của da và áp lực của ḍng máu.
Thí nghiệm được tiến hành trong một căn buồng cách ly, không có mặt các chuyên gia ở đó. Kết quả thí nghiệm ban đầu thoạt nh́n th́ không có ǵ đáng ngạc nhiên.
Khi các bức ảnh rùng rợn xuất hiện th́ các đường cong phản ánh trạng thái sinh lư của cơ thể có đột biến.
C̣n khi xem các bức ảnh tĩnh lặng th́ các đường cong cũng điều ḥa. Nhưng nếu xem kỹ một chút th́ thấy ngay một hiện tượng rất thú vị.
Ngay trước khi xuất hiện các bức ảnh rùng rợn khoảng hai giây, các chỉ số trạng thái tâm lư bỗng tăng vọt. Nghĩa là cơ thể con người đă phản xạ từ trước đối với các sự kiện.
Thí dụ, điện trở của da tăng vọt, chứng tỏ cơ thể đă phản xạ sinh lư sớm trước hai giây so với thời điểm xuất hiện các bức ảnh có nội dung gây cảm xúc sợ hăi.
Theo nhận xét của Tiến sĩ Raydin, kết quả thí nghiệm chứng tỏ con người chúng ta đă cảm nhận được từ trước đối với các biến cố và mách bảo chúng ta ở mức độ tâm lư, xúc cảm, là một chuyên gia ngoại cảm đă từng tiến hành các thi nghiệm tương tự từ năm 1993.
Hồi đó ông đă nghiên cứu hiện tượng con người, cảm thấy ai đó đang ngắm nh́n ḿnh từ phía sau. Trong hai căn pḥng cách nhau tám thước và được nối với nhau bằng một hệ thống vô tuyến truyền h́nh, người ta bố trí người được thí nghiệm và chuyên gia thí nghiệm.
Thông qua Camera vô tuyến, chuyên gia thí nghiệm có thể trông thấy người được thí nghiệm ở pḥng bên kia, nhưng người đó không hề biết là đang có ai đó đang nh́n ḿnh.
Thế mà vào các thời điểm người đó "bị ngắm" th́ họ đều cảm thấy được "một cái ǵ đó" khác lạ. Nói chính xác hơn là anh ta không cảm thấy ǵ, nhưng điện trở của da anh ta bỗng nhiên thay đổi một khi chuyên gia thí nghiệm ngắm nh́n anh ta qua Camera vô tuyến.
Các chuyên gia đi đến câu hỏi rất quan trọng: Nếu như hai người cách xa nhau trong không gian có thể cảm nhận được nhau qua "giác quan thứ sáu”. Vậy th́ họ có thể cảm nhận được nhau qua khoảng cách thời gian được không?
Liệu con người có thể cảm nhận được các tín hiệu từ tương lai của chính ḿnh gửi đến, giống như Alech cảm nhận được mối nguy hiểm đang đe dọa tính mạng anh sau đó hai tuần?
Chính từ ư nghĩ đó mà Raydin đă tổ chức thí nghiệm với các bức ảnh. Các thí nghiệm tương tự cũng được các nhà khoa học ở Hà Lan và Đức tiến hành thành công với kết quả tương tự.
Bản thân Raydin chưa hoàn toàn khẳng định chắc chắn có linh cảm đối với các nguy cơ đe dọa con người trong tương lai. Theo ông các kết quả này cần được tiến hành lặp lại trên toàn thế giới, trong hàng trăm pḥng thí nghiệm. Lúc đó mới có thể đưa ra kết luận cuối cùng.
Các thí nghiệm ngoại cảm đầu tiên được tiến hành cách đây gần một trăm năm chục năm. Trong suốt thời gian đó đă có nhiều thí nghiệm chứng tỏ có ngoại cảm và khả năng thấu thị.
Nếu các thí nghiệm tiếp tục được tiến hành thành công th́ các kết luận có thể làm rung chuyển nền tảng của triết học và khoa học hiện đại, và cũng rất có ích lợi trong cuộc sống hàng ngày.
Từ trước tới nay ta vẫn quan niệm tương lai không thể tác động vào quá khứ, quy luật nhân quả không thể tác động ngược trở lại. Nhưng nếu như không phải như thế, th́ chúng ta buộc phải xem xét lại tất cả các tiền đề của khoa học.
Sưu Tầm
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1157 of 2534: Đă gửi: 12 December 2008 lúc 11:34pm | Đă lưu IP
|
|
|
LẠC TRONG RỪNG ĂN CỎ
VẪN SỐNG
Một người đàn ông đi dạo sau bữa cơm tối v́ muốn thư thả sau một cuộc gây gỗ, bị lạc vào rừng suốt chín ngày ṛng ră, phải ăn cỏ cho đỡ đói và uống nước sông cho khỏi khát.
Vào ngày 29-11 vừa qua, Suleyman Cademir, cư dân Marrickville, Sydney Úc, rời một căn nhà ở Minto t́m chút khuây khỏa sau một cuộc căi nhau, rồi đi lạc cho đến chín ngày hôm sau mới t́m được đường ra khỏi rừng.
Một phát ngôn nhân cảnh sát nói:
- Người đàn ông cho cảnh sát biết ông ta đă sống sót nhờ việc ăn cỏ rừng và uống nước sông Georges.
Bà nói tiếp:
- Ông ta cũng cho cảnh sát biết, đôi dép của ông bị rách nát không bao lâu sau khi ông bị lạc lối và ông đă buộc ḷng phải xé quần dài để bó vào chân cho đỡ đau khi đi trong rừng.
Cảnh sát t́m được ông Cademir 39 tuổi, gần một đường ṃn ở Weđerburn Gorge. Cư dân trong vùng đă báo động với cảnh sát sau khi nghe văng vẳng tiếng kêu cứu của ông.
Phát ngôn nhân cảnh sát cho biết thêm:
- Khi được t́m thấy ông ta đă mệt lả và không c̣n sức để bước đi nữa.
Ông Cademir nói:
- Tôi chỉ tính đi một ṿng thế rồi tôi đi lạc. Tôi đi xuống cái khe suối kia xong rồi tôi trở lên lại, nhưng không đúng chỗ tôi bắt đầu leo xuống cho nên tôi đi trở xuống, rồi sau đó leo lên lại và cuối cùng th́ tôi qua đến tận bên kia.
Nơi ông được giải cứu cách nơi ông khởi hành hai mươi cây số.
Sưu Tầm
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1158 of 2534: Đă gửi: 13 December 2008 lúc 12:51am | Đă lưu IP
|
|
|
SATAN NHẬP XÁC BÉ GÁI ĐỐT
CHẾT MỘT LINH MỤC TRONG
KHI LÀM PHÉP TRỪ TÀ
Tiếng Nổ Long Trời Lở Đất... Cùng Một Lúc Với Tiếng Rú Kinh Hồn...
Cái Chết Của Vị Linh Mục Luis Ponce Chẳng Những Làm Xôn Xao Dư Luận Thế Giới Mà C̣n Khiến Cho Cả Ṭa Thánh Vatican Vô Cùng Sửng Sốt!
- Chúng tôi nghĩ rằng nhất định có một cuộc chiến khốc liệt giữa Linh Mục Luis Ponce với con quỉ Satan ấy và phần thắng chắc chắn sẽ về Linh Mục một cách dễ dàng...
Đó là lời tuyên bố của một viên chức có thẩm quyền tại Ṭa Thánh Vatican yêu cầu được giấu tên trước các hăng thông tấn quốc tế. Viên chức này c̣n nói tiếp:
- Chúng tôi cũng chẳng hiểu việc ǵ đă xảy đến cho vị Linh Mục đầy tài ba và phép tắc cao cường ấy? Chỉ có Chúa mới biết mà thôi.
Đó là câu chuyện ma quái mà nạn nhân là một cô bé mới lên chín tuổi đă bị quỉ Satan nhập xác. Cha mẹ của cô bé này liền đến nhờ cha Ponce làm phép giải trừ ma quỉ ra khỏi thân xác của đứa con ḿnh.
Cha mẹ của bé gái này quê ở Bercelona thuộc Tây Ban Nha, theo nguồn tin loan báo như vậy. Cũng theo viên chức của Ṭa Thánh Vatican, đứa bé được xác nhận là b́nh thường và sức khỏe của nó vẫn tốt đẹp...
Nhưng bỗng dưng ngày 21-3 vừa rồi, th́ có sự khác thường xảy đến cho nó. Đôi mắt nó đỏ rực lên như hai cục than hồng, mũi nhíu lại và hếch lên. Miệng há hốc ra để lộ hai hàm răng trắng chạch trông như có vẻ nhọn như răng của chó sói..
Thế rồi sau đó bất thần cô bé này rú lên một tiếng dài nghe đến kinh hồn, và nó bỏ chạy ngay vào nhà bếp lấy con dao nhọn bén lẹm, đến ngay pḥng cha mẹ nó đang có mặt tại đây và nhảy sổ lại tấn công...
Người cha hốt hoảng vùng dậy ôm gh́ chặt nó và lấy được con dao từ tay nó. Sau đó cha nó nhảy bổ đến định ôm chặt con v́ sợ nó phá phách hay xâm phạm đến mẹ nó đang ngồi cạnh đó. Nhưng vô ích, con bé chỉ xô nhẹ ra cũng đủ làm cho ông ngă lăn ngay dưới nền nhà.
Có điều làm cho vợ chồng ông sửng sốt là con bé mới chín tuổi đầu, này khi lên cơn nó một sức mạnh phi thường. Con bé có thể có thể lật đổ nhào một cái tủ cao được đóng bằng loại gỗ quí, cũng như có thể xê dịch một cách dễ dàng chiếc giường ngủ bằng gỗ quí như chú mèo con nhỏ kéo tờ giấy lê dưới mặt nền nhà.
Một hiện tượng khác nữa mặt mày con bé mỗi lần lên cơn trông như thể thâm tím lại, mặc dù chẳng có ai động đến.
Các sự kiện xảy ra đều được cha mẹ con bé thuật lại rơ ràng cho cha Ponce nghe, khi đến nhờ vị Linh Mục này làm phép giải tà cho nó. Cha Ponce liền chọn ba vị linh mục phụ tá cho ḿnh, cùng đến giúp cho gia đ́nh nạn nhân. Đó là này 26 tháng 3 lúc 10 giờ sáng.
Khi đứa bé gái nh́n thấy Linh Mục Ponce, bất thần nó nhảy đựng lên đoạn hú lên một tiếng dài, lảo đảo tiến sát đến chiếc bàn lớn, rồi dùng hai tay bé nhỏ của nó nâng cao lên quay một ṿng tṛn một cách nhẹ nhàng, đoạn phóng đến ngay vào người vị Linh Mục này.
Linh Mục Ponce vội nhảy sang nơi khác né tránh kịp thời, th́ cũng ngay khi đó con bé bị quỉ ám này lại nhấc bổng cái tủ kiếng khá lớn đang chưng bày ở ngay pḥng ăn tung về phía Linh Mục Ponce đang đứng tránh.
Cha Ponce lại thêm một lần hốt hoảng, tuy nhiên vị Linh Mục này cũng được b́nh an vô sự. Vị Linh Mục này vô cùng ngạc nhiên trước sức mạnh phi thường của con bé mới chín tuổi đầu mỗi lúc mỗi tăng lên...
Nó lại lao đến chiếc tủ lạnh to lớn bưng lên một cách dễ dàng, khiến mọi người bỏ chạy tán loạn ra bên ngoài, ngoại trừ cha Ponce đang đứng dùng mắt nh́n cḥng chọc nó.
Biết gặp một địch thủ có sức mạnh phi thường, Linh Mục Ponce đă vội lấy ngay nước thánh (Holy Water) đọc kinh và rảy vào người đứa bé.
Vừa rảy nước thánh xong con bé bỗng rú lên rồi lảo đảo ngă xuống. Mọi người đều chạy đến vây lại ôm vực lên giường để tiếp tục làm phép trục xuất quỉ Satan ra khỏi người nó.
Nhưng lạ lùng thay mọi người đang đứng vây quanh đó, bỗng cảm thấy có mùi khét từ thân thể con bé thoát ra y hệt như mùi cháy của da thịt, càng lúc càng nồng nặc khiến mọi ngưởi phải lợm giọng đến nôn nữa.
Vẫn theo lời của một viên chức ở ṭa thánh tiết lộ: Khi con bé bị nước thánh rảy vào vào thân thể nó, ngoài mùi khét xông lên, mặt mũi nó trở nên méo mó, miệng há hốc nhe ra hai hàm răng tua tủa.
(Đây là một diễn biến kỳ quái, khó tin nhưng lại là sự thật).
Những người đứng chúng quanh lúc bấy giờ chứng kiến cảnh tượng kỳ quái đó đều xác nhận là chính họ nghe cha Ponce thét lên:
- Hỡi quỉ Satan! mày phải ra ngay khỏi xác thân đứa bé... mày không được chần chờ dù chỉ trong giây phút... Hỡi quỉ Satan hăy nghe phán lệnh này... Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen.
Lạ thay! mọi người sửng sốt thấy có một luồng khói đen ng̣m cuồn cuộn thoát ra từ cửa miệng con bé. Đồng thời máu từ hai khóe mắt ṛng ṛng chảy ra, hai tay nó đưa lên ngực miệng há hốc ra... mắt trừng trừng nh́n về hướng cha Ponce đang đứng.
Một điều khác khiến cho tất cả những người đang chứng kiến này phải đứng tựa người vào nhau v́... luồng khói đen vừa thoát ra đó lại quay ngược trở lại chui cả lại vào miệng nó.
Đôi mắt nó lại càng hực lên như hai cục than hồng. Mặt nó bầm đen hơn trước. Cuối cùng nó thốt ra những lời nguyền rũa toàn những câu tục tỉu...
Con bé lại vùng ngồi dậy và cười lên the thé! Giọng cười của nó biến dần thành tiếng khóc lên the thé. Quả là giọng của ma hờn quỉ khốc. Hai hàm răng nó nghiến nhau nghe kêu lên ḱn kịt nghe đến lạnh người.
Cha Ponce đưa cây Thánh Giá lên cao ngay trước mặt con bé, Ngài đọc kinh và hét lên như ra lệnh:
- Satan, ra ngay khỏi xác đứa bé này !
Trong lúc đó con bé cũng đưa tay ra về phía trước, những người đang chứng kiến nhận thấy ngay là cha Ponce và con quỉ Satan đang mượn xác bé gái này, cả hai đều đang tận dụng cả nội lực ḿnh để chiến đấu quyết một mất một c̣n.
Mồ hôi chảy ra nhễ nhại trên mặt mày của Linh Mục Ponce... và con bé bị quỉ ám kia cũng chẳng khác ǵ, toàn thân nó bị ướt đẩm cả mồ hôi.
Cuộc đấu sức này kéo dài hơn một tiếng đồng hồ, con bé bị quỉ ám vẫn không hề suy suyển. Ba vị phụ tá cùng cha Ponce dốc toàn sức lực để cố triệt hạ quỉ Satan đang nhập trong người con bé, song nó vẫn không hề nao núng!
Bất th́nh ĺnh nó nhảy thót lên đánh đu trên chiếc đèn cánh quạt quát tháo lên ầm ĩ:
- Hăy xem đây bọn vô dụng kia...
Tức th́ sau đó một tiếng nổ kinh hồn làm rung chuyển cả căn pḥng mọi người đang đứng. Hai quả bóng lửa từ ḷng bàn tay nó phóng ra trúng ngay vào ngực cha Ponce! Ngọn lửa phụt lên biến toàn thể châu thân vị Linh Mục này trở thành cây đuốc sống!
Có lẽ cha Ponce biết ḿnh không thể nào c̣n sống được nên Ngài lao thẳng đến đứa bé ôm choàng lấy nó, quát lên như ra lệnh:
- Hỡi quỉ Satan! Mày phải ra ngay thân xác của đứa bé thơ vô tội...
- Được!
Tiếng của đứa bé đáp lại:
- Tao sẽ cùng mày đi, và tao sẽ cùng mày tiếp tục quần thảo cho đến khi nào... trong hai ta ai sẽ là người chiến thắng mới thôi!
Dứt lời con bé ngă ngay xuống. Hồn của quỉ Satan thoát khỏi người nó... Con bé tỉnh dậy trong an lành, song cha Ponce th́ không c̣n nữa... Người đă ra đi vào miền vĩnh cửu...
Một buổi lễ cầu hồn được tổ chức tại ngôi nhà thờ Bercelona thuộc Tây Ban Nha để tiễn đưa linh hồn Linh Mục Luis Ponce về Thiên Đàng hưởng phước đời đời bên dung nhan Chúa Cả...
Trần Liêm Khảo
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1159 of 2534: Đă gửi: 13 December 2008 lúc 1:22am | Đă lưu IP
|
|
|
CON NGƯỜI CÓ TIỀN KIẾP
Danh tướng Mỹ patton người hùng của thế chiến thứ hai "đă có mặt" trên chiến địa La Mă cách đây 1900 năm!
Đạo Phật cho rằng người ta có kiếp luân hồi. Khi con người chết đi sẽ lại đầu thai lên dương thế sống kiếp khác. Trước nay, ở địa hạt khoa học không nh́n nhận như vậy. Các khoa học gia chỉ coi đó là một giả thuyết của siêu h́nh học.
Bây giờ, mối "hoài nghi" đó đang là mục tiêu thực sự ám ảnh nhiều bộ óc bác học. Từ không tin hoàn toàn nay đột nhiên được chuyển sang việc bắt tay nghiên cứu sâu rộng.
Tại các quốc gia Hoa Kỳ, Anh quốc và Pháp quốc đă có nhiều viện thí nghiệm được thiết lập, quy tụ nhiều nhà khoa học tên tuổi để theo đuổi công tŕnh khám phá đến nơi đến chốn.
Ở nước Anh, người được biết đến tên nhiều nhất là nhà phân tâm học Dennis Kelsey và bà John Grant cùng giáo sư bác sĩ Loe Scranton chuyên về thần kinh học.
Trên đất Mỹ th́ với các bác sĩ Morris Netherton, Edith Fiore, Ernie Pecci. Bác sĩ Ernie Pecci ở California thành lập một viện nghiên cứu về "Những kiếp trước nối tiếp những kiếp sau" đă đưa nhiều luận giải có hệ thống khoa học tinh vi.
Hoặc như giáo sư Gregory Paxson ở Chicago, một nhà kế hoạch hóa phân tâm học đă mật thiết cộng tác với nhóm khoa học đồng nghiệp của ông trong liền nhiều năm trời, vùi đầu vào các công tŕnh giải thích về sự kiện gọi là "những trạng thái biến hóa của tâm thức".
Có nghĩa là, đi sâu vào tiềm thức con người hiện sống giờ đây để gợi cho họ nhớ lại quá khứ xa xưa về tiền kiếp của họ.
Người được đặt vào công cuộc thí nghiệm cứ phải ở trong tư thế nằm hay ngồi thoải mái, thanh thản, và trong một khung cảnh hết sức yên tĩnh. Tuyệt đối tránh ngoại cảnh chi phối.
Họ thản nhiên như chuẩn bị đi vào một giấc ngủ êm đềm. Có thể nói, họ cứ như em bé nằm trong nôi, và nhà khoa học th́ như bà vú ru em ngủ. Cả hai đều áp tai vào một máy nghe và trước ngực đeo một máy truyền âm, trao đổi câu chuyện với nhau.
Khi hồn được buông thả về dĩ văng, lời đối thoại cùng những lời tự động nói lên những bí ẩn tiền kiếp của đương sự đều được ghi âm.
Vấn đề chứng minh "con người có tiền kiếp" khởi thủy được giới khoa học thực hiện vào năm 1960, bởi các nhà thần kinh học Abraham Maslow, Stanislas Grof, Roberto Assagioli và Charles Tart. Họ được thế giới y khoa, khoa học dành tất cả sự nể trọng.
Hơn 30 năm sau, từng lớp chuyên gia kể trên được kế tục, tiếp tay bởi rất nhiều khoa học gia trên khắp hoàn vũ cùng những phát minh máy móc tinh vi, khiến cho càng ngày càng chứng tỏ một cách hùng hồn về những luận giải có nguồn có gốc.
Gần đây nhất, một nhà nghiên cứu có tiếng nói thẩm quyền về bộ môn này là nhà vật lư người Pháp Patrick Drouot. Ông vốn là nhà khoa học không gian, song ông từ bỏ vị trí chuyên môn của ḿnh để dấn bước vào địa hạt tâm linh.
Không những ông đă hướng dẫn hàng ngàn người đi t́m đời sống tiền thân của họ mà chính ngay ông, ông cũng lại tự đem ḿnh trao vào tay giáo sư người Mỹ Gregory Paxson ở viện khảo cứu Chicago. Hăy xem nhà vật lư Patrick Drouot kể ǵ về trường hợp của ông:
- Buổi thí nghiệm đầu tiên đến với tôi hôm ấy dẫn tôi trở về cốt h́nh hài của một tu sĩ vào thế kỷ XI, tức là Anh quốc bị đạo quân của danh tướng "Guillaume Le Conquérant", nguyên công tước thành Normandie kéo sang xâm lược.
Qua không biết bao t́nh tiết do hồn tôi thuật lại, th́ không cứ chỉ liên quan đến giáo xứ nơi tôi tu hành mà c̣n gồm vô số các t́nh tiết tỉ mỉ về cách điều quân khiển tướng của "Guillaume nhà chinh phục" từ bên kia bờ biển Manche nước Pháp.
Khi tôi hồi tỉnh lại, nghe bài tường thuật ghi âm của chính ḿnh, tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Quả thật, tôi đă đọc như đọc một tài liệu lịch sử. Mà nào trước nay tôi có biết ǵ đâu!
Tôi dành liền một tuần lễ vùi đầu vào thư viện, t́m đọc hầu hết các cuốn sách nói về Guillaume Le Conquérant. Thực là một điều không thể giải thích nổi, tất cả các điều tôi thuật ra trong buổi thí nghiệm (qua giấc mơ) đều hoàn toàn chính xác như lịch sử đă ghi chép.
Một câu hỏi được đặt ra trong tôi:
"Thế th́, phải chăng tôi đă đọc ở một tác phẩm nào đấy hay đă xem một bộ phim ảnh nói về vấn đề kia, tạo cho tôi có sẵn sự hiểu biết như vậy? Bằng không, những điều tôi thấy được đă do từ đâu mà có?"
Một thời gian dài sau, tôi đi vào những thí nghiệm khác. Năm 1984 nhân một chuyến đi chớp nhoáng sang Chicago, giáo sư Gregory Paxson lại giúp tôi t́m về tiền thân khác nữa của tôi.
Lần này trong cốt của một nữ tu sĩ từng sống 4 ngàn năm về trước. Tôi thuật lại bằng hết đời bà. Tên bà là Govenka, thuộc dân tộc cổ xưa Celte và bà đă sống như thế nào về thời đại ấy.
Có điều lần này thật không biết dựa vào đâu để kiểm chứng! Tôi đi gặp nhà tâm linh học PierreWeil th́ ông bảo thẳng tôi:
- Bạn không cần đào sâu thắc mắc. Những người biết về tiền kiếp của họ, trong nhiều trường hợp, không cần viện dẫn đến chứng tích. V́ có một sự thực rơ ràng hơn cả là, cá nhân họ biết chắc rằng tiền thân của họ quả là điều hiển nhiên có thực, không ǵ lay chuyển nổi.
Rồi giáo sư Pierre Weil dẫn chứng thêm:
- Như trường hợp của danh tướng Mỹ Patton. Ông là một chiến thuật gia lỗi lạc hàng đầu, và là người anh hùng trong cuộc hành quân đổ bộ vào đất địch.
Thời gian trận đệ nhị thế chiến buớc vào giai đoạn kết thúc, những ngày tàn của nhà độc tài quốc xă Hitler đă được đếm trên đầu ngón tay, v́ ở khắp mọi mặt trận, quân đội đồng minh phản công như vũ băo.
Tướng Patton được mời đến thăm một di tích "trận địa chiến ngày xửa ngày xưa" trên đất Ư, giữa quân La Mă và quân Carthage, bên bờ sông Metaure. Tháp tùng tướng Patton là cảm bộ tham mưu cao cấp, trong đó có một sĩ quan đại tá vốn là nhà sử gia ngoài đời, được cử đứng thuyết tŕnh về trận đánh khốc liệt nhất của thời cổ xưa.
Viên đại tá, chuyên viên lịch sử chiến tranh cổ kim, quả có một trí nhớ phi thường về tài liệu binh pháp. Ông tường thuật mạch lạc, thật tỉ mỉ về cuộc bày binh bố trận đôi bên:
- Này đây là địa h́nh địa vật thuộc đạo quân La Mă trú đóng. Và nơi kia là đàn voi dữ của tướng Hannibal. Gần đấy là đội kỵ mă Carthage thuộc quyền chỉ huy của Hasdrubal, người em ruột ông, vừa thần tốc kéo đến tăng cường cho đại quân của anh ḿnh...
Bỗng nhiên, toàn thể Bộ Tham Mưu có mặt thấy tướng Patton nhíu đôi chân mày lại, như có điều không bằng ḷng chút nào cả về lời dẫn giải của viên đại tá sử gia.
Năy giờ ông b́nh tĩnh theo dơi cuộc thuyết tŕnh bao nhiêu th́ bây giờ ông bất b́nh bấy nhiêu. Trong khoảnh khắc, tướng Patton nóng nẩy cắt ngang:
- Không phải thế đâu! Đoàn kỵ mă Hasdrubal đâu có dàn ở nơi đó. Họ tập trung ở phía đằng kia ḱa.
Vừa nói, ông vừa chỉ thẳng tay về hướng đối nghịch, cũng nằm trong trận địa.
Bằng một thái độ khiêm nhường và lễ độ, nhà sử gia chiến lược cố nhấn mạnh thêm một lần nữa về điều đă tŕnh bày. Nó không phải đến từ một tài liệu mà là cả rừng tài liệu, và tất cả đều cùng ghi rơ vị trí trấn đóng của đoàn kỵ binh Carthage.
Thế nhưng lần này tướng Patton giận dữ gằn giọng:
- Tôi bất chấp các tài liệu ông đưa ra. Tôi chỉ muốn nói để các ông biết rằng kỵ binh không ở chỗ này đâu. Họ dàn trận ở tận phía kia. Tôi đoan chắc như thế. Tôi quả quyết như thế. V́ chính tôi, tôi đă có mặt tại chỗ lúc bấy giờ!
Toàn bộ sĩ quan tham mưu cao cấp sững sờ, kinh ngạc. V́ lời tướng Patton vừa thốt ra không có vẻ ǵ là nói theo ư thích cá nhân ông!
Cho măi về sau này khi tiếng súng đại chiến ngừng bặt, người ta mới được nghe tướng Patton tiết lộ trong cuốn hồi kư về cuộc đời binh nghiệp của ông. Th́ ra ông đă có lúc sống lại với tiến kiếp của ḿnh. Một tiền thân cách nay 19 thế kỷ!
Câu chuyện về tướng Patton vừa được kể, đă được nhà phân tâm học Aldous Huxley dùng làm tài liệu chính yếu đem thuyết tŕnh trước đại hội quốc tế kỳ thứ 14 của các nhà khoa học chuyên nghiên cứu về thần kinh học.
Nhà vật lư Patrick Drouot đă giă từ địa hạt khoa học để bước hẳn vào bộ môn tâm linh. Ông đă dùng phương pháp "đưa hồn về quá khứ" để chữa bệnh cho hàng ngàn con bệnh t́m đến với ông. Đúng ra căn bệnh của họ thuộc về cơ thể nhưng các bác sĩ y khoa đă không t́m ra được nguyên nhân để chữa trị.
Trong tủ hồ sơ bệnh lư của giáo sư Patrick Druot số bệnh nhân có ngoài 1500 người. Giáo sư đưa ra một vài trường hợp dẫn chứng:
- Có một phụ nữ trẻ than phiền rằng suốt nhiều năm nay bà ăn uống thật khó khăn, luôn bị nghẹn, và nhất là mỗi lần đụng tới bánh trái có chất phó mát hay sữa tươi.
Giáo sư Druot đề nghị với bà ta thực hiện một buổi thí nghiệm dẫn hồn về dĩ văng. Tiền kiếp của bà là "một em bé trai" bị tai nạn chết trên núi sau lúc em vừa ăn ních bụng món phó mát và uống nhiều sữa!
Lại như trường hợp của nhà doanh nghiệp Georges, người Pháp ở tuổi 45, đứng điều khiển một công ty thương mại lớn. Một hôm ông tâm sự với giáo sư Druot là ông ăn uống không hề biết ngon miệng, nếu không muốn nói rằng từ thuở nhỏ đến giờ ông ăn rất ít đôi khi không cần ăn.
Và mỗi lần ăn chút ǵ qua quít xong, ông đều cảm thấy buồn nôn. Sau một buổi "thực nghiệm", ông Georges sống thật với hồn ḿnh, thổ lộ:
- Thuở xưa kia vào thế kỷ 18, tiền kiếp là một tay cướp biển. Một hôm chiếc thuyền buồm của bọn hải tặc lênh đênh trên biển Sargasses như cứ đứng dừng một chỗ v́ gió ngừng bặt.
Nhiều đêm ngày trôi qua lặng lẽ lương thực cạn dần. Bọn cướp phải hạn chế tối đa khẩu phần thực phẩm. Kho lương thực được khóa kỹ lưỡng và tên tướng cướp trao cho Georges nhiệm vụ canh giữ.
Có một buổi cơn đói nổi lên chịu đựng không nổi, anh ta lẻn vào kho ăn một bụng căng ph́nh. Tên tướng cướp bắt gặp giận dữ, đem ra xử, tuyên án ném Georges xuống biển làm mồi cho bầy cá mập lượn quanh thuyền.
Sau cuộc t́m lại hồn của tiền thân, ông Georges khỏi hẳn căn bệnh quái ác kia từng đeo đẳng ông vài chục năm liền. Ông bắt đầu "biết ăn", thèm ăn luôn miệng...
Giáo sư Druot kể tiếp mẩu chuyện về một kỹ sư tên tuổi hiện giờ ở Paris đang làm việc cho một hăng kỹ nghệ nổi tiếng, và tạm dấu tên ông ta.
Chỉ biết đây là một mẫu người trí thức, xuất thân từ các đại học Pháp lẫn Hoa Kỳ. Ông được coi là có khả năng xuất sắc, kiến thức rộng.
Nhưng thường có một thời gian dài, ông luôn t́m cách tránh né những chức vụ quan trọng được trao phó. Và mỗi lần như vậy viên kỹ sư ấy cảm thấy khổ tâm, cứ như một kẻ phạm tội mồ hôi đổ ra như tắm thất thần...
Một duyên may đă đưa đến cho ông gặp giáo sư Druot. Sau ba lần liên tiếp, nhà vật lư tâm linh Druot đă giúp viên kỹ sư t́m về kiếp trước.
Th́ ra hơn hai trăm năm trước, ông ra đời ở Anh quốc làm giám đốc một cơ xưởng. Một hôm nhà máy bị bốc cháy, thần lửa lan tràn mau chóng, ông ta hoảng hốt, mất hẳn sự b́nh tĩnh cần thiết để ra lệnh kịp thời di tản người và tải sản.
Để đến nỗi, chính bản thân ông ta không thoát ra khỏi biển lửa phải bỏ mạng. Từ lúc nguyên nhân kiếp trước được truy ra gốc, viên kỹ sư cảm thấy ḿnh khỏi bệnh, giải tỏa được cái mặc cảm dày ṿ ông nhiều năm qua...
Thế gian này có tùy thuộc vào bàn tay Thượng Đế hay không, là cả một vấn đề đang làm bận tâm các nhà khoa học tây phương.
Trong thành phần này, một số người không tin vào quyền năng tạo hóa nhưng đa số lắc đầu bó tay nh́n nhận đă có một đấng toàn năng ngự trị vô h́nh trên mặt địa cầu.
Giới người "chưa tin" bắt đầu từ những nhà bác học khởi thủy như Nicholas Copernic, Galileé, Laplace hay như nhà dị giáo người Ư Giordano Bruno, kế đến là Newton, Einstein...
Trong bọn họ nhà tu sĩ khoa học Giordano Bruno được coi như không đến nỗi quá khích, từng có lúc hồi tâm giaỉ thích hiện tượng vũ trụ rằng, trong khoảng bao la vô cùng tận đă có hằng hà sa số những hành tinh quy tụ nhiều sinh vật "sống" tuy không cùng một h́nh thể "người" như con người chúng ta trên mặt đất song tất cả đều...tôn thờ Thượng Đế.
Ở vào thế kỷ 16 quan niệm "tiến bộ" ấy, đủ để Giáo hội không mấy vừa ư, và kết án là... tà giáo, đưa Giordano Bruno lên giàn hỏa thiêu!
Sinh sau đẻ muộn nhà bác học Laplace ngang ngược hơn nhưng nhờ chậm chân ra đời, ông vẫn sống.
Lịch sử ghi chép lại rằng sau khi đọc tác phẩm "Bộ Máy Vũ Trụ", Hoàng đế Nă Phá Luân gợi ư hỏi tác giả Laplace sau không thấy nhắc đến bàn tay vạn năng của Thượng Đế.
Nhà bác học kiêu hănh trả lời:
- Thần không quan tâm đến giả thuyết này!
Thái độ của Laplace ngày xưa nay đang được các giới khoa học t́m cách chứng minh sâu xa về nguyên thủy: Bắt đầu từ đâu sinh ra vũ trụ?
Đa số bác học tây phương ở cuối thế kỷ 20 vừa qua đang t́m lời giải thích câu hỏi kỳ bí ấy. V́ như nhà bác học vật lư người Mỹ Weinberg đă vẫn thốt lên:
- Càng hiểu vũ trụ bao nhiêu chúng ta càng không biết ǵ về vũ trụ bấy nhiêu!
Và giả thiết vũ trụ nảy sinh từ một "trạng thái t́nh cờ" đă không c̣n lư do tồn tại, dù hiện có một số bác học từng khăng khăng cho là như vậy đấy.
Có lúc người ta phải tạm mượn lời nhà đại văn hào Voltaire để h́nh dung ra thiên thể vũ trụ:
- Một chiếc đồng hồ cứ chạy mà không cần có người thợ đồng hồ.
Tuy nhiên khác Voltaire nhẹ phần "hữu thần", ở địa bàn khoa học, các nhà bác học lại không mấy dễ dàng hiểu theo thế đâu. v́ tất cả đă nắm chắc bằng chứng và quy luật thực tế là:
- Chiếc đồng hồ máy đang chạy, tuy không thấy người thợ, song rơ ràng đă có người thợ tạo ra nó!
Vậy th́ vũ trụ xoay vần nhất thiết có Thượng đế sắp đặt.
Trên mặt báo này trong một số trước, chúng tôi vừa đưa tin về nhà bác học Stephen Hawking người Anh, chuẩn bị cống hiến một công tŕnh khám phá vĩ đại về "Vũ trụ" đang làm rung động thế giới khoa học. Ông được đánh giá sánh ngang Einstein, cha đẻ của "Thuyết Tương Đối" mở đường cho loài người sử dụng nguyên tử đặt chân lên không gian.
Nhà vật lư kư diệu Hawking c̣n tiến xa hôn Einstein một bước khác, là ông đă kết hợp "Thuyết Tương Đối" kia với "Lượng Tử Thuyết" (Théorie des Quanta) của chính ông để tạo thành một kiệt tác định lư: Đại Tổng Hợp Không Gian.
Cái điều phi phàm mà ngày trước Einstein đă phải bó tay thất bại. Chúng tôi đang đặc biệt theo dơi hy vọng sẽ có một ngày không bao xa được có dịp đem thuật lại. Bài báo hôm nay xin đề cập đến một nguồn tin khoa học khá đặc biệt, chứng tỏ nhân tài đất Việt hải ngoại không hề thiếu vắng, chẳng hề thiếu bóng bên cạnh giới khoa học gia Âu Mỹ.
Trong số bác học người Việt chúng ta, cũng đă có ngay nhà vật lư thượng thặng Trịnh Thuần. Đă từ nhiều năm trước, ông là giáo sư vật lư vũ trụ đại học Hoa Kỳ.
Nhà xuất bản uy tín Fayard đă đảm nhận in và phổ biến tác phẩm đặc sắc của ông mang tựa đề La Mélodie Secrète (Bản Ḥa Tấu Bí Mật) bàn về sự xuất hiện của "Giải Ngân Hà" và nhiều tạp chí tên tuổi ở cộng đồng Âu Châu đă t́m đến phỏng vấn ông ở địa hạt khoa học hiểm hóc nhất
Bản ḥa khúc kỳ bí trên theo lời tác giả Trịnh Thuần, chính là "Lời Truyền Đạt" đến từ chốn vũ trụ vô cùng tận, cách hành tinh loài người hàng tỉ tỉ năm ánh sáng, theo toán học, tốc độ của ánh sáng là 300.000 cây số một giờ. Vậy cứ đặt vào bàn tính siêu điện tử,người ta mới thật sự cảm nhận được thế nào là sự rùng ḿnh.
Nhà khoa học Việt Nam có vinh dự góp mặt vào công tŕnh khám phá vũ trụ lại nh́n nhận: Đă đến lúc loài người phải nghiêng ḿnh kết luận rằng, thế gian này, vạn vật này, vũ trụ này phải do bàn tay tạo lập bởi Thượng Đế toàn năng, toàn mỹ.
Người Luân Đôn
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
hiendde Hội viên


Đă tham gia: 07 November 2006 Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 2516
|
| Msg 1160 of 2534: Đă gửi: 13 December 2008 lúc 2:09pm | Đă lưu IP
|
|
|
CẬU BÉ CÓ TIỀN KIẾP
LÀ PHI CÔNG
Phần lớn người Á đông đều tin vào thuyết luân hồi. Làm lành tránh dữ để sớm được đầu thai kiếp khác, hay siêng năng làm việc thiện để "kiếp sau c̣n được làm người" đó là những điều tin tưởng của nhiều người qua những lời giảng tôn giáo.
Bên Tây Tạng người ta tôn suy những vị Lạt Ma, v́ tin tưởng rằng đây là những người đă được những vị Lạt Ma tạ thế báo mộng, điềm chỉ cho biết ai là "hậu thân" của ḿnh.
Những chuyện này tưởng chỉ xẩy ra ở những nước Á đông huyền bí. Không ai ngờ rằng câu chuyện "tiền kiếp" cũng xẩy ra ở những nước tây phương chuộng nền khoa học thực nghiệm hơn là những điều bí ấn.
Sau đây là câu chuyện của một cậu bé ở Hoa Kỳ, với quá khứ oai hùng trong kiếp trước mà cậu c̣n nhớ rành mạch từng chi tiết khiến ai nghe thấy cũng phải bàng hoàng.
Cậu bé tên là James sáu tuổi rất say mê máy bay. Nhưng khi cậu bắt đầu nói về chiếc hàng không mẫu hạm, mà cậu đă phục vụ trên đó trong trận chiến với Nhật Bản, và những người bạn cùng trong thủy thủ đoàn, hiện đă là những ông già gần đất xa trời th́ cha mẹ cậu cũng phải hoảng hồn.
Gần sáu thập niên trước một phi công chiến đấu Hải quân hai mươi mốt tuổ,i đă bị pháo binh Nhật bắn rơi khi đang thi hành nhiệm vụ ngang qua Thái B́nh Dương.
Có lẽ cái tên của anh đă rơi vào quên lăng nếu không v́ cậu bé James Leininger sáu tuổi này. Một số khá nhiều người, kể cả những người từng quen biết viên phi công chiến đấu, nghĩ rằng James chính là viên phi công kia đă được đầu thai.
Cha mẹ của James là Andrea và Bruce, một cặp vợ chồng tân tiến có học vấn cao cho rằng, họ "có lẽ là những người ít mong đợi một t́nh h́nh như vậy nhất có thể xảy ra trong cuộc sống của ḿnh".
Nhưng cùng với thời gian, họ ngày càng tin rằng cậu con trai nhỏ bé của ḿnh đă từng có một kiếp trước nào đó.
Ngay từ khi c̣n rất nhỏ cậu bé James đă không chơi với thứ ǵ khác ngoại trừ máy bay, cha mẹ cậu kể lại.
Nhưng khi cậu bé lên hai tuổi, họ cho biết những chiếc máy bay mà cậu bé yêu thích lại đem đến cho cậu những cơn ác mộng liên tục.
- Tôi đánh thức nó dậy và nó kêu thét lên.
Andrea nói với phóng viên báo chí. Khi hỏi con trai xem cậu bé mơ thấy ǵ cậu đáp:
- Máy bay phát nổ, cậu bé không thoát ra được.
Andrea kể mẹ cô là người đầu tiên nghĩ rằng có thể James đang nhớ lại kiếp trước của ḿnh. Ban đầu Andrea nói cô rất nghi ngờ.
Hai bậc phụ huynh này cho biết James chỉ xem các chương tŕnh truyền h́nh thiếu nhi mà thôi, c̣n họ th́ không hề xem các phim tài liệu thời Thế chiến thứ II hay bàn luận ǵ về chiến tranh cả.
Nhưng khi thời gian trôi qua, Andrea bắt đầu tự hỏi sự thật là thế nào. Trong một cuốn băng video thu vào năm James ba tuổi, người ta thấy cậu bé xem xét kỹ lưỡng một chiếc máy bay như thể viên phi công đang kiểm tra trước khi bay vậy.
Một lần khác Andrea kể, cô mua cho cậu bé một chiếc máy bay đồ chơi và chỉ cho cậu xem một thứ có vẻ như một trái bom bên dưới. Cô nói James đă chỉnh cô bảo rằng:
- Đó là một drop tank (thùng chứa xăng phụ phía dưới thân máy bay có thể thả rơi xuống khi chiến đấu).
- Tôi chưa từng nghe nói về drop tank.
Cô nói:
- Tôi c̣n không biết nó là cái ǵ nữa.
Rồi những cơn ác mộng bạo lực của cậu bé ngày càng tệ hơn. Mẹ Andrea đề nghị cô nên đến gặp nhà tư vấn trị liệu Carol Bowman, một người vẫn tin rằng đôi khi người chết có thể tái sinh.
Với sự hướng dẫn của Bowman, họ bắt đầu khuyến khích James chia sẻ những kư ức của ḿnh và ngay lập tức, Andrea cho biết,những cơn ác mộng trở nên ít hơn.
- James cũng diễn đạt rơ ràng hơn về quá khứ hiển nhiên của ḿnh.
Cô kể lại.
Bowman cho biết James đang ở một lứa tuổi mà có thể dễ dàng gợi nhớ lại về kiếp trước nhất. Bà nói:
- Chúng chưa gặp những tác động văn hóa, chưa bị những kinh nghiệm sống của kiếp này lấn át, v́ vậy nên kư ức có thể trào dâng dễ dàng hơn.
Dấu Vết Của Những Bí Ẩn
Cùng với thời gian, cha mẹ James cho biết cậu bé bộc lộ những chi tiết khác thường về cuộc sống của một cựu phi công chiến đấu, hầu hết vào giờ lên giường khi cậu đang buồn ngủ.
Họ kể lại James bảo họ rằng chiếc máy bay đă bị Nhật bắn trúng và bị rơi. Andrea nói James kể với cha là cậu lái một chiếc Corsair, và sau đó cậu bé bảo cô:
- Trước đây lúc nào họ cũng dùng những cái lốp bẹp.
Trên thực tế các sử gia và phi công đều đồng ư rằng, vỏ bánh xe máy bay thường chịu áp lực rất lớn khi hạ cánh. Nhưng điều đó có thể dễ dàng đọc thấy trong sách vở hay trên truyền h́nh.
Andrea nói James cũng kể với cha ḿnh tên chiếc hàng không mẫu hạm mà cậu đă cất cánh "Natoma" và tên người bạn phi công cùng bay với cậu "Jack Larson".
Sau một số nghiên cứu Bruce phát giác ra rằng cả Natoma lẫn Jack Larson đều có thật. Natoma Bay là một chiếc hàng không mẫu hạm nhỏ ở Thái B́nh Dương. C̣n Larson hiện đang sống tại Arkansas.
- Thánh thần ơi.
Bruce nói:
- Thật có mà đi đầu xuống đất. Không thể tin được. James 2 = James M. Huston Jr.?
Bruce trở nên bị ám ảnh anh sục sạo Internet, rà soát các hồ sơ quân sự và hỏi thăm những người đă từng phục vụ trên hàng không mẫu hạm Natoma Bay.
Anh nói James kể với anh là cậu đă bị bắn tại Iwo Jima. James cũng bắt đầu đánh dấu cây viết ch́ của ḿnh bằng chữ kư "James 3".
Bruce nhanh chóng t́m hiểu được rằng chỉ có một viên phi công duy nhất trong nhóm đă bị tử trận ở Iwo Jima tên là James M. Huston Jr.
Bruce nói James cũng kể với anh là chiếc máy bay của cậu đă bị bắn một phát trực tiếp ngay trúng động cơ.
Ralph Clarbour, xạ thủ hậu pháo trên một chiếc máy bay Mỹ cất cánh từ Natoma Bay, cho biết chiếc máy bay của ông đă bay ngay sau chiếc máy bay của James M. Huston Jr. trong cuộc đột kích gần Iwo Jima vào ngày 3-3-1945.
Clarbour kể ông đă chứng kiến chiếc máy bay của Huston bị pháo pḥng không bắn trúng.
- Tôi có thể nói anh ấy đă bị bắn ngay vào chính giữa động cơ.
Ông nói.
Những Vật Kỷ Niệm Giá Trị
Bruce cho biết giờ th́ anh tin rằng kiếp trước của con trai ḿnh chính là James M. Huston Jr.
- Anh ấy đă quay lại v́ anh ấy chưa hoàn thành một việc ǵ đó.
Gia đ́nh Leininger đă viết thư cho chị của Huston là bà Anne Barron về cậu con trai bé nhỏ của họ. Và giờ th́ bà ấy cũng tin điều đó.
- Cậu bé đầy sức thuyết phục với mọi thứ mà lẽ ra cậu chẳng có cách nào biết được
Bà nói.
Nhưng Giáo sư Paul Kurtz thuộc Đại học New York tại Buffalo, người đứng đầu một tổ chức điều tra những vấn đề siêu linh, cho biết ông nghĩ rằng hai bậc cha mẹ này đang "tự lừa dối ḿnh".
- Họ mê mẩn với những điều huyền bí và tự đặt ra một câu chuyện cổ tích.
Ông nói.
Những hồi tưởng sống động bắt đầu mờ nhạt khi cậu bé lớn lên, nhưng trong số những vật sở hữu của cậu có hai món quà tuyệt vời được Barron gởi tặng: một bức tượng bán thân của George Washington và một mô h́nh máy bay Corsair.
Đó là hai món tài sản cá nhân của James Huston được gởi về nhà sau chiến tranh.
- Có lẽ con tôi có một điều ǵ đó mà tôi không nghĩ là độc nhất vô nhị, nhưng cách bộc lộ điều đó th́ thật đáng ngạc nhiên.
Bruce nói.
Khi được hỏi liệu ư nghĩ về việc James có thể là một người nào khác, có thay đổi ǵ những cảm nhận của vợ chồng anh về con trai ḿnh hay không? Bruce nói:
- Không có ǵ thay đổi cả. Tôi không hề nh́n con ḿnh mà tự nhủ:
- Con tôi hay không phải con tôi.
Và như vậy th́ James là James Leininger hay là James M. Huston Jr, th́ điều đó cũng không làm thay đổi t́nh cảm của Andrea và Bruce đối với con ḿnh.
Hoàng Quư
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
|
|