Đăng nhập nhanh
Mạnh Thường Quân
  Bảo Trợ
Chức Năng
  Diễn Đàn
  Thông tin mới
  Đang thảo luận
  Hội viên
  Tìm Kiếm
  Tham gia
  Đăng nhập
Diễn Đàn
Nhờ Xem Số
  Coi Tử Vi
  Coi Tử Bình
  Coi Địa Lý
  Coi Bói Dich
  Chọn Ngày Tốt
Nghiên Cứu và
Thảo Luận

  Mệnh Lý Tổng Quát
  Qủy Cốc Toán Mệnh
  Tử Vi
  Tử Bình
  Bói Dịch
  Mai Hoa Dịch Số
  Bát Tự Hà Lạc
  Địa Lý Phong Thủy
  Nhân Tướng Học
  Thái Ất - Độn Giáp
  Khoa Học Huyền Bí
  Văn Hiến Lạc Việt
  Lý - Số - Dịch - Bốc
  Y Học Thường Thức
Lớp Học
  Ghi Danh Học
  Lớp Dịch & Phong Thuy 2
  Lớp Địa Lư
  Lớp Tử Vi
    Bài Giảng
    Thầy Trò Vấn Đáp
    Phòng Bàn Luận
    Vở Học Trò
Kỹ Thuật
  Góp Ý Về Diễn Đàn
  Hỗ Trợ Kỹ Thuật
  Vi Tính / Tin Học
Thư Viện
  Bài Viết Chọn Lọc
  Tủ Sách
Thông Tin
  Thông Báo
  Hình Ảnh Từ Thiện
  Báo Tin
  Bài Không Hợp Lệ
Khu Giải Trí
  Gặp Gỡ - Giao Lưu
  Giải Trí
  Tản Mạn...
  Linh Tinh
Trình
  Quỷ Cốc Toán Mệnh
  Căn Duyên Tiền Định
  Tử Vi
  Tử Bình
  Đổi Lịch
Nhập Chữ Việt
 Hướng dẫn sử dụng

 Kiểu 
 Cở    
Links
  VietShare.com
  Thư Viện Toàn Cầu
  Lịch Âm Dương
  Lý Số Việt Nam
  Tin Việt Online
Online
 167 khách và 0 hội viên:

Họ đang làm gì?
  Lịch
Tích cực nhất
dinhvantan (6262)
chindonco (5248)
vothienkhong (4986)
QuangDuc (3946)
ThienSu (3762)
VDTT (2675)
zer0 (2560)
hiendde (2516)
thienkhoitimvui (2445)
cutu1 (2295)
Hội viên mới
thephuong07 (0)
talkativewolf (0)
michiru (0)
dieuhoa (0)
huongoc (0)
k10_minhhue (0)
trecon (0)
HongAlex (0)
clone (0)
lonin (0)
Thống Kê
Trang đã được xem

lượt kể từ ngày 05/18/2010
Khoa Học Huyền Bí (Diễn đàn bị khoá Diễn đàn bị khoá)
 TUVILYSO.net : Khoa Học Huyền Bí
Tựa đề Chủ đề: Truyện ngắn huyền bí - hiendde Gửi trả lời  Gửi bài mới 
Tác giả
Bài viết << Chủ đề trước | Chủ đề kế tiếp >>
hiendde
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 07 November 2006
Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 2516
Msg 1341 of 2534: Đă gửi: 15 March 2009 lúc 10:36am | Đă lưu IP Trích dẫn hiendde

 

HIỆN TƯỢNG TÂM LINH VÀ

 THẾ GIỚI MA THUẬT

 

Từ khi loài người xuất hiện trên quả đất, hiện tượng tâm linh và lĩnh vực ma thuật đă bắt đầu phát triển. Các nhà khảo cổ, các nhà sử học và nhân chủng học đă khám phá ra nhiều bằng chứng về sự phát minh và phát triển của ma thuật, thuở loài người c̣n sống theo kiểu ăn lông ở lỗ.

Các dấu tích về các vật dụng để thờ cúng, từ đá và xương cốt hay các h́nh vẽ trên các vách đá, trong cách hoạt động cho thấy, sinh hoạt thời hỗn mang đó của loài người, đă có những buổi lễ tôn vinh thần linh ma quỷ.

Lúc bấy giờ cũng phát sinh các pháp sư, thầy phù thủy đầy uy lực và uy quyền. Một số nhà khảo cổ và nhân chủng học, cho giống người Neantherdale là văn minh nhất.

Nhưng các khám phá sau đó lại cho thấy, giống người Cromangnon có nhiều đặc điểm tiến hóa cao về lĩnh vực đời sống tâm linh, qua các bằng chứng cổ xưa từ các h́nh vẽ trên vách đá, các buổi lễ thờ cúng và các h́nh ảnh về ma thuật đầy màu sắc. Đặc biệt là người chết được đem chôn theo các nghi lễ đầy vẻ huyền bí.

Lư luận của một nhà nghiên cứu về nhân chủng học, dân tộc học thường cho rằng, khi con người c̣n man dă chưa t́m ra được lửa, th́ mỗi khi màn đêm xuống, nỗi lo sợ đă đổ ập lên người họ, rồi khi sống trong các hang động và t́m được lửa, th́ những h́nh ảnh chập chờn ma quái lại càng khiến họ sợ sệt hơn thêm, qua những h́nh ảnh lạ lùng.

Và ma quỷ phát sinh nhiều hơn thêm qua trí tưởng tượng họ. Về thần linh th́ sấm sét, núi lửa, động đất là những nguyên nhân làm họ tin tưởng đến sức mạnh vô h́nh nào đó, sức mạnh của các thần linh.

Ngày nay loài người đă sống văn minh hơn, nhưng vẫn c̣n một số vùng hoang vắng, được xem như tận cùng của quả đất, nơi có vài bộ lạc c̣n sống cuộc đời man dă, giống như thời đại đồ đá của loài người trước đây.

Điều kỳ lạ là nhiều nhà thám hiểm đă len lỏi tận cùng các vùng xa xôi hẻo lánh, để tiếp xúc với loài người được xem là sơ khai, họ bắt gặp được nhiều điều kỳ diệu, mà các phù thủy ở đó đă thực hiện.

Một thí dụ điển h́nh là nhóm nhà báo của Paris Match nổi tiếng của Pháp, đă lặn lội tiến vào một nơi được xem là sống biệt lập với thế giới loài người, tại một hoang đảo xa xôi tận Thái B́nh Dương. Trên đường đi có một kư giả bị té ngă, khi đi qua một con suối và bị găy chân phải khiêng cáng.

Khi đoàn kư giả này tới th́ thấy một người đàn ông ngồi yên lặng, trên người chỉ một miếng da thú quấn ngang người mà thôi. Người đàn ông ra dấu đặt người kư giả bị găy xương nằm xuống trên một miếng da gấu, hai bên đặt hai bó đuốc bằng gỗ thông, xong ông đưa tay lên trời huơ huơ mấy cái, vừa huơ tay vừa đọc một tràng thổ ngữ kỳ lạ, rồi bất ngờ chỉ vào người bị găy xương và ra hiệu ngồi dậy.

Lạ lùng thay, người kư giả này tự nhiên không c̣n đau đớn nữa và đứng dậy một cách tự nhiên. Người đàn ông sau khi ra tay cứu giúp người kư giả bị nạn, liền quay qua bên cạnh chỉ vào một cái thùng sắt sét rỉ ra dấu như ngầm bảo:

- Các ông hăy đem vật này ra khỏi nơi đây!

Rồi lặng lẽ đi vào một cái hang sâu đầy rêu và rễ cây che phủ. Cùng lúc đó dân trong bộ lạc đứng nh́n từ xa trên các gộp đá, cũng thoăn thoắt chạy vào hang động.

Đoàn kư giả quan sát kỹ cái thùng sắt th́ thấy ngoài thùng có chữ mờ nhạt về dấu hiệu quân đội Đức. Có lẽ vật này từ một máy bay Đức bị lạc hướng đă rơi xuống trong thời thế chiến thứ II và dân trong bộ lạc không muốn giữ lại những ǵ từ thế giới đầy vật chất bên ngoài.

Sự lẩn tránh của họ đă nói lên điều đó. Đoàn kư giả không t́m ra được người nào trong bộ lạc, tất cả ẩn tránh không muốn tiếp xúc với thế giới bên ngoài.

Các hang động đều đóng kín bởi các khối đá lớn. Các kư giả Pháp suy đoán rằng người đàn ông ngồi chờ họ, là trưởng bộ lạc hoặc nhà phù thủy. Điều kỳ lạ là không hiểu nhờ đâu, mà ông ta biết được đoàn kư giả này sẽ đến, và trong đoàn có người bị tai nạn găy chân, để chuẩn bị trước mọi thứ cần thiết.

Ngoài ra phương cách trị găy xương như vậy, rơ ràng vượt khỏi tính cách khoa học của ngành Y khoa hiện đại, nhưng kết quả lại hoàn toàn thành công. Phải chăng cư dân ở đây chữa trị chỉ bằng hiện tượng siêu linh huyền bí?

William Hals Rivers 1864-1992, nhà nghiên cứu nổi tiếng về văn minh của các bộ tộc hoàng gia, đặc biệt là các vùng hoang đảo thuộc các Châu Đại Dương, đă cho rằng nhiều nơi tuy cư dân thưa thớt, man dă nhưng đời sống tâm linh lại rất cao.

Theo Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Phương 1989, th́ có những thổ dân chữa bệnh không cần thuốc như tại Phi Luật Tân, nhiều nhà phẫu thuật đă dùng loại năng lực thuộc lănh vực tâm linh, để giải quyết thành công các ca phẫu thuật, có người cho rằng họ là con cháu của những người thuộc bộ lạc Kahyna đă mai một.

Có lẽ thiên nhiên quá gần gũi với họ, đă ḥa tâm hồn vào vũ trụ cùng với biển cả bao la, lại không bị vật chất ràng buộ,c nên trí óc họ sáng và dễ thu nhận những sự kiện huyền diệu, thuộc lănh vực tâm linh chan ḥa trong vũ trụ tự nhiên.

Theo Rives th́ nhiều bộ tộc có lắm người truyền cho nhau tư tưởng qua không gian, như hiện tượng telepathic (thần giao cách cảm). Phải chăng điều nhận xét của nhà nghiên cứu lỗi lạc Rivers, đă chứng minh rơ ràng qua chuyến thám hiểm, của đoàn kư giả Pháp vừa kể trên.

NĂNG LƯỢNG TINH THẦN 

Những nhà khoa học tiên phong xâm nhập thế giới huyền bí, để nghiên cứu t́m hiểu xem năng lượng tinh thần, là phần quan trọng trong vấn đề nghiên cứu hiện tượng siêu h́nh.

Theo họ năo bộ người là một cái b́nh Ác-quy siêu đẳng và huyền bí rất nhiều. Bộ năo người phát sóng và thu sóng, phát điện và thu điện trong tự nhiên vũ trụ. Tuy nhiên sự vận hành, thu phát, chuyển biến c̣n tùy ở cơ thể người mang bộ năo.

Dưới mắt nhà khoa học, họ không chỉ tập chú vào các vị Lạt ma, các nhà tu hành nơi các hang động thâm sâu, hay trong các đạo viên khuất sau rặng tuyết sơn, mà nghiên cứu toàn thể bộ năo người.

Lư do là những con người không trải qua quá tŕnh tu luyện nào cả, nhưng vẫn có được một năng lượng tinh thần rất lớn, họ có thể nh́n xuyên qua vách tường, xuyên qua sắt thép, xuyên qua khoảng cách rất xa.

Có người c̣n dùng năng lượng tinh thần, để làm cháy đồ vật hay làm cho các hạt nảy mầm, có người sử dụng năng lượng tinh thần, để chữa bệnh hay chuyển di tư tưởng, tiếp nhận ư nghĩ của người khác v.v...

Nga từ lâu đă thành lập viện nghiên cứu óc năo. Viện này quy tụ nhiều nhà khoa học lỗi lạc. Họ hy vọng việc nghiên cứu bộ óc, sẽ khám phá ra những điều mới lạ, đồng thời mở được cả cánh cửa Huyền môn để vào thế giới, mà từ lâu loài người thường cho là thế giới vô cùng huyền bí.

Bề ngoài thế giới chỉ biết được mục đích của việc nghiên cứu này ở Moscow, là t́m hiểu sự liên hệ giữa bộ óc và thiên tài, năng khiếu của một con người như thế nào. Nhưng tàng ẩn bên trong là những nghiên cứu, có liên quan đến các sự kiện vượt ra ảnh hưởng của trường vật lư, của quả đất mà con người đang sống.

Những sự kiện mà từ lâu, con người bán tín bán nghi như ma quỷ, sự xuất hồn hay nhập hồn, sự thông linh, suy đoán tương lai, sự đọc, hiểu tư tưởng kẻ khác hay nghe, thấy từ khoảng cách rất xa theo kiểu thiên lư nhĩ, thiên lư nhăn...

Hoa Kỳ cũng không bỏ qua lănh vực nghiên cứu vừa kể. Viện nghiên cứu óc năo của họ được trang bị đầy đủ các loại máy móc tối tân, với vô số các nhà bác học lỗi lạc tập trung nghiên cứu.

Nơi đây các bộ năo được lưu trữ, không những là của các danh nhân thế giới sau khi qua đời, mà c̣n là của những con người b́nh thường, nhưng có khả năng kỳ diệu về thấu thị, về chuyển di tư tưởng, chữa bệnh qua khoảng cách, nh́n xuyên suốt không gian..

Các khám phá từ lâu cho biết, bán cầu năo phía bên trái là cơ sở quan trọng của tư tưởng trừu tượng, nơi đây có thể là phần quan trọng cho các hoạt động thuộc lănh vực tâm linh huyền bí.

Mới đây, các nhà khoa học c̣n t́m thấy một cơ phận kỳ diệu khác, có liên quan đến hiện tượng tâm linh: đó là tuyến tùng quả (Pineal gland) nằm trong hốc năo.

Một khám phá mà Nga trong năm 1995, đă tập trung nghiên cứu là năng lượng bộ năo người chết, c̣n khả năng phát điện một thời gian dài. Theo các nghiên cứu về óc năo, th́ sau khi con người chết đi, dù họ đă sống được một trăm năm, năng lượng của bộ năo của họ cũng chỉ mới sử dụng một hay hai phần mười mà thôi.

Năng lượng c̣n lại ấy sẽ tiếp tục lan tỏa, truyền đi trong không gian. Chính v́ thế mà có hiện tượng mă phát mà các cụ xưa thường nói.

Theo nghiên cứu của viện nghiên cứu Nga và Pháp, th́ hiện tượng gọi là mă phát, chính là sự cộng hưởng giữa năng lượng hay điện năo, của bộ năo người đă chết với năng lượng hay điện năo người sống, qua hiện tượng di truyền liên kết.

Nhiều người b́nh thường như bao người khác, họ không phải là các đại sư, đă hằng bao năm khổ hạnh tu luyện trong các hang động, rừng sâu núi thẳm hay các phù thủy lừng danh, nhưng đôi khi lại có năng lực kỳ diệu phát sinh từ bộ năo.

TÂM LINH HUYỀN BÍ NƠI XỨ ĐỈNH TRỜI

Từ xưa đến nay có nhiều nhà nghiên cứu chuyên nghiệp và tài tử, về hiện tượng siêu h́nh, đă đi sâu vào những nơi, mà họ cho là trung tâm của các sự kiện huyền bí, để chứng kiến tận mắt những hiện tượng lạ lùng không thể giải thích được.

Thời ấy các nhà khoa học và dân tộc nổi tiếng như James Frazer, R. Muller, William Halse Ricers, Ions Veronica, Mbiti John, Wentz W. E, Osborne Harold... đặc biệt là một người đàn bà, mộtnữ văn sỉ tên là Alexandra David Neel, đă đơn phương độc mă trèo đèo vượt núi trong tuyết lạnh, để vào xứ sở của đỉnh trời là xứ Tây Tạng, không ngoài mục đích là t́m hiểu tận chỗ, những ǵ thuộc lănh vực siêu linh huyền bí.

Nhờ đó mà thế giới Tây phương mới biết được những cuộc sống lạ lùng của các vị Lạt Ma Tây Tạng, nhất là biết về những năng lực tâm linh kỳ bí, của những vị sư sống trong hang động, nơi mà Trời và Đất gần như ḥa nhau thành một.

Điểm đặc biệt đáng nhắc đến là nơi đây, các vị sư đều có khả năng cao về nhận thức, bộ năo luôn luôn được trong sáng, nên họ có thể hiểu nhau qua không gian hơn là biểu lộ bằng lời nói hay hành động.

Nhờ khả năng đọc được tư tưởng người khác, mà nhiều vị Lạt Ma Tây Tạng biết trước được những ǵ mà người khác đang dự tính trong đầu. Ngoài ra những vị này c̣n có khả năng kỳ diệu, là phân tích vầng màu sắc tỏa ra từ đầu bất cứ ai, để từ đó biết được ư tưởng tốt hay xấu, mà người đó đang dự định. Năng lực của con mắt thứ ba: Thần nhăn hay Huệ nhăn.

Trở lại vấn đề khả năng thông hiểu ư tưởng kẻ khác, cũng như thấy rơ và phân biệt vầng màu mà các vị Lạt Ma Tây Tạng có được, th́ đó lại là sự kiện có vẻ b́nh thường đối với người dân Tây Tạng.

Lư do dễ hiểu là từ tấm bé, họ đă được cha mẹ kể cho nghe chuyện cổ tích về người Tây Tạng thời cổ xưa, theo chuyện cổ này th́ thời xưa ấy, người Tây Tạng ai cũng có một nhăn lực đặc biệt, nhăn lực này không phải từ đôi mắt thông thường của con người, mà là từ một con mắt thứ ba này, mà người xưa gọi là Thần nhăn hay nói theo kinh điển là Huệ nhăn.

Về sau, v́ con người bị lôi kéo dần vào đường vật chất, ích kỷ, tham lam, sân hận, mê mờ nên trí óc không c̣n trong sạch, sáng suốt. Cuối cùng như tấm gương bị bụi mờ che kín, con mắt thứ ba trở thành u tối không c̣n sử dụng được nữa.

Các nhà nghiên cứu về Huệ nhăn, đă bắt gặp trong giới động vật h́nh ảnh trung thực nhất về con mắt thứ ba, một cách rơ rệt không chối căi.

Tuy nhiên câu hỏi tại sao lại có sự hiện hữu và công dụng thực tế, th́ lại c̣n lắm mơ hồ. Đặc biệt lạ lùng là ngay trong giới động vật có xương sống cấp dưới, th́ lại thấy hiện một cấu tạo giống như cấu tạo mắt b́nh thường, nghĩa là cũng có dây thần kinh, thủy tinh thể và vơng mạc...

Ngay cả loài cá, lưỡng thê, ḅ sát, chim, cả động vật, kể cả con người, cũng đều có dấu tích con mắt thứ ba. Khi khảo sát bộ xương của loài khủng long thời tiền sử, các nhà cổ sinh vật học cũng chú ư tới một chỗ lơm nơi phần sọ của loài ḅ sát khổng lồ này, và đă đoán nơi đây là vị trí của một cơ quan thị giác, hay nói theo suy tưởng của sự kiện đang bàn là "con mắt thứ ba".

Công dụng của con mắt này có lẽ để giúp các loài động vật thời cổ, không những thấy mà c̣n biết thêm, hay cảm nhận trước được t́nh trạng chung quanh như mưa, gió nhất là các vật thể nằm khuất ở vị trí phía trên đầu.

Những khám phá mới đây nhất vào năm 1996, từ một số nhà khoa học, đă cho biết là trong năo người có một cái tuyến tuy rất nhỏ, chỉ bằng hạt đậu xanh, nhưng nhiệm vụ của tuyến này rất kỳ diệu, chỉ tiết ra loại nhân hóa tố đặc biệt với một lượng rất nhỏ, trong trường hợp con người đang chú tâm cầu nguyện, với tất cả thành tâm, hay vào các giai đoạn con người ở t́nh trạng nguy biến, thập tử nhất sinh.

Cái tuyến lạ lùng đó là tuyến Tùng quả (Pineal gland). Khi phân hóa tố của tuyến đi vào máu, th́ cơ thể sẽ có những phản ứng kỳ diệu bất ngờ, mà lúc b́nh thường không có được.

Các nhà sinh vật học c̣n khám phá ra rằng, tuyến Pineal gland c̣n có liên quan tới bộ phận, mà người Tây Tạng gọi là con mắt thứ ba. Chỉ những ai chịu vứt bỏ ḷng tham luyến sân si mê mờ, quyết tâm giữ ḷng trong sạch và tu tŕ mới có được Huệ nhăn.

Chính phần lớn các vị Đại sư Tây Tạng, những người ẩn cư nơi vùng núi cao tuyết giá, hay trong các Đạo viện thâm nghiêm, là có thể có năng lượng thượng thừa ấy mà thôi.

Tuy nhiên theo các vị đại sư, th́ không phải tất cả các vị chân tu Tây Tạng đều có Thần nhăn, hay Huệ nhăn như ta tưởng, v́ muốn có được Thần nhăn, th́ người đó phải hội đủ các điểm cần yếu như đă nói trên, mà c̣n phải có Thần lực đặc biệt, kết hợp với các pháp môn tu luyện cao siêu mới được.

Phép tu luyện cao siêu đó có mục đích là để khai mở Huệ nhăn. Một khi đă có Huệ nhăn rồi, th́ dù ngồi tĩnh tọa trong viện, nơi núi cao hay trong rừng sâu, vẫn có thể thấy được những ǵ xảy ra ở khoảng cách rất xa, hay chuyển di tư tưởng đến một nơi nào đó cho ai.

Tại Tây Tạng, nơi nhiều Đạo viện thường có những buổi thực tập về phép chuyển di tư tưởng, giữa các hàng đệ tử trong giai đoạn tu luyện các phép thần thông. Phương cách thực tập rất khoa học, lúc đầu hai người đệ tử ngồi cạnh nhau, để chuyển tư tưởng cho nhau. Khi bắt được tư tưởng của nhau rồi, th́ khoảng cách tĩnh tọa giữa hai người này, sẽ ở vị trí xa hơn.

Cứ thế mà về lâu về dài, họ có thể đạt tới khả năng truyền tư tưởng cho nhau qua khoảng cách rất xa: hoặc từ đạo viện này đến đạo viện khác, từ hang động này đến hang động khác...

Theo bà Alexandra David Neel, th́ nơi dăy Hy Mă Lạp Sơn tuyết phủ im ĺm hoang vắng, nhưng lại là nơi các nguồn tư tưởng của các vị ẩn tu giăng bủa khắp nơi.

 

                                                                            ST

 

                                                                                      

                                                                                                        

 

 

 

 

 

 

Quay trở về đầu Xem hiendde's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi hiendde
 
hiendde
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 07 November 2006
Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 2516
Msg 1342 of 2534: Đă gửi: 15 March 2009 lúc 6:46pm | Đă lưu IP Trích dẫn hiendde

 

LINH MỤC TRƯƠNG BỬU DIỆP

 

 

Trưa Thứ Bảy 14-3-2009, tại hội trường giáo xứ Saint Polycarp, thành phố Stanton, Hội Những Người Con Cha Trương Bửu Diệp, đă long trọng tổ chức: Lễ Giỗ Linh Mục Phanxicô Trương Bửu Diệp 1797-1946.

Trên bốn trăm giáo dân và đồng hương, đa số là những người đă nhận được ơn phước, từ sự cầu nguyện Linh Mục Trương Bửu Diệp, đă có mặt rất sớm để tỏ ḷng biết ơn và chia sẻ phép lạ mà ḿnh đă nhận được.

Buổi thánh lễ do Linh Mục Phan Phát Huồn, Ḍng Chúa Cứu Thế chủ tế, cùng với vị đồng tế là Linh Mục Trần Quư Thiện. Đặc biệt có sự hiện diện của ông Huỳnh Kim, cùng một số vị đại diện Phật Giáo Ḥa Hảo.

Trong lời ngỏ trước buổi lễ Giáo Sư Nguyễn Lư Tưởng, đại diện ban tổ chức cũng đă chia sẻ những suy nghĩ của ông, về những phép lạ mà Linh Mục Phanxicô Trương Bửu Diệp đă ban cho mọi người mỗi khi khó khăn.

"Chính ông cũng đă nhận được biết bao ơn lành của Chúa, qua lời cầu bầu của Cha Trương Bửu Diệp"

Linh Mục Phanxicô Trương Bửu Diệp sinh ngày 1-1-1897, được Cha Giuse Sớm rửa tội ngày 2-2-1897 tại họ đạo Cồn Phước làng Tấn Đức, nay thuộc ấp Mỹ Lợi, xă Mỹ Luông, Chợ Mới tỉnh An-Giang.

Cha ngài là Micae Trương Văn Đặng 1860-1935. Mẹ ngài là Lucia Lê Thị Thanh. Gia đ́nh sinh sống tại họ đạo Cồn Phước. Năm 1904 lúc ngài lên bảy tuổi th́ mẹ mất. Theo cha, gia đ́nh dời lên Battambang Campuchia sinh sống bằng nghề thợ mộc.

Tại đây thân phụ ngài tục huyền với bà Maria Nguyễn Thị Phước sinh năm 1890, quê quán họ Mỹ Luông, Chợ Mới An Giang. Kế mẫu đă sinh cho ngài người em gái tên là Trương Thị Th́n 1913, hiện c̣n sống tại họ đạo Bến Dinh, xă Tân Ḥa, huyện Thanh B́nh tỉnh Đồng Tháp.

Năm 1909 Cha Phêrô Lê Huỳnh Tiền, cho ngài vào tiểu chủng viện Cù Lao Giêng, xă Tấn Mỹ, Chợ Mới An Giang. Măn tiểu chủng viện, ngài lên Đại Chủng Viện Nam Vang, Campuchia lúc đó các họ đạo khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long, trực thuộc giáo phận Pnom Penh, Campuchia.

Năm 1924 sau thời gian tu học, ngài được thụ phong linh mục tại Nam Vang, thời Đức Cha Gioan Bí Tích Chabalier. Lễ vinh quy và mở tay được tổ chức tại nhà người cô ruột là bà Sáu Nhiều, tại họ đạo Cồn Phước.

Năm 1924-1927, được bề trên bổ nhiệm làm cha phó họ đạo Hố Trư, một họ đạo của người Việt Nam sinh sống tại tỉnh Kandal, Campuchia. Năm 1927-1929, ngài về làm giáo sư tại Tiểu Chủng Viện Cù Lao Giêng.

Tháng Ba năm 1930 ngài về nhậm họ đạo Tắc Sậy. Trong những năm làm cha sở, ngài quan hệ giúp đỡ, thành lập nhiều họ đạo vùng phụ cận như: Bà Đốc, Cam Bô, An Hải, Đầu Sấu, Chủ Chí, Khúc Tréo, Đồng G̣, Rạch Rắn.

Hoàn cảnh xă hội nhiễu nhương năm 1945-1946, chiến tranh loạn lạc bà con nhân dân di tản, Cha Bề Trên địa phận Phêrô Trần Minh Kư ở Bạc Liêu và cả người Pháp cũng gọi ngài lánh mặt, khi nào t́nh h́nh yên ổn th́ trở về họ đạo, nhưng ngài trả lời: “Tôi sống giữa đoàn chiên và nếu có chết cũng giữa đoàn chiên. Tôi không đi đâu hết.”

Ngày 12 Tháng Ba 1946, ngài bị bắt cùng với trên bảy mươi người giáo dân tại họ Tắc Sậy, bị lùa đi và nhốt chung với bổn đạo tại lẫm lúa của ông giáo Sự ở Cây Dừa. Do sự tranh chấp giữa các giáo phái, v́ bênh vực quyền lợi của giáo dân, ngài đă chết thay thế cho những người bị bắt chung. Ngài mất trong khi thi hành nhiệm vụ chủ chăn. Xác ngài được vớt lên từ một cái ao của ông giáo Sự với vết chém sau ót ngang mang tai.

Thi hài ngài được chôn cất trong pḥng thánh nhà thờ Khúc Tréo. Đến năm 1969 hài cốt ngài được di dời về nhà thờ Tắc Sậy, nhiệm sở của ngài thi hành chức vụ chủ chăn trong mười sáu năm. Ngôi nhà mồ của ngài hiện nay, được trùng tu và khánh thành ngày 4-6-1989. Ngài là Cha sở thứ nh́ của họ đạo Tắc Sậy.

Lời Đức Kitô đă dạy: Người mục tử tốt lành hiến mạng sống v́ đoàn chiên. Linh Mục Phanxicô Trương Bửu Diệp đă thực hiện lời Đức Kitô trong cuộc sống, ngài đă hiến dâng cuộc đời ḿnh cho Thiên Chúa, ngài đă hy sinh mạng sống ḿnh v́ đoàn chiên. Chúng ta có thể tóm tắt cuộc đời của Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp là:

"Tận Hiến Cuộc Đời Cho Thiên Chúa. Hy Sinh Kiếp Sống Giúp Con Người. Sống Hiến Thân Phó Thác. Chết Nêu Gương Sáng Ngời. Để một Đời Dâng Hiến. Trọn Kiếp Vinh Quang”

Hàng ngàn người lương giáo gần xa, đă đến Tắc Sậy với cha Phanxicô để nguyện cầu, để khấn xin, để trút những nỗi lo, gánh nặng vật chất, tinh thần để ngài chuyển lên Thiên Chúa và Thiên Chúa đă chấp nhận chúc phúc cho những khấn ước, nguyện xin. Xin cảm tạ hồng ân Thiên Chúa đă vinh quang qua Cha Phanxicô.

 

 

Cha Trương Bửu Diệp

 

                                       

Nhiều người đă đến, đă ở lại, đă trở về, để c̣n nhớ:

“Ra về c̣n nhớ Tắc Sậy.

Xứ đạo nhỏ bé śnh lầy đường xa.

Hồng Ân Thiên Chúa ban ra.

Đoàn con lương giáo gần xa viếng Người.

Những ai đau khổ đôi phần.

Nguyện xin Cha thánh đỡ đần ủi an.

Những ai gặp bước gian nan.

Nguyện xin Cha thánh lo toan mọi bề.

Những ai đau khổ đường về.

Cậy trông Cha thánh tràn trề hồng ân.”

Tiểu sử này do cha Nguyễn Ngọc Tỏ viết, ngài hiện là cha sở họ Tắc Sậy, nơi có mộ Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp.

 

 

                                                            Vũ Đ́nh Trọng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Quay trở về đầu Xem hiendde's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi hiendde
 
hiendde
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 07 November 2006
Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 2516
Msg 1343 of 2534: Đă gửi: 15 March 2009 lúc 7:01pm | Đă lưu IP Trích dẫn hiendde

 

LINH MỤC TRỪ QUỶ

 

Cảm Nghiệm Trừ Ma Quỷ Của Linh Mục Hoàng Kim Đại, Bến Tre, Việt Nam

Linh mục Hoàng Kim Đại đă sang thăm Hoa Kỳ và đến dâng Thánh lễ, với nhóm cầu nguyện Mân Côi của chúng tôi. Trước thánh lễ, cha Đại đă chia sẻ cảm nghiệm trừ ma quỷ của ngài. Sau đây, chúng tôi xin đăng tải lá thư của ngài về việc trừ ma quỷ và các công tác bác ái xă hội.

- Tôi là Linh mục Giuse Hoàng Kim Đại, phụ trách ba họ đạo: Chợ Lách, Nhân Nghĩa và Thới Lộc, thuộc huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, giáo phận Vĩnh Long, xin kể một trường hợp tôi đă nhân danh Chúa mà trừ ma quỷ, để mọi người thêm ḷng tin vào Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế duy nhất.

Cô Nguyễn Thị Thoa ba mươi lăm tuổi, ngoại đạo, sinh sống ở xă An Phước, huyện Măng Thít, tỉnh Vĩnh Long. Cô không biết chữ bị ma nhập đă nhiều năm.

Gia đ́nh đưa cô đến thầy pháp ở Chợ Lách để trừ ma. Thầy pháp đă dùng tà thuật để trừ ma, nhưng chỉ được một thời gian, ma lại nhập trở lại. V́ thế, gia đ́nh cô đă cho cô làm con nuôi ông thầy pháp, để kịp thời trừ ma mỗi khi bị ma nhập.

Sau một thời gian dài, ông thầy pháp trừ không dứt được, nên ông đă giới thiệu cô tới nhà thờ Chợ Lách, để nhờ vị Linh mục là tôi trừ ma cho cô.

Tôi đă nhờ giáo lư viên dẫn cô vào nhà thờ, và để cô quỳ trước bàn thờ. Khi bị ma nhập cô ôm bụng đau đớn, vẻ mặt ngơ ngác lấm lét, không dám nh́n lên thánh giá.

Sau khi giơ tay trên cô và cầu nguyện nhân danh Chúa Giêsu, tôi truyền cho tà ma phải xuất ra. Cô liền té ngửa bất tỉnh khoảng ba phút, rồi tỉnh lại như người b́nh thường.

Tôi dạy cô cầu nguyện với Chúa Giêsu và khẳng định rằng chỉ có Chúa mới cứu cô mà thôi. V́ thế cô hăy cầu nguyện hằng ngày để ma quỷ sợ mà tránh xa.

Lời nguyện vắn tắt như sau :

“Lạy Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế, xin Chúa cứu con khỏi tà thần ma quỷ. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen.”

Sau khi khỏi bệnh, cô trở về tiếp tục làm con nuôi ông thầy pháp. Ông thầy pháp đồng ư cho cô gia nhập đạo. Trong thời gian học đạo, cô bị ma nhập lại ba lần và tôi đă cầu nguyện như lần trước và ma đă xuất ra.

Lần sau cùng tôi hỏi tên hồn ma, và hồn ma nói tên là Ngô Văn Sáu, là người bà con của cô, đi chăn trâu và bị trâu húc vào bụng mà chết, nên mỗi khi hồn ma nhập vào, th́ cô ôm bụng đau đớn.

Người con trai út của thầy pháp, khi thấy chị nuôi hết bịnh, đă xin học giáo lư để gia nhập đạo.

Hiện nay cô đă trở về gia đ́nh, không c̣n làm con nuôi ông thầy pháp nữa. Và cô đă có một đứa con gái ngoài ư muốn. Gia đ́nh cô rất nghèo. Những ngày lễ trọng, cô thường đến nhà thờ Chợ Lách dự lễ.

                                                     

                                                                        LM Hoàng Kim Đại

 

 

 

 

 

 

 


Quay trở về đầu Xem hiendde's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi hiendde
 
hiendde
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 07 November 2006
Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 2516
Msg 1344 of 2534: Đă gửi: 15 March 2009 lúc 7:26pm | Đă lưu IP Trích dẫn hiendde

 

TRUYỀN THUYẾT VỀ NGÀY CỦA QUỶ

 

Ở các nước phương Tây với đa số dân theo Công giáo, con số 666 được xem là con số của quỷ. Ngày 6-6-2006, ứng với con số huyền bí 666, sẽ xảy ra chuyện ǵ? Đương nhiên sẽ là chuyện không ha,y bởi những ǵ liên quan đến quỷ th́ có ǵ là tốt. Nhưng không phải ai cũng tin như thế.

6-6-2006 là ngày duy nhất trong thế kỷ hai mươi mốt này, có dăy số 666 huyền bí. Xưa nay người ta sợ con số này, bởi trong quyển cuối cùng của bộ kinh Tân Ước, thường gọi là sách Khải huyền, con số 666 được cho là dấu ấn đáng sợ của quỷ Sa-tăng.

Con số 666 rất ấn tượng này thật ra không phải là “đặc sản” của Công giáo. Nhiều tôn giáo và nền văn hóa khác cũng xem con số này là xui xẻo, chỉ mang lại tai họa. 

Lo lắng nhất phải kể đến các thai phụ sắp sinh con trong tháng này. Trên website của tạp chí Mẹ và con, xuất bản tại London, các bà bàn luận sôi nổi chuyện nên hay không nên sinh con vào cái ngày đáng nguyền rủa ấy.

Bà Francesca Renouf nói bà lo sợ đến nỗi buộc một bác sĩ bảo đảm với bà rằng, sẽ không có chuyện sinh con vào ngày 6-6-2006. Một thai phụ khác Melissa Parker, tâm sự trên tờ The Sun:

- Mỗi ngày tôi thức giấc với linh cảm sắp có chuyện chẳng lành. Nghĩ tới cảnh sinh khó hoặc sinh ra một đứa con có mầm mống của cái ác trong người vào ngày 6-6-2006 là tôi hăi hùng. Tệ hơn nữa, đứa bé có thể chính là quỷ dữ bằng xương bằng thịt.

Nhưng có nhiều thai phụ khác không quan trọng hóa vấn đề như bà Parker. Thậm chí họ c̣n định đặt tên con theo tên nhân vật trong các phim kinh dị.

Ví dụ bà Emma Parker cho biết sẽ đặt tên con là Damien, tên đứa con trai hiện thân của quỷ trong phim The Omen nổi tiếng. Một bà khác tên Donna Magnante, chọn tên Regan, một nhân vật trong phim The Exorcist.

Sách Khải huyền có nhiều đoạn tŕnh bày thiếu khúc chiết có thể hiểu nhiều cách. Con số 666 nằm trong một đoạn như thế, cụ thể ở chương mười ba, từng gây tranh căi giữa các học giả.

Một số học giả cho rằng người ta đă hiểu sai. Con số của quỷ chính xác là 616 chớ không phải 666. Tuy nhiên, xưa nay người ta vẫn thiên về dăy số 666 bởi cái vẻ huyền bí của nó.

Phillips Stevens Jr. giáo sư khoa nhân chủng học, thuộc Đại học Khoa học và Mỹ thuật nhận xét:

- Khải huyền là một cuốn sách phức tạp và lộn xộn. Các học giả đă t́m thấy nhiều 'con quỷ' trong chương mười ba và nhiều chương khác. Tất cả đều nói về Rome, các hoàng đế La Mă, các kiểu thờ thần La Mă và thờ cúng hoàng đế.

Theo giáo sư Stevens, cũng giống như mọi kiểu mê tín dị đoan, cái gọi là con số của quỷ dựa trên một dữ liệu sai. Chữ "quỷ" trong sách Khải huyền không chỉ quỷ Sa-tăng mà là nhiều thực thể khác nhau. Tác giả sách Khải huyền là John ở Patmos, mà người ta thường gọi là thánh John tông đồ.

Ông viết cuốn sách này với ít nhiều mật mă. Giáo sư Stevens cho rằng dăy số 666, dấu ấn của quỷ, có nghĩa là những người tận tâm phục vụ hoàng đế La Mă, cũng đồng nghĩa với chống Chúa. Nó cũng là con số tương đương với số từ Nero Caesar (vị hoàng đế La Mă cuối cùng của triều đại Julio-Claude khét tiếng độc ác) trong tiếng Do Thái.

Ai lo sợ mặc ai, riêng giới kinh doanh ngành công nghiệp giải trí lại thấy ngày 6-6-2006 là một cơ hội trăm năm mới có để biến quỷ thành vàng.

Ngày 6-6 tới, hăng phim 20th Century Fox sẽ tung ra phim The Omen. Làm lại từ bộ phim ma quỷ cùng tên nổi tiếng ăn khách năm 1976, đạo diễn John Moore cho biết ư nghĩa sâu xa của phim The Omen mới là b́nh phẩm một thế giới thời hậu 11-9-2001.

Phần mở đầu là những đoạn phim tư liệu quay cảnh sụp đổ của ṭa tháp đôi ở New York, vụ nổ tàu con thoi Columbia, thảm họa sóng thần ở châu Á cuối năm 2004, h́nh ảnh tù binh Iraq bị làm nhục trong nhà tù Abu Graib. 

Nếu bắt đầu từ 1-8-1914 là ngày bùng nổ thế chiến thứ nhất, khoảng cách 666 ngày có một ư nghĩa đặc biệt. Nhân với 666 ta sẽ có một tháng tương ứng đánh dấu bằng những sự kiện tiêu cực với xác suất cộng trừ vài tuần. Ví dụ:

- 5 x 666: Tháng 9-1923. Đúng ngày 1-9, một trận động đất 8,9 độ Richter đă tàn phá một khu vực lớn ở Tokyo.

- 11 x 666: Tháng 12-1941. Ngày 7-12, Nhật tấn công Trân Châu cảng. Mỹ buộc phải tham gia thế chiến thứ hai.

- 17 x 666: Tháng 8-1945. Ngày 6-8, Mỹ ném bom nguyên tử xuống thành phố Hiroshima.

- 34 x 666: Tháng 8-1976. Đây là thời điểm bùng phát một loạt thảm họa nhân đạo như bệnh Ebola ở châu Phi, động đất lớn nhất thế kỷ ở Trung Quốc ngày 28-7.

Trong thế giới tự nhiên cũng có những dăy số 666 đáng chú ư như nguyên tử carbon, thành phần cơ bản của sự sống, gồm có sáu hạt proton, sáu hạt neutron và sáu hạt electron.

Cựu Tổng thống Mỹ Ronald Reagan và phu nhân Nancy tin vào sự xui xẻo của dăy số 666. Ngôi nhà của vợ chồng ông ở bang California mang số 666. Khi về hưu, ông bà Reagan yêu cầu chính quyền đổi thành số 668.

Cái chuyện mê tín này không hiểu có phải bắt nguồn từ nguyên nhân sau đây: Tên đầy đủ của ông là Ronald Wilson Reagan mà tên đầu, tên lót và tên cuối, tên nào cũng gồm sáu chữ cái!



                                                                       Khoa Học

 

 

 

 

 

 

 

Quay trở về đầu Xem hiendde's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi hiendde
 
hiendde
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 07 November 2006
Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 2516
Msg 1345 of 2534: Đă gửi: 15 March 2009 lúc 7:56pm | Đă lưu IP Trích dẫn hiendde

 

CÁT TẤN CÔNG THÀNH PHỐ

 

Một trận băo cát dữ dội từ sa mạc bao phủ nhiều khu vực tại thủ đô Riyadh của Ảrập Xêút, che khuất các ṭa nhà và gây ách tắc giao thông.

Cả thành phố Riyadh nhuộm màu vàng bởi băo cát, khiến cuộc sống của khoảng bốn triệu người dân nơi đây xáo trộn. Băo h́nh thành do áp suất cao, ở các vùng thuộc miền bắc và miền trung nước này.

Tất cả chuyến bay tại phi trường quốc tế King Khalid buộc phải hủy bỏ do tầm nh́n bằng không. Người dân dùng khăn che mặt khi ra đường. Xe cộ di chuyển chậm chạp trên đường King Fahad ở trung tâm Riyadh.

Nằm giữa sa mạc Saudi, thành phố Riyadh thường xuyên hứng chịu những trận băo cát, nhưng trận hôm qua được mô tả là thảm họa. Một phát ngôn viên của chính phủ Ảrập Xêút nói:

- Nó là trận băo cát lớn nhất chúng tôi từng chứng kiến. Giao thông trên một đường cao tốc tắc nghẽn v́ các lái xe không nh́n thấy ǵ.

 

Cả thành phố Riyadh bị nhuộm màu vàng chết chóc bởi băo cát. Cuộc sống của khoảng 4 triệu người dân nơi đây bị xáo trộn.

 

 

 

 

                                                                     Daily Mail 

 

 

 

 

 

 

 

Quay trở về đầu Xem hiendde's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi hiendde
 
hiendde
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 07 November 2006
Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 2516
Msg 1346 of 2534: Đă gửi: 16 March 2009 lúc 4:59pm | Đă lưu IP Trích dẫn hiendde

 
BÍ MẬT VỀ NGÀN
 NGÔI MỘ KHÔNG XÁC
 
Trong ráng chiều vàng vọt, khi tán dừa đổ dài nối nhau vắt qua ḥn đảo, người đàn bà trẻ quỳ lạy bên nấm mồ khói hương nghi ngút. Nấm mồ chôn xác này được nặn bằng đất thay cho hài cốt của chồng chị không biết ở phương nào ngoài biển khơi mịt mùng.
Thi thoảng chị lại nh́n ra phía biển. Những ngọn sóng bạc đầu vẫn đuổi nhau bất tận. Trên đầu sóng ngọn gió không có tuổi ấy, chồng chị cùng với không ít người  dân trên ḥn đảo này đă ra đi mà không trở về.
Biển Đông có rất nhiều đảo, nhưng không đâu như đảo Lư Sơn Quảng Ngăi, có ước chừng tới cả ngàn ngôi mộ chôn những pho tượng đất thay cho người chết như thế.

 

Lẫn trong những luống tỏi, trên những băi cát trắng hoang hoải, là những nấm mộ gió. Gió biển quanh năm vô t́nh gặm ṃn những nấm mộ đắp bằng cát trắng.

 

Người hiện nay vẫn âm thầm làm cái công việc làm phúc là nặn những cái xác bằng đất sét đó là một ông thầy cúng kỳ lạ. Mấy chục năm nay, ông lặng lẽ lên núi Giếng Tiền đào đất về nặn xác, gọi hồn người chết trở về để phần nào làm vơi đi nỗi đau mất người thân của không ít người dân trên đảo.

 

Ông là Vơ Văn Toại năm nay 70 tuổi. Tướng mạo không có ǵ đặc biệt, ngoài mái tóc bạc trắng như cước. Gặp ông sau một đám tang, nhắc đến những ngôi mộ gió trên đảo, ông Toại liền dẫn tôi ra ngôi miếu thiêng thờ hải đội Hoàng Sa nằm giữa đảo. 

 

Theo ông Toại, tục đắp mộ gió của người dân trên đảo có cách đây hơn 200 năm. Những ngôi mộ gió có thể nói là đầu tiên trên đảo là mộ của Phạm Quang Ảnh cùng với 24 lính của hải đội Hoàng Sa.

 

Ngày ấy Phạm Quang Ảnh cùng với 70 suất lính với 5 chiến thuyền làm nhiệm vụ canh giữ vùng biển và đo đạc thủy tŕnh, t́m kiếm, khai thác những sản vật quư cung tiến triều đ́nh. Mỗi chuyến ra khơi có khi kéo dài tới 6 tháng.

 

Phương tiện ra khơi ngày ấy khi đó chỉ là những chiến thuyền nhỏ. Chuyến đi dài ngày, sóng to gió lớn, băo gió thường xuyên, lại không ít lần gặp cướp biển, nên nhiều chiến thuyền đă ra đi măi măi, không một người trở về. Rồi một lần Phạm Quang Ảnh cùng hải đội của ḿnh đă gặp băo, mất tích giữa biển khơi... 

 

Vua Gia Long đau ḷng, ra tận đảo làm lễ chiêu hồn cho các tử sĩ. Trong đoàn tùy tùng phục vụ lễ chiêu hồn có một thầy phong thủy nổi tiếng nhất thời bấy giờ.

 

Thầy phong thủy sai dân chúng lên núi Giếng Tiền lấy đất sét về, nhào nặn cho nhuyễn, rồi tự tay ông nặn đất thành h́nh 25 người đă chết. Ông cứ nặn đến khi nào những người thân thấy giống người chết mới thôi.

 

Nặn xong 25 tượng đất của hải đội, ông lập đàn cúng chiêu hồn ṛng ră suốt đêm, gọi linh hồn các tử sĩ nhập vào tượng đất, rồi đem an táng như người chết b́nh thường, cũng quần dài, áo the, khăn xếp, cũng quan quách đầy đủ.

 

Cai đội Phạm Quang Ảnh được chôn đầu tiên, sau đó là 24 lính, xếp thành một hàng gồm 25 nấm mộ.

 

Sau này, qua nhiều lần mưa gió, xói ṃn, đắp lại, 25 ngôi mộ riêng biệt đă thành một ngôi mộ lớn, dài hơn chục mét như ngày nay. Và cũng từ đó những người dân đi biển không may gặp nạn không vớt được xác, người thân của họ trên đảo đắp mộ gió cho họ.

  

Từ ngày có tập tục làm mộ gió, cách nay đă gần 200 năm, đảo Lư Sơn luôn có một người duy nhất làm công việc này.

 

Trước khi ông thầy cúng chết, bao giờ họ cũng gọi một người tin cậy, không nhất thiết là người thân, đến bên cạnh và trao lại tất cả những tài liệu hướng dẫn cách nặn tượng, cúng chiêu hồn. Người được giao phó trọng trách đều dốc hết tâm sức làm việc.

 

Theo ông Toại, hồi ông nhận trọng trách kỳ lạ này, cứ như thể ông là người khác, ngày đêm ông miệt mài vùi đầu vào đống tài liệu và không hiểu sao cái đầu của ông khi ấy sáng suốt đến vậy, cứ đọc đâu thuộc đấy. 

 

Trung b́nh, mỗi năm ông nặn tượng, gọi hồn, làm lễ an táng cho trên dưới chục người chết mất xác ngoài biển.

 

Đau ḷng nhất là sau những trận băo lớn, có khi ông Toại phải làm lễ an táng một lúc cho cả chục ngư dân. Người ta dựng lều trước biển, sắp cả dăy quan tài. Ông Toại thâu đêm suốt sáng nặn tượng trong khói hương nghi ngút và gió biển lồng lộng.

 

Việc nặn tượng thay h́nh người chết rất công phu. Ông phải lên đỉnh núi Giếng Tiền, là miệng núi lửa đă nằm im từ hàng triệu năm trước để lấy đất sét.

 

Số lượng đất sét lấy được phải đủ để đắp một h́nh nhân có kích thước như người thật. Cũng chính v́ lư do dùng đất sét nặn h́nh người chết mà từ xưa đến nay người dân đảo Lư Sơn không bao giờ dùng đất sét làm nhà.

 

Ông Toại bảo rằng, cây dâu, con tằm là biểu tượng của cuộc sống thiên biến vạn hóa, sự xoay vần của trời đất. Con tằm ăn dâu, nhả ra tơ, đan thành kén, đẻ ra nhộng, sinh ra bướm, mới hóa con tằm.

 

Cũng chính v́ vậy mà ông dùng tơ tằm làm những sợi gân cho h́nh nhân. Cành dâu chẻ đôi xếp vào bụng tượng đất làm xương sườn. Đàn ông 7 nhánh, đàn bà 9 nhánh xương sườn. Xương sống, xương ống tay, ống chân đều được làm bằng thân cây dâu. Một vốc đất đen lấy ở chỗ ngă ba đường được nhào nước cho dẻo rồi nặn thành lá gan.

 

Đốt cây thụ đao, một giống cây bông trắng, trái chùm mọc nhiều trên đảo Lư Sơn để lấy than làm phổi. Than củi thụ đao rất lạ, cứ quánh vào nhau, trông như lá phổi thật. Mọi bộ phận của con người, từ mắt, mũi, miệng, tai...đều phải đầy đủ như một người thật.

 

Số đất sét lấy về phải được nặn bằng hết, bởi người ta tin rằng, đất sét c̣n thừa, rơi văi, cũng như xương thịt của người chết vẫn c̣n thất lạc. Những nét cơ bản của người chết phải được thể hiện rơ trên tượng.

 

Bước cuối cùng là dùng ḷng đỏ trứng gà quét lên khắp h́nh nhân. Khi trứng khô, trông da tượng như da người thật.

 

Tượng nặn xong th́ được mặc quần áo, đồ liệm giống như người thật, linh vị đặt trên mặt, rồi người ta khiêng đặt vào quan tài, để ông Toại làm lễ chiêu hồn. Lễ cúng chiêu hồn diễn ra rất dài. Ông Toại ngồi đọc hết mấy cuốn sách cúng trong khói hương nghi ngút.

 

Lời cúng gọi hồn nhập tượng rù ŕ trước sóng biển ào ào như những áng văn đầy mộng mị. Một cỗ thuyền mô h́nh, với những mâm lễ được thả xuống biển cúng linh hồn cùng các vị thần ngự ngoài biển khơi.

 

Cúng chiêu hồn xong, người ta tin rằng linh hồn người chết mất xác đă trở về nhập vào h́nh nhân để an nghỉ, phù hộ cho những người thân c̣n sống.

 

Người ta thả quan tài xuống huyệt và lấp đất, đắp mồ. Ngày giỗ, người thân ra mộ thắp hương, lễ thanh minh cũng đi tảo mộ như những ngôi mộ khác.

 

Với khí hậu khô nóng, mưa ít, nắng nhiều, nên những tượng đất dưới mộ ở đảo Lư Sơn được bảo vệ rất tốt. Theo ông Toại, nhiều nấm mộ gió được chôn từ hàng trăm năm trước, khi cải táng ra chỗ khác, tượng h́nh nhân vẫn nguyên vẹn.    

 

Đi khắp đảo Lư Sơn, đến băi tha ma nào cũng gặp mộ gió. Không có đất, người ta đắp mộ gió cả trong ruộng tỏi, ngay trong vườn nhà.

 

Những buổi chiều sóng yên bể lặng, tôi gặp rất nhiều đàn ông thắp hương quỳ lạy trước mộ gió. Họ tưới rượu trắng lên nấm mồ để cầu vong hồn phù hộ cho chuyến đi biển lúc rạng đông.

 

Những ngày biển động, sóng to gió lớn, những người đàn bà quỳ lạy trước mộ từ chiều đến nhọ mặt người mới đứng lên. Họ cầu linh hồn người đă chết phù hộ cho chồng, con thoát khỏi hiểm nguy trên biển.

 

 

 

 

                                                               Phạm Ngọc Dương

 

 

                                                  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                                                

                                                                  

Quay trở về đầu Xem hiendde's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi hiendde
 
hiendde
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 07 November 2006
Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 2516
Msg 1347 of 2534: Đă gửi: 16 March 2009 lúc 5:23pm | Đă lưu IP Trích dẫn hiendde

 

MỘT NGÔI MỘ CÓ "PHÉP MẦU"

 

Dư luận trên địa bàn huyện Thanh Oai Hà Tây, đang xôn xao về một ngôi mộ to đẹp, diện tích rộng tới 300m2 nằm ở giữa cánh đồng thuộc địa phận xă Thanh Mai.

Thời gian gần đây, lại có nhiều tin đồn rằng, tại ngôi mộ đó có “phép mầu”, phát ra năng lượng kỳ lạ có khả năng chữa khỏi bệnh. Sự thật ngôi mộ kỳ lạ đó có “phép mầu” và có chữa được bệnh hay không? Phóng viên đă đến t́m hiểu sự việc.

T́m Đến Ngôi Mộ Có “Phép Mầu”

Quả thật, đúng là theo lời đồn đại có một ngôi mộ được xây dựng khá đẹp, trang nghiêm giống như một lăng mộ của một vị quan lớn thời trung cổ, tại một thửa ruộng của gia đ́nh bà Bùi Thị Sinh ở giữa cánh đồng, ven đường 21B, ngôi mộ có diện tích rộng tới hơn 300m2...

Vào những ngày lễ, tết, rằm, mồng một lúc nào ngôi mộ này cũng tấp nập người ra vào thắp hương. T́m đến gia chủ của ngôi mộ kỳ lạ này chúng tôi được biết, ngôi mộ này chính là của cụ Cần, cụ thân sinh bà Bùi Thị Sinh, trước đây đă từng hoạt động cách mạng và hành nghề chữa bệnh cho nhân dân. Sau khi cụ mất hàng ngày vợ chồng bà Sinh thường xuyên có mặt tại ngôi mộ để trông nom, hương khói.

Giải thích về việc, tại sao ngôi mộ của cụ lại to đẹp hơn những ngôi mộ khác, bà Sinh cho biết:

- Năm 1983, khi cụ Cần qua đời, các “con bệnh” đă cùng nhau đóng góp hàng trăm triệu đồng, đưa linh cữu của cụ Cần về an táng vĩnh cửu tại đây, trên một thửa ruộng của gia đ́nh, ở giữa cánh đồng, ven đường 21B, chứ gia đ́nh lấy đâu ra nhiều tiền của xây mộ to như vậy.

C̣n giải thích về hiện tượng ngôi mộ của cụ Cần có “phép mầu”, phát ra năng lượng và có khả năng chữa được bệnh, bà Sinh cho chúng tôi biết:

- Ai đó đă tung ra thông tin ngôi mộ có phép mầu là không chính xác, là thông tin bịa đặt. Gia đ́nh tôi hàng ngày trông nom, hương khói ngôi mộ của cụ nhà, nhưng chẳng thấy có hiện tượng ǵ khác thường cả.

Và để chứng tỏ điều đó, bà Sinh đă dẫn chúng tôi ra tận ngôi mộ của cụ Cần, chúng tôi thấy ngôi mộ đó vẫn im ắng như bao ngôi mộ khác xung quanh. Bà Sinh giải thích thêm:

- không loại trừ tin đồn trên là hiện tượng mê tín dị đoan, thổi phồng sự thật của người nào đó, để thu hút nhiều người nhẹ dạ cả tin đến cúng lễ.

Điều đó càng được chứng minh, khi chúng tôi đến ngôi mộ của cụ vào ngày lẻ hàng tháng, được bà Sinh cho biết, hôm nay không có ai đến thắp hương.

Việc nhiều người khắp nơi đến thắp hương tại ngôi mộ là chuyện b́nh thường, thể hiện đạo lư tốt đẹp, thành tâm với người đă khuất có công ǵ lớn lao và không hề có chuyện mê tín ở đây. Bà Sinh cũng khẳng định với chúng tôi:

- Hầu hết những người bệnh về đây thắp hương, lễ bái là bệnh nhân của cụ Cần trước đây. Một số thông tin đồn thổi cho rằng, tại ngôi mộ của cụ Cần có phép màu, phát ra năng lượng có khả năng chữa bệnh là không có căn cứ khoa học.

Người Trong Mộ Có Khả Năng Ǵ?

Một người ở Hà Nội cho chúng tôi biết:

- Trước đây, tôi bị liệt cả hai chân, tưởng rằng vô phương cứu chữa, thế mà chỉ bằng một mảnh giấy nhỏ của cụ Cần, đă chữa khỏi bệnh cho tôi, trước sự ngỡ ngàng của các thầy thuốc. Tôi vô cùng biết ơn cụ và tháng nào tôi cũng có mặt ở ngôi mộ của cụ để thắp hương.

Qua t́m hiểu, được biết ngôi mộ đó là của cụ Nguyễn Đức Cần, sinh năm 1909. Theo lời kể của ông Ảnh, chồng bà Sinh th́ hồi c̣n sống cụ khá thông minh, thông thạo tiếng Pháp. Trước năm 1945, cụ tham gia hoạt động cách mạng tại chiến khu Việt Bắc.

Để yên tâm hoạt động cách mạng, khi lên Việt Bắc cụ đă gửi con gái út là Bùi Thị Sinh, làm con nuôi cho gia đ́nh ông Bùi Văn Hồ ở thôn My Hạ xă Thanh Mai. Năm 1955 từ Việt Bắc trở về cụ sinh sống tại Ngọc Hà, Hà Nội và làm nghề trồng hoa.

Không biết cụ luyện ở đâu nhưng vào những năm cuối thập kỷ 1970, hiện tượng cụ Cần chữa bệnh bằng năng lượng, đă lan truyền khắp đó đây gây xôn xao dư luận. Bản thân các con cụ cũng không biết, chỉ nghe cụ kể lại là được một người thầy ở miền núi, hồi c̣n hoạt động cách mạng dạy bảo.

Khi đó có rất nhiều người bị bệnh, trong đó có cả những người bệnh hiểm nghèo được chữa khỏi bằng phương pháp rất độc đáo, không cần dùng thuốc. Không cần hỏi bệnh.

Mà cụ chỉ nói những câu chuyện không ăn nhập ǵ với căn bệnh, rồi cụ đứng cạnh chiếc bàn, trên bàn là những mảnh giấy đă được cắt sẵn, lấy tay vê vê miếng giấy để truyền năng lượng vào giấy, sau đó đưa cho người bệnh bảo về nhà đốt lên và uống, có người th́ đặt lên ngực, lên mặt...

Cụ cần c̣n chữa được bệnh từ xa và chữa bệnh cho những người sinh sống, làm ăn ở tận nước ngoài, không có điều kiện gặp trực tiếp. Có người đến xin cụ được chữa bệnh, cụ bảo:

- Cứ về nhà là khỏi.

Và người bệnh đó khỏi thật...Điều đặc biệt, mặc dù chữa khỏi nhiều bệnh cho người bệnh, nhưng cụ không lấy của ai một đồng nào.

Theo các nhà khoa học, th́ có một số con đường dẫn đến khả năng chữa khỏi bệnh, bằng phương pháp truyền năng lượng như của cụ Cần, đó là bẩm sinh đă có, do tai biến, rồi dày công luyện tập Yoga... Đồng thời khả năng này là của riêng từng người, chứ không có khả năng truyền cho người khác.

Khi cụ mất “phú quư sinh lễ nghĩa”, đời sống của người dân cũng như những người được cụ chữa khỏi bệnh nâng lên, th́ số người qua lại đến ngôi mộ để thắp hương, tưởng nhớ công ơn của cụ ngày một nhiều và thường xuyên hơn. Chính v́ vậy, từ đây có những tin đồn thổi phồng sự thật, gây mất trật tự xă hội, an ninh chính trị ở địa phương.

Được biết, ngay sau khi nhận được thông tin tại ngôi mộ của cụ Cần có “phép mầu”, phát ra năng lượng chữa được bệnh, có đông người đến thắp hương, xă Thanh Mai đă cử cán bộ xuống tận nơi theo dơi, nắm bắt t́nh h́nh thấy rằng, không có biểu hiện mê tín dị đoan ở đây.

Nhưng những thông tin thổi phồng sự thật là không có căn cứ, gây hoang mang với người dân. Xă đang tiếp tục theo dơi nắm bắt t́nh h́nh, để kịp thời xử lư những hiện tượng mê tín dị đoan, giữ ǵn t́nh h́nh an ninh chính trị chung của địa phương, tránh mê tín dị đoan để tư lợi cá nhân.

 

                                                                     N.Hiếu

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Quay trở về đầu Xem hiendde's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi hiendde
 
hiendde
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 07 November 2006
Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 2516
Msg 1348 of 2534: Đă gửi: 16 March 2009 lúc 6:05pm | Đă lưu IP Trích dẫn hiendde

 

NHỮNG VỤ TRỞ VỀ BÍ ẨN

 

Từ thời cận đại đến nay, những h́nh thức biểu hiện chủ yếu của các tai nạn, mà loài người phải gánh chịu là việc mất tích của máy bay và tàu thuyền. Những vụ mất tích máy bay và tàu thuyền đă không c̣n là hiếm.

Nhưng điều kỳ lạ lại chính là sau khi mất tích một thời gian, chúng lại hiện trở về hoàn toàn nguyên vẹn. Những máy bay và tàu thuyền không có người lái, như là những linh hồn trở về Trái Đất từ một Vũ Trụ khác.

Năm 1985 tại vùng đầm lầy trong khu rừng rậm Niu Ghinê, người ta phát hiện thấy một máy bay chở khách hai động cơ, đă mất tích trước đó gần nửa thế kỷ. Điều khiến người ta không hiểu nổi là chiếc máy bay đó trông c̣n mới y như trước khi bị mất tích, không hề cũ đi hoặc biến dạng.

Số hiệu trên máy bay vẫn rơ ràng dễ đọc. Chiếc máy bay lấp lánh ánh bạc này mất tích trước đó bón mươi lăm năm, trên đường bay từ Manila Philippin đến đảo Mendanao. Trong khoang máy bay vẫn t́́m thấy những tờ báo tuần thứ ba, tháng 1-1937 ngày Chủ nhật.

Một nhóm chuyên gia hàng không của quân đội Indonexia được cử đến hiện trường. Sau khi xem xét nghiên cứu chiếc máy bay "như c̣n mới" đó, khi trở ra, ai cũng tái mặt và kinh ngạc. Ngành chủ quản phụ trách nghiên cứu, lập tức ra lệnh phong tỏa khu vực mới phát hiện ra chiếc máy bay đó.

Các điều tra viên lúc đầu khi mới trông thấy chiếc máy bay đó, không ai dám tin ở mắt ḿnh nữa. Vỏ ngoài của nó trông vẫn mới, thân máy bay hoàn toàn không có một tỳ vết nào, dưới ánh sáng mặt trời nó sáng lấp lánh như gương.

Các nhân viên điều tra tưởng rằng, cửa của nó chắc chắn bị gỉ sét rất khó mở, nhưng ngược lại vừa vặn quả đấm là mở được ngay, không hề có tiếng cót két hay răng rắc ǵ cả.

Vào trong khoang máy bay không thấy người nào dù là sống hay chết. Nhưng trong máy bay cốc giấy, mẩu thuốc lá và mấy tờ báo năm 1937 vẫn chưa ngả mầu vàng, dường như mới đó vẫn đang có người ngồi trong máy bay.

Trong một chiếc gạt tàn, có để một vỏ bao thuốc lá thơm, loại thuốc lá mác ấy lưu hành vào những năm 1930, nhưng vào thời Chiến tranh thế giới thứ II đă ngừng sản xuất.

C̣n những trang phục và kiểu đầu tóc trên tờ báo, đều thuộc thời kỳ kinh tế khủng hoảng và suy thoái ở Mỹ. Trong phích nóng vẫn c̣n cafe nóng hổi, và mùi vị của nó vẫn thơm ngon chưa hề bị biến mất.

Điều khiến cho các nhân viên điều tra ngạc nhiên nhất là t́nh trạng máy bay. Trong b́nh ắc quy của máy bay vẫn nạp đầy điện, chỉ vặn công tắc là đèn trong máy bay bật sáng. Thùng chứa nhiên liệu của máy bay hầu như vẫn đầy nguyên. Tất cả những điều đó khiến cho nhân viên điều tra sởn tóc gáy.

Chiếc máy bay đó trông như được hạ cánh khẩn cấp nhờ các bánh xe của nó, vừa may nó đỗ xuống được chỗ đất mềm trong vùng đầm lầy, nên hoàn toàn không bị hư hại ǵ, vẫn có thể bay trở lại như năm mươi năm trước đây.

Các nhà khoa học vẫn tiếp tục điều tra về bí mật của việc máy bay, đă mất tích từ lâu nay bỗng xuất hiện trở lại.

Theo ghi chép, những sự kiện tương tự cũng đă từng xảy ra vào thập niên sáu mươi. Một máy bay ném bom của Mỹ ngày 4-4-1946, không quân Mỹ huy động lực lượng t́́m kiếm suốt năm trăm km vùng trời nơi nó mất tích, nhưng không kết quả ǵ.

Bất ngờ vào năm 1962 chiếc máy bay đó, lại xuất hiện tại nơi cách sân bay mấy trăm mét. Thiết bị vô tuyến điện trên máy bay vẫn nguyên vẹn. Căn cứ theo phân tích máy móc thiết bị, dường như nó mới đáp xuống ngay chiều hôm đó, không ai nghĩ chiếc máy bay đă mất tích mười bảy năm.

Vào một ngày trời quang mây tạnh của năm 1984, tại bải cát miền Bắc Mexico bỗng xuất hiện năm chiếc máy bay quân sự Mỹ. Thân máy bay vẫn sáng bóng, thùng nhiên liệu vẫn chứa đầy xăng, nhưng trong máy bay th́ trống rỗng chẳng có một người.

Các chuyên gia Mỹ cho rằng: Cả năm chiếc máy bay đó điều mất tích từ hồi năm 1945, tại vùng biển tam giác Becmuda. Nhưng việc đó vẫn đang tranh luận, bởi có người nói rằng, phiên hiệu của máy bay đă mất tích nhiều năm lại xuất hiện trở lại, là một sự thực không thể phủ nhận được.

C̣n những sự kiện tàu thuyền đă mất tích xuất hiện trở lại, th́ vụ phát hiện tàu "Radahama" của Mỹ tại tọa độ 37' độ Vĩ Bắc 51 độ 55' độ Kinh Đông, vào tháng 8-1935 là vụ nổi tiếng.

Khi tàu buôn "Axochich" phát hiện ra tàu Radahama th́ trên tàu không có người nào cả. Điều khiến cho thuyền trưởng và các thuyền viên tàu "Axotich" kinh ngạc là khi họ từ nước Anh ra đi, th́ được thuyền trưởng tàu "Raicoxco" của Italia cho biết hồi trước tháng bảy, họ đă tận mắt trông thấy tàu "Radahama" bị đắm ở Đại Tây Dương.

Hơn một trăm năm trước đây, ở Đại Tây Dương cũng từng phát hiện được một tàu đă mất tích nhiều năm trước đó. Đó là con tàu Meri Sairaisto. Khi phát hiện ra nó th́ trên tàu không có người, nhưng những đồ quư giá như vàng bạc, kim cương vẫn nguyên vẹn, không hề suy suyển.

Xuồng cứu sinh và các đồ vật khác vẫn đầy đủ. Thậm chí trên tàu vẫn c̣n để lại những thứ trong bữa ăn đang ăn dở. Không biết người trên tàu đă bỏ đi đâu?

Đầu năm 1990, tàu buồm hai cột "Durixis" mất tích đă hai mươi bốn năm bỗng nhiên lại xuất hiện, nó đỗ ở một bải biển vắng vùng ngoại ô thành phố Caracat và Veneduela.

Ba thủy thủ trên tàu khi được phát hiện ra năm 1990, đều giật ḿnh ngạc nhiên. Ngày 6-1-1966 họ từ đảo Aroba ra khơi. Không ngờ khi họ vừa đánh bắt được con cá lớn, nặng tới 110 kg th́ băo ập tới.

Mọi người vội vă đưa nhau đi tránh gió. Nào ngờ cơn hoảng sợ đă kéo dài đến hai mươi bốn năm. Điều lạ lùng đến sởn gai ốc là những người thủy thủ kia, lẽ ra đă trở thành những ông già, vậy mà vẫn trẻ trai như cách đây một phần tư thế kỷ.

Vụ tàu mất tích xuất hiện trở lại này, tuy trên tàu vẫn có người, không biết các thủy thủ kia, chỉ là những "tà linh hồn" trở lại.

 

                                                                          ST

 

                                                                                                                                            

                                                    

 

 

 

                 

Quay trở về đầu Xem hiendde's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi hiendde
 
hiendde
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 07 November 2006
Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 2516
Msg 1349 of 2534: Đă gửi: 16 March 2009 lúc 6:20pm | Đă lưu IP Trích dẫn hiendde

 

NGƯỜI NGOÀI HÀNH TINH GHÉ THĂM

LỄ NHẬM CHỨC CỦA OBAMA?

 

Một video mới đây của CNN có tên “Đĩa bay xuất hiện trong lễ nhậm chức của tổng thống Barack Obama” đă khiến các cư dân mạng phát sốt.

Hai MC của đài CNN Wolf Blitzer và Anderson Cooper đang b́nh luận về bài phát biểu, mang tính lịch sử trong lễ nhậm chức của tổng thống Obama, th́ bất ngờ phát hiện ra một vật thể lạ đang bay. 

 

 

Vật thể lạ bay rất nhanh trong lễ nhậm chức của tổng thống Barack Obama diễn ra vào tuần trước tại thủ đô Washington D.C.


Trong video này, người ta nh́n thấy một vật thể đen, nhỏ vút qua đài tưởng niệm Washington, ngọn tháp cao nhất thế giới với chiều cao một trăm sáu mươi chín mét.

Đoạn phim đă trở thành chủ đề nóng bỏng trên các blog, một số người cho rằng vật thể bay này là một con chim. Những người khác lại phủ nhận giả thuyết này bởi nó có h́nh dẹt và không có cánh.

 

                                                                           Daily Mail

 

 

 

 

 

 

 


 

Quay trở về đầu Xem hiendde's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi hiendde
 
hiendde
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 07 November 2006
Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 2516
Msg 1350 of 2534: Đă gửi: 16 March 2009 lúc 6:52pm | Đă lưu IP Trích dẫn hiendde

 

BÍ ẨN CỦA PHO TƯỢNG PHẬT

 CHÙA BÚT THÁP

 

Pho tượng nổi tiếng Quan Âm ngh́n mắt ngh́n tay ở chùa Bút Tháp chứa đựng nhiều "ẩn ngữ", triết lư sâu xa. Nó cho ta biết nhiều nét về quan điểm thẩm mỹ, nhân sinh quan và vũ trụ quan của người Việt thời Hậu Lê, nửa sau thế kỷ mười bảy.

Tượng Quan Âm ngh́n mắt ngh́n tay ở chùa Bút Tháp, Bắc Ninh, do Trương Thọ Nam tạc và hoàn thành vào năm 1656, thời Hậu Lê. Trên bệ tượng ghi:

Nam Đông Giao, Thọ Nam, Trương tiên sinh phụng khắc (tạm hiểu: Nam Đông Giao là địa chỉ, Thọ Nam là tên hiệu, Trương là họ, tiên sinh là bậc trí giả, phụng khắc là phụng mệnh trời đất dựng tượng để thờ).

Theo quan niệm của một số nhà nghiên cứu, chữ "phụng khắc" được dịch là khắc theo ư chỉ của nhà vua (nhưng nếu phụng mệnh vua mà khắc th́ tượng phải để ở kinh đô, trong khi đó pho tượng này lại được thờ ở một ngôi chùa).

Tượng Quan Thế Âm Bồ Tát thiên thủ thiên nhăn, dân gian gọi là Quan Âm ngh́n mắt ngh́n tay, có thể xem là một vũ trụ thu nhỏ, được sáng tác theo hệ thống quy luật rất chặt chẽ.

Đó là những quy luật âm dương ngũ hành và bát quái, luôn bao hàm các cặp phạm trù đối lập nhưng thống nhất: Dương Âm (thiện ác, đỏ đen, sáng tối, trời đất). Để bạn đọc nhận biết những mặt đối lập trên bố cục tác phẩm của Trương Thọ Nam, xin phân tích như sau:

1. Tượng Quan Âm được làm theo thế tam tài giả, tức là mối quan hệ tổng ḥa thiên địa nhân. Khi nh́n vào tượng, ṿng tṛn phía sau được gắn gần một ngh́n bàn tay, trong mỗi bàn tay được khắc một con mắt, đó là biểu tượng của Trời.

Trời theo quan niệm ở đây là vũ trụ thu nhỏ. Trong vũ trụ, cái thiện được biểu tượng ở thế "tam quang giả" tức là ba cái sáng bao gồm: mặt trời, mặt trăng và các v́ sao.

Từ xa xưa, người Việt cổ đă nhận thức được mặt trời là trung tâm sự sống, sức mạnh thần kỳ của nó được thể hiện ở chính giữa trống đồng Đông Sơn. Ở pho tượng này, tác giả cũng đặt mặt Phật Quan Âm vào trung tâm của pho tượng.

Mặt trời là mặt Phật Quan Âm nổi bật nhất, sáng ngời, đầy vẻ từ bi hỉ xả. Mặt trời ở đây được thể hiện là b́nh minh, những tia sáng chiếu tỏa lên trên chứ không tỏa ngang, ư nói: Cái thiện là thế đang đi lên, có sức mạnh chiến thắng, biểu tượng cho văn minh xă hội.

Mặt trời sáng ngời c̣n biểu tượng cho trí tuệ đức Phật Quan Âm đi khắp muôn phương xua tan bóng tối. Những kẻ có hành vi ám muội cũng không thể che nổi mắt Phật. Để diễn tả thâm ư này, tác giả đă khắc con mắt trong ḷng bàn tay biểu tượng cho hàng ngh́n v́ sao trong thiên hà.

Tất cả con số trên pho tượng đều là số lẻ, hơn 900 bàn tay và hơn 900 con mắt. Tác giả cho rằng số 1.000 là số chẵn, âm, tĩnh, không phát triển. Số lẻ, dương, động và phát triển không ngừng. Điều đó có nghĩa là trong vũ trụ có vô vàn v́ sao đang quan sát trần gian.

2. Trên đă có trời, h́nh tṛn, động, thuộc dương, nên dưới hệ tượng được biểu hiện cho đất, tĩnh, thuộc âm; h́nh vuông, nối giữa trời và đất là người, nhân vật Quan Âm. Trời, đất, người là ba thế lực siêu nhiên trong vũ trụ, có sức sáng tạo không ngừng.

Con rồng đen dưới ṭa sen là Hắc Long dưới Biển Đông, tượng trưng cho cái Ác. Tượng Quan Âm ngh́n mắt ngh́n tay ngồi trên ṭa sen, cả ṭa sen lại đặt trên đầu con rồng đen, tượng trưng cho cái thiện bao giờ cũng ngự trị cái ác.

Hai cánh tay của con rồng chỉ đỡ hờ vào ṭa sen tạo nên một bố cục chặt chẽ, nó c̣n nói lên một điều rằng: Cái ác cũng có một sức mạnh phi thường, chỉ một cái đầu cũng đủ đội cả toàn tượng lên trên.

Trên mũ của Quan Âm có ba tầng đầu, mỗi tầng có ba đầu, đầu thứ chí là Phật A Di Đà, tượng trưng cho cơi Niết bàn. Như vậy mỗi cái đầu là biểu tượng của một tầng trời.

Điều thú vị là  Phật A Di Đà cùng với con chim Thiên Đường ở phía sau, được gắn với hai cái đầu (số hai thuộc âm, biểu tượng cho linh hồn của người đă chết siêu thoát ở cực lạc). Ba cái đầu đó chụm lại gợi cho ta về cơi tam thế "quá khứ hiện tại tương lai".

3. Trong các chùa, ba ngôi tam thế bao giờ cũng được đặt ở ngôi cao nhất. Trong nghệ thuật bố cục, Trương Thọ Nam đă gắn kết các hiện tượng với nhau thành một biểu tượng:

Cả ṿng tṛn lớn đằng sau được gắn kết với con chim Thiên Đường, tạo thành h́nh tượng của lá bồ đề mà tâm của Phật là cuống của lá. Đạo Phật lấy lá bồ đề làm biểu trưng.

H́nh tượng mặt trăng được đặt trước tâm của Phật như một cái gương soi lại ḷng ḿnh, để xem xét hành động hằng ngày đúng hay sai, thiện hay ác, sáng hay tối...

Trên có Thiên Đường là cơi Niết bàn, nơi ngự trị của Phật A Di Đà, dưới có địa ngục được biểu hiện ở bốn góc, đó là bốn nhân vật to béo, đang chịu cảnh thụ h́nh nhằm răn đe những ai rắp tâm làm điều ác.

4. Trong bố cục của pho tượng này, những cánh tay được sắp xếp tuy phức tạp, nhưng lại rất nhất quán về phương pháp biểu hiện theo quy luật. Có ba phương pháp cơ bản để biểu hiện ư nghĩa của thế tay:

Thứ nhất là hai bàn tay chắp trước ngực, đó là ư chí của con người, tâm niệm làm điều thiện.

Thứ hai là bốn mươi hai cánh tay gắn ở hai bên hông tượng, tỏa ra nhiều hướng hàm ư muốn thắng được cái ác phải sử dụng cả văn lẫn vơ (những cánh tay bên phải biểu tượng cho văn, những cánh tay bên trái biểu tượng cho vơ).

Thứ ba là thế tay của Phật Quan Âm nâng niu mặt trăng trước tâm của ḿnh, tượng trưng cho sự soi xét tự kiểm.

Để tu hành đắc đạo, chúng sinh phải có ḷng kiên nhẫn, tu hết đời này truyền sang đời khác, cây đức trồng càng lâu th́ phúc càng dày. Hai cánh tay để trên đùi của Phật biểu tượng cho ư chí kiên định tạo nên thành quả.

5. Tượng Quan Âm ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử đă chín muồi: Tác giả Trương Thọ Nam đă tiếp thu và nâng nghệ thuật của pho tượng này lên đỉnh cao bởi giao lưu với nền nghệ thuật điêu khắc Ấn Độ, nền điêu khắc Chăm, nhất là những cánh tay của Phật như những cánh tay vũ nữ thanh khiết của Chăm.

Trang phục của  Phật Quan Âm được tác giả chuyển sang h́nh khối, bố cục đường nét rất lăng mạn theo phong cách Việt Nam mà ông đă tiếp thu được từ nền nghệ thuật Lư-Trần qua cách mô tả sen.

Sen thời Lư được chạm rồng trên các cánh hoa, sen thời Lê được chạm khắc theo những nét lửa Lê, ngọn lửa của truyền thống chống ngoại xâm.

Ở châu Á, đạo Phật khởi nguồn nên chủ đề "Quan Âm ngh́n mắt ngh́n tay" được tạc ở một số nước, nhưng tác phẩm do nhà điêu khắc thiên tài Trương Thọ Nam sáng tác có nội dung hoàn chỉnh bậc nhất về thế giới quan và nhân sinh quan.

Theo quan điểm Phật giáo truyền thống, có h́nh thức nghệ thuật đạt được sự hoàn mỹ tuyệt vời. Pho tượng này đă đạt giải đặc biệt khi tham gia triển lăm nghệ thuật Phật giáo Quốc tế tại Ấn Độ năm 1958.

 

                                                                      ST

 

 

 

 

 

 

 

 

Quay trở về đầu Xem hiendde's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi hiendde
 
hiendde
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 07 November 2006
Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 2516
Msg 1351 of 2534: Đă gửi: 16 March 2009 lúc 7:15pm | Đă lưu IP Trích dẫn hiendde

 

BÍ ẨN CỦA SÉT H̉N

( PHẦN MỘT )

 

phá huỷ đồ đạc rồi biến mất, để lại đằng sau một âm thanh và thứ mùi kỳ lạ. Đó là “nhận dạng” sơ bộ của sét ḥn.

Sét ḥn là một trong những hiện tượng vật lư chưa có lời giải thích thoả đáng. Nhiều người gắn chúng với ma quỷ hay vật thể bay không xác định (UFO). Một số nhà khoa học khó tính, xem chúng là kết quả của ảo giác, hay những sai lệch trong hoạt động của các giác quan con người.

Trên thực tế, sét ḥn là một hiện tượng tự nhiên đă được quan sát và miêu tả tỉ mỉ từ thời Hy Lạp cổ.

Theo ư kiến của McNally đưa ra vào thập niên 1960, khoảng 5% dân số trên trái đất đă tận mắt nh́n thấy sét ḥn. Trong một lá thư gửi Nhật báo Bưu điện London, Moris 1936 đă mô tả trường hợp sét ḥn làm sôi cả một két nước.

BẠN ĐỒNG HÀNH CỦA SÉT

Phần lớn các quan sát được thực hiện khi có sấm sét. Đa phần những sét ḥn đó xuất hiện, hầu như đồng thời với một tia sét đánh từ mây xuống đất. Chúng xuất hiện cách mặt đất vài mét.

C̣n khi xuất hiện lúc không có sét đánh, chúng bay thấp hơn nữa. Người ta cũng quan sát được những sét ḥn bay cao trên không và những sét ḥn từ một đám mây bay xuống mặt đất.

KHÔNG PHẢI CỨ TR̉N

Chúng thường có dạng h́nh cầu nhưng cũng có h́nh dạng khác. Đường kính quả cầu thay đổi từ 0,01-1 m, trong đó thường gặp là đường kính 0,1-0,2 m. Sét ḥn có nhiều màu khác nhau, thông thường là màu đỏ, da cam và màu vàng.

Chúng không nhất thiết phải toả sáng rực rỡ, nhưng có thể nh́n thấy rất rơ dưới ánh sáng ban ngày. Chúng thường giữ nguyên độ sáng và kích thước trong suốt thời gian xuất hiện, tuy không hiếm trường hợp có sự thay đổi.

HÀNH VI KỲ HOẶC 

Sét ḥn thường chuyển động theo phương nằm ngang với vận tốc vài mét một giây. Chúng có thể đứng yên trong không trung, hoặc từ trên mây sà xuống mặt đất. Chúng ít khi bay lên như trường hợp các quả khí cầu nóng chuyển động trong không khí.

Nhiều báo cáo mô tả chúng tự xoay khi đang chuyển động. Thỉnh thoảng chúng chồm lên các đồ vật cứng hay trên mặt đất.

“Hành vi” của sét ḥn là điều gây chú ư nhất đối với các nhà khoa học. Không giống các loại sét thông thường và các hiện tượng điện khác, nó không “chú ư” tới dây dẫn, vật kim loại và nước hơn các vật dụng kém hay không dẫn điện.

Thay vào đó là một hành vi giống như được điều khiển bởi sự ṭ ṃ và trí thông minh cỡ loài vật: bay ṿng quanh và bay theo người, “khám phá” các căn pḥng và treo giữa khoảng không, gần các đồ vật như để “nh́n” cho rơ hơn.

Sét ḥn thường bám vào các đồ vật kim loại như hàng rào dây thép gai, hay đường dây điện thoại. Sau khi bám, chúng thường chuyển động dọc theo những đồ vật này.

TỒN TẠI NGẮN NGỦI

Sét ḥn thường có thời gian tồn tại không quá năm giây. Một số ít trường hợp tồn tại quá một phút.

Ít người khi quan sát cảm thấy sức nóng của nhiệt. Tuy nhiên, nhiều sét ḥn làm cháy đồ vật hay làm nóng chảy kim loại. Báo cáo của McNally năm 1966 mô tả một sét ḥn chạm vào b́nh nước cùng với tiếng xèo xèo, như khi nhúng một miếng kim loại nung đỏ vào nước.

Đôi khi, chúng phát ra âm thanh như một tiếng huưt c̣i. Nhiều người ngửi thấy mùi khác lạ, rất gắt và tương phản, giống như mùi ozone, sulphur cháy hay oxit nitric.

ĐỘT NHẬP NHƯ THẦN

Sét ḥn thường vào nhà qua màn che hay ống khói. Đôi khi, chúng đột nhập qua cửa kính mà không làm vỡ kính. Cũng đă thấy trường hợp sét ḥn xuất hiện chính trong các toà nhà, có trường hợp từ máy điện thoại.

Sét ḥn cũng có thể xuất hiện và tồn tại trong một cấu trúc toàn kim loại, ví dụ trong khoang máy bay, như một báo cáo của Uman năm 1968.

HOÀN TẤT CHUYẾN DU NGOẠN

Sét ḥn phân ră theo một trong hai cách: im lặng hay kèm theo một tiếng nổ. Phân ră gây nổ xảy ra rất nhanh và kèm theo một tiếng nổ lớn.

Phân ră im lặng có thể xảy ra nhanh hay chậm. Sau khi phân ră, thỉnh thoảng sét ḥn để lại một chút sương mù hay chất bă. Hiếm khi quan sát thấy một sét ḥn phân ră thành hai hay nhiều sét ḥn nhỏ hơn.

- Trong cơn giông, tôi nh́n thấy một quả cầu lớn màu đỏ từ trên trời bay xuống. Nó xô vào nhà tôi, cắt đứt dây điện thoại, làm cháy khung cửa sổ rồi rơi xuống két nước ngay bên dưới. Vài phút sau, nước bắt đầu sôi và khi nước nguội đi, tôi t́m măi mà không thấy ǵ trong két cả.

Năm 1928, Reverend John Henry Lehn đang ở pḥng tắm tại căn nhà ở Jim Thorpe, Pennsylvania Mỹ, giữa một cơn giông có sét, th́ nh́n thấy một quả cầu lửa màu vàng to bằng quả nho, ngay bên ngoài rèm cửa sổ. Nó im lặng xuyên qua tấm rèm mà không làm rách hay hỏng rèm, rồi lượn tṛn quanh bàn chân Reverend.

Sau đó nó bỏ cuộc, bay vào một chậu dùng đựng nước và làm nóng chảy sợi dây thép trên cái nút ngắt nước. Rất kỳ lạ là vài tuần sau, Reverend gặp trường hợp tương tự, nhưng lần này hành tŕnh của sét kết thúc ở bồn tắm, cũng với việc làm nóng chảy cái nút ngắt!

Điều thú vị là mặc dù có khả năng gây ra chấn thương và cái chết, dường như sét ḥn rất gượng nhẹ trong cách đối xử với con người.

Trong một trường hợp, sét ḥn bay chậm chạp qua cái sân hướng tới một cái bàn, nơi hai đứa trẻ đang chơi đùa. Một chú bé đá vào quả cầu và nó phát nổ.

Kết quả là mười một con ḅ trong chuồng bị chết, c̣n các chú bé vẫn vô sự. Ở trường hợp khác, sét ḥn bay quanh một bé gái, rồi chạm vào chú mèo con đang ngồi trong ḷng bé.

Chú mèo chết tức th́ trong khi em bé b́nh an vô sự. Rất nhiều súc vật bị sét ḥn giết chết, trong lúc rất ít khi con người chịu thảm cảnh đó.

 

 

 

 

 

 

 

 


 

 

 

 

 

 

Quay trở về đầu Xem hiendde's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi hiendde
 
hiendde
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 07 November 2006
Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 2516
Msg 1352 of 2534: Đă gửi: 16 March 2009 lúc 7:28pm | Đă lưu IP Trích dẫn hiendde

 

BÍ ẨN CỦA SÉT H̉N

( PHẦN HAI )

 

CÁC LƯ THUYẾT VỀ SÉT H̉N

Suốt một thời gian dài, hiện tượng này không được thừa nhận. Một sự đánh lừa về quang học không hơn không kém, nhiều nhà khoa học khẳng định. Nhưng dần dà, số các sự kiện chứng tỏ sét ḥn là một hiện thực được tích lại càng nhiều hơn.

Những người khác nhau từ trẻ con đến người già, từ kẻ thất học đến nhà khoa học, đă kể về những lần gặp gỡ với vị khách bí ẩn này của các cơn giông tố.

Khác với những anh chị em của nó, sét ḥn hầu như lặng lẽ và gây cảm tưởng vô hại. Song nhiều khi sét ḥn là nguyên nhân của những điều bất hạnh.

Thật thú vị là các thông báo cho biết sét ḥn sinh ra từ các đồ vật bằng kim loại. Nhà khí tượng học N. Nartunop có lần đă quan sát thấy sét ḥn nhảy ra từ hộp máy điện thoại mở nắp. Quả cầu lửa lăn khắp sàn rồi nổ tung.

Theo tin báo của Konganop ở thành phố Kolomana, sét ḥn xuất hiện gần bảng đặt công tơ điện trong thời gian phóng điện của sét chuỗi. Người ta cũng quan sát thấy sét ḥn vọt ra từ đuôi đèn điện không lắp bóng hay từ ổ cắm điện.

Kỹ sư I. Motsalop ở thành phố Nigioni Taghin thấy trên đầu van hệ thống ḷ sưởi một quả cầu nhỏ màu xanh da trời bắt đầu h́nh thành.

Lúc đầu nó bé bằng hạt đậu, sau đó đường kính của nó tăng đến 4-6 cm, nó rời khỏi mép ḷ sưởi hơi nước và khi đi qua gần bàn, nó dừng lại gần ống đinh. Từ quả cầu nhỏ đó phát ra tia lửa, sau đó nhảy bật lên trên và tiếp tục lượn một lúc dưới bàn rồi nổ tung.

Thường thường sét ḥn chuyển động trong không khí khá chậm, bằng tốc độ người chạy. Dễ dàng theo dơi nó bằng mắt thường. Đường đi của nó trùng với hướng gió. Đôi khi quả cầu đó dường như dừng lại hoàn toàn.

Khi nó di động, thỉnh thoảng nghe thấy tiếng rít hay lẹt xẹt khe khẽ. Màu sắc của sét ḥn rất khác nhau: người ta thấy có những quả cầu sáng màu đỏ, cả mầu trắng chói lọi và màu xanh thẫm. C̣n kích thước th́ sao? Thường sét ḥn không to quá hai mươi cm đường kính.

Ta cũng nên nhận thấy dạng phóng điện khí quyển đó thật may mắn: có đến một trăm giả định khoa học khác nhau giải thích bản chất của chúng. Không phải tất cả đều đáng được khoa học hiện đại thừa nhận. Nhưng mọi giả thiết về nguồn gốc của hiện tượng điện học kỳ lạ, được lập luận với cơ sở khoa học thoả đáng.

Một trong các giả thiết đó thuộc về viện sĩ P. L. Kapitxa. Theo ư kiến của ông, sét ḥn được cung cấp năng lượng, nhờ các bức xạ vô tuyến xuất hiện trong những lần phóng điện khí quyển khi có giông.

Nhà bác học cho rằng, nếu trong tự nhiên không tồn tại những nguồn năng lượng, mà chúng ta c̣n chưa biết, th́ trên cơ sở định luật bảo toàn năng lượng, ta nên thừa nhận là trong thời gian phát sáng, có năng lượng liên tục truyền cho sét ḥn.

Và chúng ta buộc phải đi t́m nguồn năng lượng đó ở ngoài phạm vi sét ḥn. Sét ḥn sinh ra ở những nơi sóng vô tuyến đạt cường độ cực đại.

Cách giải thích do nhà bác học Xô Viết Kapitxa đề ra đó về sét ḥn, rất phù hợp với những đặc điểm của sét: đôi khi sét ḥn lăn dọc bề mặt các đồ vật khác nhau, mà không để lại vết cháy, sét ḥn thường thâm nhập vào các pḥng ở qua ống khói, cửa sổ và thậm chí qua các khe hở nhỏ.

Có thể, lời giải đáp cho bí ẩn của quả cầu đó là ở chỗ khác. Mặc dầu các nhà bác học vẫn cỗ gắng giải thích hiện tượng đă được người ta biết đến hàng ngàn năm nay, sét ḥn vẫn c̣n là một điều bí ẩn.

Một số nhà khoa học cho rằng nó là một dạng mới của năng lượng (một mẫu phản vật chất), song những người khác lại phủ định điều đó.

Điều bí mật của sét ḥn tiềm chứa cái ǵ trong nó? Có thể, nó chứa đựng một lĩnh vực mới mà tri thức chúng ta chưa từng biết đến? Ai mà biết được!

Có thể, chính tại đây, khoa học sẽ mở được cánh cửa dẫn vào một trong những kho năng lượng của tự nhiên, sẽ đem lại cho chúng ta những khả năng mới để tái tạo hành tinh, để thâm nhập vào những bí mật mới của vật chất.

 

                                                                 NewScientist



 

 

 


 

 

 

Quay trở về đầu Xem hiendde's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi hiendde
 
hiendde
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 07 November 2006
Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 2516
Msg 1353 of 2534: Đă gửi: 17 March 2009 lúc 1:28am | Đă lưu IP Trích dẫn hiendde

 

NGÔI CHÙA CÓ MỘT KHÔNG HAI

 

Ở đó không dành cho những người yếu tim, bởi v́ trong khuôn viên của chùa có đến hơn hai mươi mốt vị chúa sơn lâm, hàng ngày ung dung tản bộ cùng du khách thập phương.

Ngôi chùa đặc biệt này nằm cách thủ đô Bangkok của Thái Lan 120 km về phía tây bắc. Vào năm 1999, người dân tỉnh Kanchanaburi xin gửi vào chùa một chú hổ con bị thương, sau vụ tấn công của những người săn trộm để nhờ chăm sóc.

Kể từ lúc đó, ngôi chùa này bắt đầu nhận nuôi tất cả những chú hổ lạc đàn “cơ nhỡ”. Tính đến cuối năm 2007 có tới hai mươi mốt chú hổ, đang được thuần dưỡng tại đây.

Để cho hổ quên đi bản năng hung dữ của ḿnh, các nhà sư đă cho chúng ăn thức ăn nấu chín và kết quả là chúng hiền lành như những chú mèo con.

Các du khách có thể thoải mái cho chúng nằm lên đùi ḿnh, vuốt ve và tạo dáng để chụp ảnh.

 




 
 
 

 
 
                                                            Ánh Hằng
                                                                                          Theo Hemmy
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Quay trở về đầu Xem hiendde's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi hiendde
 
hiendde
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 07 November 2006
Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 2516
Msg 1354 of 2534: Đă gửi: 17 March 2009 lúc 9:40am | Đă lưu IP Trích dẫn hiendde

 

MƯỜI CON VẬT CÓ H̀NH MẶT NGƯỜI

 

Chúng là những con cá, sâu bọ, côn trùng nhưng lại có khuôn mặt giống người.

 
 
1. Đây là con cá chép lai sống trong ao của
một gia đ́nh tại Chongju, Hàn Quốc
 
 
 
2. Bọ hôi
 
 
 
3. Cua Heike, có nguồn gốc từ Nhật Bản
 
 
 
  4. Sâu bướm
 
 
 
 
5. Bọ khiên
 
 
 
 
6. Ấu trùng kỳ nhông Mê-hi-cô
 
 
 
 
7. Một con côn trùng Eucorysses grandis
 trông giống vua hề Sác-lô
 
 
 
 
 8. Một loài bọ hôi khác
 
 
 
 
 9. Bọ khiên xanh
 
 
 
 
 10. Một loài bọ hôi ở Singapore
 
 
 
 
                                                        
                                                                 theo Oddee
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Quay trở về đầu Xem hiendde's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi hiendde
 
hiendde
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 07 November 2006
Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 2516
Msg 1355 of 2534: Đă gửi: 18 March 2009 lúc 12:22am | Đă lưu IP Trích dẫn hiendde

 

ĐÁM MÂY BONG BÓNG KỲ LẠ

TRÊN BẦU TRỜI ANH

 

Tối sẫm, chen chúc nhau như những giọt dầu khổng lồ và đầy vẻ hăm dọa, đám mây trên bầu trời Hertfordshire tuần trước, trông như một hiệu ứng đặc biệt trong phim kinh dị.

Nhưng nó lại là một sản phẩm hoàn hảo của thiên nhiên, và cũng hoàn toàn vô hại, một hiện tượng khí tượng được gọi là mây mammatus.

Được đặt tên theo tiếng Latin, những đám mây mammatus luôn đi kèm với những cơn dông mạnh, có thể xảy ra trong mùa hè, và là dấu hiệu của một lượng hơi nước lớn được giữ trong không khí.

Mây thông thường bao gồm các giọt nước, các tinh thể băng hoặc hỗn hợp cả hai, và h́nh dạng mây khác nhau, được tạo nên bởi một số yếu tố như nhiệt độ, tỷ lệ nước và băng, độ cao của mây và tốc độ gió ở trong đó.

Nhưng trong khi hầu hết các đám mây có ŕa mỏng không rơ ràng, th́ mây mammatus (thường ổn định chỉ trong vài phút) lại có ranh giới rơ ràng và sắc nét một cách lạ thường.

Mỗi "giọt" của nó có thể có đường kính tới một dặm. Chúng cũng gần như mờ đục, khiến cho đám mây trông như là có thể sờ mó được.

 

Bức ảnh do Ian Pattison chụp được ở ngoài nhà

của anh ở vùng St Albans, Hertfordshire, nước Anh

 

                                                                         Daily Mail

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Quay trở về đầu Xem hiendde's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi hiendde
 
hiendde
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 07 November 2006
Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 2516
Msg 1356 of 2534: Đă gửi: 18 March 2009 lúc 10:38am | Đă lưu IP Trích dẫn hiendde

 

ĐỔ XÔ ĐI XEM SÂN CHÙA

 NỔI "CHỮ NHO"

 

Vào hồi 10h30 phút sáng ngày 7-3, trên khoảng sân rộng gần 100m2 mới được lát gạch của chùa Đông Sơn xă Tân Dĩnh, Lạng Giang, Bắc Giang đồng loạt nổi lên những hoa văn rất lạ, tựa như chữ Nho, thu hút khá đông người hiếu kỳ.

Điều lạ là trên mỗi viên gạch nổi lên một kư tự hoàn chỉnh, riêng biệt. Nh́n tổng thể cả khoảng sân chùa giống như một bức văn tự cổ khổng lồ. Tin lạ loan ra, người dân gần xa lũ lượt đổ về chùa Đông Sơn chiêm ngưỡng bàn tán.
 
Khoảnh sân nói trên nằm ngay trước mặt chùa Đông Sơn, ngự tại đỉnh một quả đồi thấp. Chùa Đông Sơn vốn là một miếu thờ nhỏ. Người dân địa phương không rơ có từ bao giờ và thờ vị thần nào.
 
Sau này, các cụ bô lăo trong làng dựng một ngôi đ́nh tại đây và rồi dựng thành chùa Đông Sơn như ngày nay.
 
 
 
Rất đông người đổ về chùa Đông Sơn
 
chứng kiến "chuyện lạ".
 


 

Theo bác Ngô Văn Mạn, hội viên hội người cao tuổi xóm Đông Sơn, người chứng kiến toàn bộ quá tŕnh lát khu sân chùa:

 

- Khoảng sân vốn là của chùa từ lâu, nhưng do quá tŕnh phân chia đất canh tác, nên được chia cho một hộ dân. Sau đó nhà chùa có ư kiến mua lại khoảng đất và lát gạch phục vụ cho các hoạt động của chùa. V́ vậy khoảnh sân được lát gạch từ ngày 4-3 đến ngày 7-3.

 

Cũng theo lời bác Mạn và nhiều cụ trong làng, th́ trong suốt quá tŕnh lát sân, không có hiện tượng đặc biệt ǵ xảy ra. Đến khoảng 10h30 ngày 7-3, sau khi phần sân lát gạch đă hoàn thành, các cụ bô lăo trong làng tổ chức cúng tế phía trong đ́nh, th́ phía ngoài sân mới nổi lên những hoa văn lạ trên.

 

Nhiều người dân địa phương và trực tiếp là bà Nguyễn Thị Thiện, sáu mươi tuổi, đă thử xoá những hoa văn trên gạch, nhưng một lúc sau hoa văn lại nổi lên như cũ. Được biết sân chùa được lát bằng gạch của Nhà máy gạch Tân Xuyên, tại địa phương sản xuất.

 

Nhận định về hiện tượng lạ xảy ra tại chùa Đông Sơn, nhiều người dân cho rằng có thể đây là những hoa văn xuất hiện trong quá tŕnh sản xuất gạch.

 

Tuy nhiên có một điều đặc biệt là khi lát sân, nhà chùa bị thiếu 12 viên gạch và được ông Ngô Gia Khoa tại địa phương nhượng lại, những viên gạch gia đ́nh ông không sử dụng.

 

Và cả 12 viên gạch này cũng hiện hoa văn lạ. Trong khi đó, số gạch ở nhà ông Khoa không có hiện tượng ǵ đặc biệt.

 

 

 

Hai viên gạch - một của nhà chùa, một do ông Khoa
 
 nhượng lại - đều nổi hoa văn lạ.
 
 
 

Nhiều người cao tuổi trong làng và các vùng lân cận nhận định, đây có thể là những văn tự cổ mà họ cũng không đọc được (?).

 

Cho đến chiều qua, ngày 9-3, các hoa văn nói trên vẫn c̣n hiện rơ trên sân chùa Đông Sơn. Mong muốn  chung của người dân địa phương nơi đây: Đợi một lời lư giải có căn cứ của cơ quan chức năng về hiện tượng hy hữu này.

 

 

 

                                                                                     Thế Cường

                                                               

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Quay trở về đầu Xem hiendde's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi hiendde
 
hiendde
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 07 November 2006
Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 2516
Msg 1357 of 2534: Đă gửi: 18 March 2009 lúc 11:08am | Đă lưu IP Trích dẫn hiendde

 

QUỶ ÁM

CHUYỆN HUYỀN BÍ CÓ THẬT

 

Đây là chuyện của một gia đ́nh Công giáo ḍng, người bị nhập là chị cả trong gia đ́nh tên Hường..mỗi lần bị chúng nhập xác, là chị nói rất nhiều lời bằng một thứ ngôn ngữ xa lạ, mà chính chị không bao giờ biết tới, không thể nào hiểu được ư nghĩa, hoặc chúng cho chị thấy, biết những việc kín đáo ở những chỗ rất xa xôi, mà chị chẳng bao giờ có dịp đặt chân tới.

Hay là những khi tự nhiên chị có một sức mạnh thể chất phi thường, như việc chị có thể th́nh ĺnh nhảy thót lên một cành cây cao đến năm, sáu feet rồi hoặc đứng hoặc nằm chơi vơi ở trên đó, y hệt như những người làm xiếc, không hề bị té ngă hay sợ sệt, như việc chị có thể một ḿnh xê dịch, hoặc dời cái cối đá trong một khoăng cách khá xa.

Vào những khi hoàn toàn tỉnh táo, chị đă kể lại cho cả nhà biết rằng, chị cũng đă thường gặp lại một người chị khác của chúng tôi, bị chết bởi cơn bệnh đậu mùa.

Chị nói:

- Con đă thấy lại em Hạnh nhiều lần. Lần nào sắc diện và dáng điệu của nó cũng rất u buồn thiểu năo, không biết Hạnh c̣n vướng mắc việc ǵ ở thế gian, nhưng có vài lần con lên tiếng hỏi, th́ nó chỉ khóc sụt sùi mà không nói ǵ cả.

Các chị khác của tôi đôi khi cũng có cơ hội chạm trán với quỉ mỗi khi chúng trở lại quấy nhiễu chị Hường. Các chị trông thấy rơ ràng lũ quỉ ném đá hay những đồ vật khác. Chúng láo nháo nói chuyện với nhau như người, có nhiều lần nó đánh chị Hường đến sưng vù cả mặt mũi.

Các chị ngủ chung trong pḥng với chị Hường, đều kể lại họ nghe thấy đủ thứ tiếng động. Chị Hường bị đánh thật nhiều bởi những bàn tay vô h́nh. Họ đều nghe thấy những tiếng đánh đập. Lũ quỉ ném đá và gậy gộc không những vào chị Hường, mà cả vào các chị đến ngủ chung trong căn buồng đó.

Mọi người c̣n có thể nghe được tiếng nói mà không biết từ đâu đến. H́nh như âm thanh tiếng nói lạ đó phát ra từ đầu hay từ cổ của chị Hường, và nó hoàn toàn không phải là âm thanh và tiếng nói của chị.

Cũng có khi chị Hường và các chị khác đều nói chuyện với tiếng nói rất lạ kỳ. Lũ quỉ nói đến chuyện của tất cả mọi người, mà chúng tôi quen biết ở trong làng và kể ra hết những nết xấu của họ.

Nghe thấy tiếng động trong đêm, một chị làm việc cho cha tôi ở trong nhà, vội vàng mang tới một cây thánh giá dài khoảng hai mươi phân và đặt vào tay chị Hường, tức th́ tượng Chúa Kitô chịu nạn, bị kéo mạnh ra khỏi cây Thánh giá, bởi một bàn tay vô h́nh và biến mất không ai có thể t́m thấy được nữa.

Một chị mang lại một cây Thánh giá khác lớn hơn. Nhưng tượng Chúa Kitô cũng bị bóc ra và biến mất một cách lẹ làng như thế. Chị Ước lớn tiếng đôi co với quỷ. Chị đ̣i quỉ trả lại tượng Chúa Kito. Nó hứa sẽ trả lại vào ngày mai. Thật vậy, ngày hôm sau, các chị đă thấy tượng Thánh giá nằm ở trên giường của chị Hường.

Trong nhiều tháng dài, lũ quỉ ném đồ vật, đá gạch, gậy gộc, nắm cơm , khúc gỗ, củ khoai, chai không.. tung toé ở trong buồng. Có nhiều đêm cả nhà phải thức trắng để cùng chống lại nó. Có một lần chị Hường rú lên v́ sợ hăi và đau đớn, lúc đó mọi người thắp đèn lên nh́n thấy, ở dưới chân của chị một nửa viên gạch lớn mà quỉ đă ném trúng vào vai chị.

Kế đến là những tiếng động chim kêu, ngựa hí, c̣i xe, c̣i tàu, những tiếng khóc xé ḷng, những tiếng cười kinh dị, tiếng nghiến răng nghe rùng rợn và bủn rủn cả tay chân, tiếng kẹt cửa vang lên nhức óc.

Tiếng b́nh dầu hỏa đụng chạm nhau, tiếng máng nước rung chuyển, tiếng cột nhà rung lên, mái nhà chuyển động với những bước chân th́nh thịch nặng nề , các quần áo treo trong buồng bị lắc lư, cho đến tiếng xiềng xích kêu rổn rảng.

Các chị nghe tiếng quỉ căi cọ nhau, có lúc chúng vỗ tay, chúng nhai những gi cứng giống như nhai kiếng hoặc nhai xương rau ráu. Chúng cảnh cáo mọi chị phải đi lấy chồng. Rồi c̣n cả những tiếng hát và tiếng âm nhạc với các loại nhạc khí thời bấy giờ như năo bật, tiêu sáo, trống đờn.

Các chị đồng ư rằng những nghệ sĩ ma quỉ đó có tiếng hát rất thánh thót và chơi đàn rất hay, có cả tiếng người đánh nhịp nữa. Vào một đêm cả nhà bị đánh thức bởi tiếng nhạc ầm vang. Ít lâu sau mấy con chó tự nhiên ngă ra chết chẳng biết lư do ǵ, có một con đầu của nó sưng lên rồi sùi bọt mép chết.

Nhiều đêm lũ quỉ vào trong buồng các chị, mỗi đứa đứng ở góc buồng, chúng đấm đến chảy máu miệng một vài chị, khi các chị này đọc kinh và khấn nguyện. Chị Hường có thể thấy quỉ đi dạo chung quanh nhà và nhiều lần nghe nó nói chuyện. Một chị khác thấy con rắn có ba lưỡi tḥ ra đe dọa, một chị khác thấy một con trâu lớn ph́ hơi ra kinh khủng.

Một đêm quỉ phá phách cả nhà bị đánh thức, bà hàng xóm cũng bị thức dây. Vừa đi gần đến hè nhà tôi, bà ta trông thấy trên nóc nhà ngay chỗ giường ngủ của chị Hường một con ma h́nh thể kỳ dị, có đuôi dài làm bà ngất xỉu tại chỗ.

Buối tối chúng tôi đọc kinh chị Hồng của tôi thấy cái mành mành bị cuốn lên. Cha tôi đến để thả cái mành mành xuống, th́ cả nhà đếu thấy một thằng quỉ mang trống hiện ra, khi cha tôi đến nơi treo cái mành th́ nó biến mất.

Một ngày khác chị Hường cùng với mấy chị em đi lễ về, thấy có người thanh niên trao cho chị một cái hộp nhỏ, nói anh ta thích chị lắm. Về nhà mở hộp ra xem, nó đă biến thành một búi lá khô chẳng có đựng thứ ǵ.

Lũ quỉ hiện h́nh, đội lốt cha già xứ và các bề trên. Khi các chị đến xin hôn thánh giá và nhẫn thánh của cha, th́ tự nhiên thánh giá trở thành đen thui và chiếc nhẫn trở nên nóng bỏng. Ngay trong thánh đường,các chị thấy hai thằng quỉ đi lại phía sau cha, và chúng nhăn mặt nhăn mũi làm tṛ hề chọc phá.

Năm chị Hường mười tám tuổi, chị bị quỉ chọc phá đánh đập, xúi làm nhiều chuyện càn rỡ, chúng biến thành những chàng trai đẹp mă để rủ chị sa ngă, chị nhất quyết vùng dậy th́ con quỷ đánh đập chị đến nỗi chị đi khập khễnh và chúng xui chị đi ra khỏi nhà, nâng hẳn người chị lên.

Sau vài phút thân thể của chị lơ lững trên không, bỗng chị đụng phải cái xà nhà, quỉ lại đưa thân chị sang phía bên kia, khi đi qua phía bên kia chị bị đụng vào cây thánh giá treo trên tường, quỉ buông chị ra ngay lập tức, khiến cho chị bị rớt xuống từ trên cao ba bống thước tây.

Đến khi chị ngủ nó tốc cho chị phải dậy và đánh chị, nó xúi chị phải bỏ nhà ra đi. Chị Ước đưa thánh giá cho chị hôn kính, quỉ vẫn tiếp tục như thường, chị Ước chửi nó bị nó vă cho một cái tát nên thân.

Có lúc cả nhà không thấy chị Hường ở đâu hết, đi t́m th́ thấy chị nằm trên một cây xà nhà từ lúc nào, chị cũng không biết và sao chị lại có thể leo lên tận đây. Thật ra th́ chị Hường không thể nào rời bỏ căn buồng mà không ai thấy, v́ có các chị khác ngồi ngay cửa ra vào duy nhất.

Quỉ ném chị xuống giường và kéo lê chị trên nền nhà nhiều lần, đến nỗi áo quần của chị bị rách tơi tả. Quỉ lấy mất xâu chuỗi mân côi và tấm ảnh Thánh nữ Teresa hài đồng của chị.

Một đôi khi tỉnh dậy chi thấy có cây gậy xỏ vào ống tay áo, hoặc có một cái muỗng làm bằng vỏ dửa để ở trên ngực chị. Vài lần quỉ bóp cổ chị đến nghẹt thở và không thể kêu cứu được, cho đến khi các chị khác đem nước phép đến rải ướt đầy người chị nó mới buông tha.

Rất nhiều lần chị tôi lớn tiếng kêu tên Chúa hoặc nhắc tên Đức Mẹ hoăc thánh Giuse, th́ chi bị nó vả vào miệng đến độ những người chung quanh có thể nghe được tiếng nó vả.

Một lần con quỉ lấy mất cỗ áo Đức Bà chị đeo ở trên người và chế nhạo chị. Nó hỏi chị có khó chịu không, đến lúc cha xứ cho chị một cái lúp mới và một cỗ áo khác cũng bị nó lấy mất. Sau đó rất lâu, người nhà chúng tôi tát ao bắt cá t́m thấy tất cả đă bị dấu sâu dưới đống bùn ao.

Ban đêm nhiều khi chị bị lũ quỉ bế bổng lên hoặc lôi kéo đi. Nó kéo chân, kéo ống quần, kéo cái chăn đắp trên người các chị. Các chị bảo nhau đọc sách kinh, lũ quỉ khiến cho những cơn gió mạnh giỏ tung từng trang sách. Nó c̣n làm cho các chị cấm khẩu không thể nói được vào những lần các chị đi xưng tội.

Một đêm có một con mèo kêu thất thanh, nó nhảy từ chiếc giường của chị Hường và lượn quanh các giường khác rồi vừa kêu lên những tiếng kinh khủng, vừa nhún nhẩy những vũ điệu man rợ. Tiếng kêu của con mèo lớn hơn tiếng mèo thường ít nhất là hai mươi lần.

Sáng hôm sau con mèo trở lại b́nh thường. Chị nói những lúc chị bị quỉ ám, th́ các Thánh nữ và các thiên thần bản mệnh hiện ra ngay bên cạnh, để thêm sức mạnh cho chị.

Chúng tôi di cư vào Nam, th́ chị Hường cũng trở lại b́nh thường. Chị qua đời vào lúc năm mươi tuổi, v́ một cơn bệnh không lấy ǵ làm trầm trọng.

 

                                                                   Nguyên Hà

 

                                                         

 

 

 

 

  

Quay trở về đầu Xem hiendde's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi hiendde
 
hiendde
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 07 November 2006
Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 2516
Msg 1358 of 2534: Đă gửi: 20 March 2009 lúc 9:36am | Đă lưu IP Trích dẫn hiendde

 

SÁU CẦU VỒNG XUẤT HIỆN

CÙNG MỘT LÚC

 

Đối với một nhiếp ảnh gia nghiệp dư như chị Nola Davies th́ bức ảnh chụp cầu vồng của chị được coi là một "cú nháy để đời".

Bức ảnh được chụp tại một cái hồ gần nhà chị nh́n ra con sông Camden Haven ở phía bắc Sydney Australia.

Trong khi mọi người chỉ nhận thấy khoảng ba đến bốn cầu vồng xuất hiện trong ảnh th́ chị lại khăng khăng có tất cả sáu cái trong đó.

- Tôi và John, chồng tôi phát hiện ra bốn cầu vồng. Đó là vào lúc sáng sớm khi mặt trời mới chớm lên. Một vài cầu vồng khác có thể nh́n thấy được qua sự phản chiếu từ mặt hồ.

Nhiếp ảnh gia nghiệp dư cho biết.

 

Bức ảnh chụp của chị Nola Davies. Ảnh: Daily Mail.

 

Bức ảnh qua sự phân tích của giáo sư Cowley. Ảnh: Daily Mail.

 

Theo Daily Mail, chị Davies đă gửi bức ảnh tới giáo sư Les Cowley, một chuyên gia về quang học của Anh. Vị giáo sư này cũng đồng t́nh với lời khẳng định của chị và chỉ rơ sáu cầu vồng trong ảnh.

- Trong nhiều năm, có rất nhiều tài liệu nói về sự xuất hiện của cầu vồng lạ và khó giải thích, nhưng nếu không có những nhiếp ảnh gia siêu hạng, th́ khó mà nh́n thấy. Bức ảnh sáu cầu vồng của chị Davies thực sự là để đời.

Hầu hết cầu vồng đều xuất hiện khi mặt trời lên sau cơn mưa. Cầu vồng thứ nhất là thứ chúng ta đều nh́n thấy rơ và sáng nhất, chính là sự phản chiếu hoàn toàn qua những hạt mưa.

Cầu vồng thứ hai xuất hiện là khi ánh nắng mặt trời khúc xạ một lần nữa qua hạt mưa, mà thỉnh thoảng chúng ta mới nh́n thấy.

Cái thứ ba là sự giao thoa giữa hai cái đầu sáng nhất. Nó được tạo ra khi ánh nắng rọi xuống sông, rồi phản chiếu ngược lại qua những giọt nước mưa.

Cầu vồng ngược thứ tư được tạo ra bởi các chùm tia sáng qua những giọt mưa khác nhau, nh́n từ mặt sông lên.

Cầu vồng thứ năm là sự phản chiếu của hai cầu vồng từ sông và một trong những giọt nước.

Cầu vồng cuối cùng là khó nh́n nhất và cũng rất hiếm khi xảy ra, chỉ là sự khúc xạ yếu ớt của một cầu vồng từ mặt nước và hai cái qua hạt mưa.

Giáo sư Les Cowley giải thích.

 

                                                               Gia Nghĩa

 

 

 

 

 

 

 


 

Quay trở về đầu Xem hiendde's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi hiendde
 
hiendde
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 07 November 2006
Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 2516
Msg 1359 of 2534: Đă gửi: 20 March 2009 lúc 8:25pm | Đă lưu IP Trích dẫn hiendde

 

ELVIS PRESLEY HIỆN H̀NH TRÊN ĐÁ

 

Bà cụ LaDell Alexander sáu mươi tuổi ở Texas Mỹ, bỗng chốc trở thành nổi tiếng nhờ phát hiện viên đá kỳ lạ:

Trên bề mặt sần sùi của nó hiện rơ vết thẫm h́nh mặt người xoay nghiêng, mái tóc đen với lọn tóc mai ôm sát má, đặc điểm “không lẫn đâu được” của ông vua nhạc rock n roll Elvis Presley.

Là cư dân bang Texas nhưng cụ LaDell Alexander dành phần lớn thời gian lui tới Estes Park, ở thung lũng Colorado để phục vụ sở thích tuổi già: sưu tầm đá lạ.

Viên đá đặc biệt có gương mặt Elvis Presley chỉ là một trong vô số những “đồ trang trí” bắt mắt cụ mang về từ chuyến du lịch gần đây.

- Khi bà ấy cầm viên đá trên tay, tôi đứng cách xa tới sáu mét, nhưng vẫn nh́n rơ mồn một h́nh dáng Presley. Tôi chỉ thốt lên được một từ duy nhất: "Elvis

Cụ ông Lynn Alexander sáu mươi ba tuổi nhớ lại.

- Mười người nh́n thấy ḥn đá này, th́ bảy người nhận ra Elvis Presley mà không cần tôi chỉ tường tận.

Cụ LaDell Alexander nói chuyện với phóng viên tờ báo địa phương Coloradoan.

Ông bà Alexanders dự tính sẽ rao bán viên đá trên mạng eBay vào tháng tám này, nhân kỷ niệm ba mươi năm ngày mất của ông vua nhạc rock (17-8-1977).

Toàn bộ số tiền thu được sẽ dành tặng cho các tổ chức từ thiện Presley.

 


 


H́nh ảnh Elvis trên viên đá

Ảnh chụp hôm 12-7. (Ảnh: Charlotte).

 

                                                                            ST

 

 

 

 

 

 

 

Quay trở về đầu Xem hiendde's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi hiendde
 
hiendde
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 07 November 2006
Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 2516
Msg 1360 of 2534: Đă gửi: 21 March 2009 lúc 1:19pm | Đă lưu IP Trích dẫn hiendde

 

XÁ LỢI CỦA GESHE-LA

TRỞ VỀ TU VIỆN THUPTEN DHARYELING

 

Buổi trưa Chủ Nhật 15 tháng 3 vừa qua, hơn hai trăm Phật tử, đa số là người Việt, đă tụ tập tại tu viện Thupten Dhargye, Long Beach, nghinh đón xá lợi của đại sư Gyeltsen và tham dự lễ cầu nguyện dài gần hai giờ đồng hồ để thỉnh cầu đại sư sớm tái sanh.

 

Sau buổi lễ, Phật tử được chiêm bái một khối xá lợi màu đen, đặt trong b́nh pha lê lót vải màu vàng vẽ hoa văn. Một cư sĩ thân cận trong chùa cho biết:

 

- Đó là xá lợi trái tim của đại sư, trên có lưỡi và mắt của ngài. Phần ngọc xá lợi và các mẫu xương nhiều màu sắc của ngài, sẽ được quư tăng chú nguyện trước khi cho quần chúng chiêm bái...

 

Lễ trà tỳ (hỏa thiêu) kim thân ngài đă được cử hành trọng thể tại quảng trường của tu viện Gaden, miền Nam Ấn Độ, dưới sự chứng giám của đại sư Lahti và nhiều Lạt Ma cao cấp khác cùng hàng ngàn tăng sĩ vào ngày 24-2 vừa qua, tức ngày 30 Tết theo lịch Tây Tạng.

 

Buổi lễ với đầy đủ nghi thức dành cho một Lạt Ma cao cấp, được cử hành ngay sau khi phái đoàn đưa kim thân Geshe-la về tới tu viện Gaden.

 

Trang nhà của tu viện Dhargye tuần đầu Tháng Ba, 2009 cũng đăng một bài tường thuật về những dấu hiệu chứng tỏ sự đạt đạo, giải thoát lớn của Geshe-la, gồm những điểm như:

 

1. Ngay khi Geshe-la ra khỏi thiền định tịnh quang để rời hẳn xác thân, cầu vồng đă xuất hiện.

 

2. Trong ba ngày và ba giờ thiền định sau khi ngưng thở, thân ngài vẫn tươi tốt như người c̣n sống.

 

3. Thời gian thiền định tịnh quang ngắn như vậy chứng tỏ ngài sẽ tái sanh rất sớm để độ sinh.

 

4. Dù hành tŕnh đưa ngài về Ấn Độ rất dài và khó khăn, nhưng kim thân ngài không bị hư hỏng chút nào.

 

5. Các tăng sĩ sửa soạn lễ trà tỳ thấy kim thân Geshe-la nhỏ bé lại nhưng vẫn mềm đủ để họ dựng ngài dậy, đặt ngài ở thế ngồi kiết già.

 

6. Trong chuyến hành tŕnh di quan dài gần bốn ngày, từ Hoa Kỳ qua miền Nam Ấn Độ, mọi chuyện đều tốt đẹp, gần như hoàn hảo, tuy có một số trở ngại trên đường.

 

7. Làn khói đầu tiên bốc lên khi làm lễ trà tỳ bay về hướng Tây, hơi chếch về phía Bắc, đó có thể là dấu hiệu then chốt để đi t́m hóa thân của Geshe-la.

 

8. Sau khi hỏa thiêu, tăng chúng đă t́m thấy rất nhiều xá lợi đặc biệt của ngài. Một tăng sĩ chuyên khảo sát về các xá lợi cho biết:

 

- Trong số các viên ngọc xá lợi có cả những chứng tích của “mắt, lưỡi và trái tim” tương ứng với “thân, khẩu và tâm” của Geshe-la. Điều này chứng tỏ tŕnh độ chứng ngộ tâm linh rất cao của ngài.

 

9. Trên Mạn Đà la bằng cát dưới đáy giàn hỏa, vị tăng chủ tŕ nghi lễ đă thấy dấu chân nhỏ của Geshe-la cũng hướng về phía Tây Bắc.

 

Vị tăng giải thích rằng Geshe-la sẽ tái sinh sớm, ở phía tây bắc của tu viện Gaden. Đại sư Lati vài ngày sau, cười khi nói rằng:

 

- Geshe-la có thể tái sinh bên Hoa Kỳ.

 

Bản tin viết tiếp:

 

- Do những sự kiện trên đây, chúng ta càng thêm tin tưởng ở Geshe-la, tin vào Phật pháp nhiệm mầu. Chúng ta cùng nhau cầu nguyện và tạo công đức để xin ngài sớm tái sanh, lại tiếp tục giảng dạy cho chúng sinh ở Phương Tây này.

 

Một nữ Phật tử Việt Nam tháp tùng kim thân Geshe-la qua Ấn Độ dự lễ trà tỳ, đă kể lại cho nhà báo nghe về những sự kiện, nhiều chi tiết mới nghe tưởng như là chuyện huyền thoại. Bà Lê nói:

 

- Geshe-la cũng như các vị Lạt Ma lớn, có trái tim rất từ bi, nên các ngài thường rút gọn thân ḿnh lại cho nhỏ, để các tăng sĩ làm việc hỏa táng dễ dàng hơn.

 

Sư tổ Shantideva khi rời trần thế, đă hoàn toàn biến thành cầu vồng, không để lại chút xương thịt nào...

 

Sau khi lễ trà tỳ của Geshe-la chấm dứt, trên trời cũng có cầu vồng và nhiều đám mây ngũ sắc, mưa nhẹ lất phất như mưa hoa. Nhiệt độ thường ngày là 105 độ F, riêng bữa đó chỉ khoảng 75 độ mà thôi!

 

BARDO HẤP HỐI VÀ THIỀN ĐỊNH TỊNH QUANG

 

Đại sư Geshe-la Gyeltsen được coi là chính thức viên tịch sau khi đă ngừng thở ba ngày và ba giờ, v́ khi ngừng thở, tâm thức ngài vẫn c̣n ở trạng thái thiền định, nên tăng đoàn đệ tử ngài chỉ coi đó là thời gian hấp hối.

 

Trong thời gian này, ngài trực nhận và thể nhập vào bản tâm thanh tịnh của ḿnh v́ cả cuộc đời ngài đă quen thiền định. Điều này được giải thích rơ trong cuốn Tạng Thư Sống Chết, của Sogyal Rinpoche. Đại sư Sogyal cũng cho biết:

 

- Sự trực ngộ bản tâm là điều mà ai cũng mong đạt tới, nó chính là ch́a khóa để ta thấu hiểu về sống chết. Vào lúc chết, thực sự chỉ có cái tâm thường ngày và vọng tưởng của nó chết đi thôi, trong khi bản chất tinh túy, vô biên của chân tâm có cơ hội hiển lộ..

 

Từ khi hấp hối cho tới khi chấm dứt sự sống là hai thời Bardo quan trọng. Đó là hai thời kỳ trung gian giữa sống và chết, những thời điểm mà con người trải qua nhiều kinh nghiệm mănh liệt và bất định. Thời điểm đó có thể mờ mịt hay sáng láng, tùy vào thuở sinh thời chúng ta sống vô minh hay tỉnh thức, có khả năng định tâm nhiều hay ít.

 

Trong giai đoạn hấp hối, tự tính tâm (tức chân tâm, bản tâm sáng láng của mỗi người) đều có cơ hội ló dạng. Thời gian này đối với một con người b́nh thường, chỉ kéo dài trong một vài giây, nhiều phần khó nhận ra được.

 

Lúc hấp hối đối với người b́nh thường là thời kỳ rất đau khổ v́ họ hay bị ân hận dày ṿ về chuyện quá khứ, hoặc lo sợ cho tương lai bất trắc, không biết sau khi chết, ḿnh sẽ “đi đâu...”

 

Đối với người đă quen thực tập thiền định hoặc may mắn được minh sư hướng dẫn khi hấp hối hoặc lúc mới ngừng thở, th́ bản tâm thanh tịnh sẵn có trong họ có thể đưa họ về hướng an vui thoải mái (“Văng Sanh Cực Lạc”), xả được hết các phiền trược, nghiệp báo đă qua...”

 

Người viết bài này đă từng được chứng kiến hai trường hợp của người thân, khi chết v́ bị đau nên miệng hả ra, cứng ngắc. Ngay sau khi ngừng thở, thân nhân buộc khăn ngay để giữ cho hàm đóng lại nhưng không có hiệu quả ǵ. Sau khi được nghe thầy và bạn đạo tới bên giường tụng kinh, họ tự khép miệng được và mỉm cười, nét mặt rất thư thái.

 

Cũng theo đại sư Sogyal Rinpoche, trong những thời điểm của Bardo hấp hối, Bardo khi mới chết hay sau khi chết, mọi sự đều chuyển biến mănh liệt, ta có cảm tính rất bén nhạy và sâu xa, chất tỉnh giác trong ta rất lớn. Đó là những cơ hội may mắn hiếm hoi để bản tâm thanh tịnh của ta xuất hiện.

 

- Chết là sự phóng thích cái thân xác vật lư, ta có cơ hội kỳ diệu nhất để hoàn tất nỗ lực tu tập suốt đời ḿnh. Ngay cả các vị thầy đă đạt tới sự chứng ngộ cao nhất th́ sự giải phóng cuối cùng cũng chỉ xảy ra vào lúc chết, gọi là Đại niết bàn ố Parinirvana.

 

Theo lời các vị thầy, khi c̣n sống, Phật tánh bị che mờ bởi thể xác, nên khi ta rũ bỏ được xác thân chính lúc chết, th́ ánh sáng căn bản của tâm, hay Linh quang sẽ tự nhiên hiện bày một cách rộng lớn, tráng lệ, huy hoàng.

 

Cũng theo sách Tạng Thư Sống Chết nói trên, các thiền sư cao cấp khi hấp hối là lúc quư ngài “rút hơi thở vào bên trong” chứng nhập giai đoạn Thiền định Tịnh quang, có khi kéo dài nhiều ngày.

 

Trong Bardo chết thật sự, quư ngài xuất thiền, là lúc chân tâm hiển lộ ra thành Linh Quang dưới dạng màu sắc, ánh sáng hay âm thanh kỳ lạ...

 

Nhà báo được nghe từ một nguồn tin thân cận với ngài, rằng v́ nhu cầu công việc chăm sóc và hướng dẫn trẻ em mồ côi Tây Tạng sống tị nạn tại Anh khoảng đầu thập niên 1970, Geshe-la đă lập gia đ́nh. Sau khi hành đạo ở Anh bảy năm, ngài trở lại đời sống tu sĩ và qua Hoa Kỳ hoằng pháp từ năm 1976 tới nay.

 

Theo một Phật tử thân cận với ngài, khi biết ḿnh bị bệnh ung thư bao tử thời kỳ thứ tư, ba tháng trước khi thị tịch, Geshe-la đă nhập thất, ngừng mọi giảng dạy thường nhật để chú tâm tu luyện theo phép “Cho và Nhận” Tonglen.

 

Đó là phép quán tưởng của các thiền sư để nhận thay mọi đau đớn, khổ năo giùm chúng sinh đang bệnh và tặng cho họ những hỷ lạc, thoải mái của quư ngài. Người Phật tử cho biết:

 

- Nét mặt ngài lúc nào cũng tươi nhuận, hân hoan là khác, dù cơ thể ngài đang bị bệnh tấn công. H́nh như ngài không hề bị bệnh hoạn làm sa sút, mà tinh thần lại mạnh mẽ, hân hoan hơn lúc chưa bệnh.

 

Theo vị này, bệnh nặng và hấp hối là những thời điểm để các vị thiền sư chứng ngộ thi triển nội lực hùng hậu của quư ngài trên con đường giải thoát.

 

Phép Cho và Nhận Tonglen là một phương pháp cao cấp, chỉ có các vị đại sư với ḷng từ bi vô lượng và có nhiều thời gian đă huân tập, mới có thể thực hiện.

 

Khi cho và nhận theo phép Tonglen, quư ngài thực tập và chứng nhập phương pháp tu tập của tổ sư Chekhawa, thế kỷ thứ mười một.

 

Chấp Ngă được xả hết và người thực hành Tonglen, thể hiện ḷng từ bi cứu khổ, trong khi thân thể họ tàn hoại từ từ. Cũng có trường hợp người quán theo phép Tonglen được khỏi bệnh.

       

                                                               

                                                                                   Tiểu Huyền

                                

 

 

 

 

 

                     

Quay trở về đầu Xem hiendde's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi hiendde
 

<< Trước Trang of 127 Kế tiếp >>
  Gửi trả lời Gửi bài mới
Bản để in Bản để in

Chuyển diễn đàn
Bạn không thể gửi bài mới
Bạn không thể trả lời cho các chủ đề
Bạn không thể xóa bài viết
Bạn không thể sửa chữa bài viết
Bạn không thể tạo các cuộc thăm ḍ ư kiến
Bạn không thể bỏ phiếu cho các cuộc thăm ḍ



Trang này đă được tạo ra trong 4.4297 giây.
Google
 
Web tuvilyso.com



DIỄN ĐÀN NÀY ĐĂ ĐÓNG CỬA, TẤT CẢ HỘI VIÊN SINH HOẠT TẠI TUVILYSO.ORG



Bản quyền © 2002-2010 của Tử Vi Lý Số

Copyright © 2002-2010 TUVILYSO