dinhnghitruong Hội viên


Đă tham gia: 09 March 2009
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 158
|
| Msg 965 of 1199: Đă gửi: 16 August 2009 lúc 4:34am | Đă lưu IP
|
|
|
Nguyên văn:
Thái Dương tinh
Sao Thái dương tinh, ngũ hành thuộc
dương hỏa, trên trời là tượng mặt trời, hóa khí là quư, tại nam mệnh, là sao
cha và sao con. Tại nữ mệnh, là sao cha, chồng và con. Hợp người sinh ban ngày,
bất lợi người sinh đêm. Trên lá số là chủ tinh của cung Quan lộc. Thái dương
trong 12 cung có nhiều tên gọi, giờ để phân biệt đặt thuyết như bên dưới, mời
người học cùng nghiên cứu.
Thái dương cư tư cung gọi là “Thiên nghi”, chủ là người giàu t́nh cảm, chủ sanh
quư tử.
(*) nghi: nên/hợp - ư nói TD cũng hợp ở
cung tư.
Thái dương cư sửu cung danh “Thiên u”, nhật nguyệt đồng cung, chủ là người tính
khí thất thường, khó đoán.
(*) u: tối tăm, u ám - ư nói TD thất hăm ở cung sửu.
Thái dương cư dần cung gọi là “Thiên tang” (tang : cây dâu), ư là mặt trời mọc
lên đầu đỉnh cây dâu, đây là lúc mặt trời mọc chính đông, chủ là người phúc hậu
danh hiển.
Thái dương cư măo cung xưng danh “Thiên ô” (ô = con quạ), chủ thông minh, có
tài lạ, có khí khái của bậc đại trượng phu, đa nghệ đa tài, danh hiển, giàu có
dư giả.
Thái dương cư th́n cung gọi “ Thiên sảng” (sảng: sáng sủa), lúc mặt trời mọc
lên cổng rồng (“nhật xuất long môn”, cầu này hơi lạ tại, v́ VN chỉ thấy có “nhật
xuất lôi môn”), chủ thiếu niên hiển đạt, quyền danh xa gần nức tiếng.
Thái dương cư tị cung danh “U huy” (ánh sáng ẩn sau mây), chủ là người chí cao
khí ngạo, quá sắc sảo, hưởng lộc hậu quyền cao, kẻ sỹ công danh hiển đạt.
Thái dương cư ngọ cung gọi là “Nhật lệ trung Thiên”, chủ người phúc hậu lộc trọng,
chí khí mănh mẽ.
Thái dương cư mùi cung gọi là “Thiên huy”, Nhật Nguyệt quang huy, chủ quyền trọng
hào sảng.
Thái dương cư thân cung xưng danh “Thiên ám”, chủ người học nhiều mà chẳng
thành công, đường đời ko bằng phẳng.
Thái dương cư dậu cung xưng danh “Cửu không”, chủ người hành sự hanh thông, có
trước có sau; tối kị sát tinh, nếu thủ chiếu sát tinh chủ tai ách h́nh tù.
(*) Cửu không: chắc xuất phát từ thành ngữ
“Thập thất cửu không” (thấy mười căn nhà th́ hết chín căn bỏ hoang, ư nói gặp cảnh
loạn lạc, thiên tai, phá sản), lấy “Cửu không” đặt cho Thái dương cư dậu, ư nhắn
nhủ tốt th́ có tốt, nhưng nếu thấy hung sát tinh, coi chừng thành “hư không”.
Thái dương cư tuất cung danh “Thiên xu” (Xu là ngôi sao đầu tiên trong cḥm sao
Bắc đẩu), nhật tàng quang huy, danh tuy bất dương (ko có danh tiếng), nhưng gặp
sao tốt th́ lại phản thành giàu có.
Thái dương cư hợi cung danh “Ngọc tỉ” (cái ấn ngọc), nhật nguyệt phản bối, cách
xấu, nhưng gặp phản vi kỳ cách, gặp sao hay cách cục tốt, thiếu niên đă có công
danh, lập chiến công).
Tóm lại: Thái dương tinh lấy
sự quư làm chính, giàu có chỉ là thứ; Thái âm nguọc lại, lấy phú làm chính, quư
là thứ.
- Thái dương tinh tối hỉ cát tinh hội chiếu như Tam thai, Bát tọa, Văn xương,
Văn khúc, Thiên khôi, Thiên việt, Tả phụ, Hữu bật, chủ sự nghiệp vĩ đại, đă được
danh tiếng c̣n giàu có.
- Thái dương tại tuất cung, chủ hữu nhăn bệnh, cận thị, tán quang đẳng t́nh huống.
Tại ngọ cung tuy quư, đăn nhật quang thái liệt (quá mạnh), diệc chủ hữu mục tật
(bệnh mắt).
- Thái dương tại hợi, phản năng đại phát, đăn tất tu hội ngộ Lộc tồn, Hóa lộc,
Thiên mă phương hợp cách.
Lục Bân Triệu b́nh chú :
1. Thái dương là trung thiên chủ tinh, thuộc
về chủ tinh ở người sinh ban ngày, c̣n chủ tinh của người sinh ban đêm là Thái
âm. Thái dương là sao cha và sao con, ở nữ mệnh c̣n là phụ tinh, phu tinh và tử
tinh. Lư thuyết này cũng không phải nói chuyện
phiếm cho vui. Trên tinh bà, bất kể Thái dương cư vào trong cung viên
nào, thực tế đều từ sự đắc hăm, có thể trợ giúp suy đoán vận tŕnh của phụ thân,
chồng cùng con ḿnh, Thái dương cư miếu vượng tắc cát, cư vào lạc hăm tắc bất
cát, nhưng điều này cũng chỉ là nói đến cái thông thường, so sánh t́nh trạng lục
thân. Ví dụ như, Thái dương Thái âm cư sửu cung, Thái âm nhập miếu, Thái dương
lạc hăm; mặc dù cho đây không phải là cung Phụ mẫu, mà cung Phụ mẫu lúc này nhiều
sao đại hung, vậy nếu muốn phán đoán khắc ứng vào vị thân nhân nào th́ sao, ở
đây t́nh huống Thái dương Thái âm này
(cư sửu), có thể cho chúng ta biết, tai học ứng vào phụ thân. Mặt khác, nếu như
Thái dương thủ mệnh lạc hăm, cũng chủ bất lợi cho nam, nữ mệnh gặp phải, càng bất
lợi trong cuộc sống hôn nhân.
2. Thái dương hợp người sinh ban ngày bất hợp dạ sanh nhân. Nhật sanh nhân là ư
nói sinh ra vào khoảng từ giờ dần đến giờ mùi. Dạ sanh nhân là người sinh giờ
thân đến giờ hợi và giờ tư sửu. Thái dương thủ mệnh cho người sinh ban ngày so
với người sinh ban đêm có lực tác động (tốt) mạnh hơn, c̣n h́nh thương khắc hại
(xấu) th́ ít hơn.
3. Nguyên văn cho rằng Thái dương “vi mệnh bàn trung sự nghiệp cung đích chủ tinh” (ở lá số sao Thái dương là chủ tinh của cung
Quan lộc), trong thư tịch cổ Thái dương gọi là Quan lộc chủ, điều này cũng
chẳng phải là dùng từ ngữ tùy tiện, mà là chỉ ra Thái dương cư cung Quan Lộc (tức
Sự nghiệp cung) tính chất của nó rất tốt đẹp, so với Thái dương cư Mệnh tốt hơn
bởi v́ tại mệnh ít nhiều đối với người thân là nam giới vẫn có điểm h́nh khắc,
nhưng khi cư Sự nghiệp cung th́ Thái dương được đóng đúng chổ nên tốt, mà lại
không mắc khuyết điểm của Thái dương (khi cư mệnh).
4. Thái
dương miếu vượng nhàn hăm tại 12 cung rất dễ dàng phân biệt, cứ y theo mức
độ ánh sáng của Thái dương th́ có thể
biết được, mở tinh bàn ra có mười hai cung là tư, sửu, dần, măo, th́n, tị, ngọ,
mùi, thân, dậu, tuất, hợi, mười hai cung làm thành tứ phương, thật ra h́nh tứ
phương này là phương hướng 4 phía, địa lư học truyền thống Trung Quốc hoặc
phong thủy đều duyên dụng hệ thống phương vị này. Địa lư học phương Tây đang ứng
dụng vào bản đồ lấy phía trên là bắc, phía dưới là nam, phải là đông, trái là
tây. Địa lư Trung Quốc có phương thức biểu đạt trái ngược, lấy phía trên là
nam, phía dưới là phương bắc, bên trái phương đông, bên phải là tây. V́ thế, giả
như xem tinh bàn như bản đồ giấy th́ hợi cung, tư cung, sửu cung là phương bắc;
dần cung, măo cung, th́n cung phương đông; tị cung, ngọ cung, mùi cung nam
phương; thân cung, dậu cung, tuất cung Tây phương. Đem phương vị mười hai cung
phân ra, tư cung là chính bắc, sửu cung là đông bắc thiên bắc (ngă về bắc), dần
cung đông bắc thiên đông, măo cung là đông phương, th́n cung là đông nam thiên
đông, tị cung là đông nam thiên nam, ngọ cung là chính nam, mùi cung vi tây nam
thiên nam, thân cung vi tây nam ngă về tây, dậu cung vi Tây phương, tuất cung
vi tây bắc thiên tây, hợi cung vi tây bắc thiên bắc. Cứ theo tính chất phương vị
mười hai cung kia, chúng ta có thể biết ở đâu ánh sáng Thái dương sáng nhất, cung nào tối nhất, lấy ánh quang sáng nhất
là nhập miếu, tối nhất là lạc hăm. Từ đó có thể biết, Thái dương tại 6 cung dần măo th́n tị ngọ mùi là ban ngày, nên là
miếu vượng, ở thân dậu tuất hợi tư sửu là ban đêm, nên nhàn hăm.
5.
Thái dương ở tư cung vi “Thiên nghi”,
mặc dù giàu t́nh cảm, nhưng lại không dễ dăi đem t́nh cảm vào công việc, khi gặp
phải sự cố, cho dù bị cho là yếu kém, nhưng thường không có hành động (phản ứng)
sinh tai vạ.
Bàn
về nghĩa nguyên văn “chủ sinh quư tử”, kỳ thực câu này với tính chất Thái dương chẳng có quan hệ ǵ, chẳng
qua là Thái dương tư cung tọa mệnh, th́ cung Tử tức tất mượn đối cung là Tử Vi
Tham Lang, được Thiên phủ cùng Thiên tướng triều cung, trở thành “Phủ Tướng triều
viên” cách, nên chủ “quư tử”. Nhưng nếu mà Tử Vi Tham Lang cùng gặp gỡ Văn
Xương Văn Khúc Đào hoa tạp diệu, con cái lại như một nhân vật phong lưu, chẳng
phải quư tử.
6. Thái dương tại sửu cung là
“Thiên u”. Thái dương tại cung này cùng Thái âm đồng cung, tại sửu cung, Thái
dương lạc hăm, Thái âm nhập miếu, nhân v́ 2 sao đồng cung nên có tính cách thất
thường, không dẽ dàng đoán định, bất quá, mệnh có cách này, khuynh hướng mang
khuyết điểm tâm lí của Thái dương, mà vốn có đủ ưu điểm tế nhị của Thái âm.
7. Thái dương tại dần cung vi “Nhật xuất phù tang” (đặt vậy là v́ mặt trời lúc này vừa ló dạng, nh́n mặt trời lúc này có vẻ như treo ngang cây dâu tằm, nâng đỡ
cành dâu), c̣n gọi là “Húc nhật đông thăng” (Bóng ánh sáng mặt trời mọc lên ở phía đông), tại cung này ko cư 1
ḿnh mà cùng Cự môn đồng cung, tuy mệnh cách này có đủ khí chất linh hoạt,
nhưng khó thể cho là v́ một trong hai sao này mà thành “phúc hậu danh hiển” (danh tiếng, phúc dày), bất quá, chỉ chỉ
cần một ít cát diệu mà bất kiến sát tinh, th́ đúng là dễ dàng đắc thanh danh.
Thái dương Cự môn tại dần cung, cũng gọi là “Thiên tang”, càng ích lợi khi ra ở
hải ngoại hoặc thành danh (trong phạm vi) cùng với người ngoại quốc.
8. Thái dương tại măo cung, cùng
Thiên lương đồng cung, cách này gọi là “Thiên ô”, cũng gọi là “Nhật chiếu lôi
môn”, vô luận nam mệnh nữ mệnh, đô chủ “đại trượng phu khí khái”, kiến thêm cát
diệu, dễ chủ đa tài đa nghệ, bất chỉ có danh, mà c̣n có lợi, ấy là do ở cung Tài
bạch cung, tất thấy Thái âm nhập miếu thủ hợi cung , Thái âm chính là tài tinh.
Nam
mệnh có cách cục này, vẻ ngoài rất anh minh tuấn vĩ, nữ tính th́ ngược lại có
tướng mạo phảng phất nam tính, khi ấy thường bất lợi hôn nhân.
9. Thái dương tại th́n cung độc tọa,
gọi là “Thiên sảng”, đối cung có Thái âm củng chiếu, cũng chủ danh lợi song
thu, hơn nữa th́ thiếu niên đắc chí.
10. Thái dương tại tị cung độc tọa,
gọi là “U huy” (ánh sáng ẩn nấp sau mây),
đối cung có Cự môn, cách cục này cũng sớm lộ vẻ sắc sảo, nhạy bén, càng ích lợi
khi xuất ngoại thành danh, hoặc được người ngoại quốc tôn sùng.
11.
Thái dương ở ngọ cung, gọi là “Nhật
lệ trung thiên”, đây là kết cấu rất trọng yếu, hết sức khí phách, nhưng công việc
bề bộn, cuộc sống bao đồng, thu nhập cao, chi ra cũng nhiều.
12. Thái dương mùi cung là “Thiên huy”, cùng Thái âm đồng cung, nhưng Thái
dương có ánh quang, Thái âm lại thất huy, thành ra khiến cho cách cục này danh
lợi nhiều. Bất quá, so với sửu cung giống nhau, Thái dương Thái âm đồng cung đều
có khuyết điểm tính cách không dễ dáng đoán định.
13. Thái dương ở thân cung là “Thiên
ám”, ở đây Thái dương Cự Môn đồng
cung, nhưng bởi v́ Thái dương dần dần
thất huy, nên mặc dù kết cấu tinh đẩu giống dần cung nhưng không có “đại chí phúc dày” như “Thiên tang” dần cung, nên làm
việc thiếu sự bền chí.
14.
Thái dương ở dậu cung là “Cửu
không”, Thái dương Thiên lương đồng
cung, ánh mặt trời mất sáng, không giải được cái ám của Thiên lương (hăm địa),
nên nhân duyên với lục thân có sự bất túc, không trọn vẹn.
15. Thái
dương ở tuất cung là “Thiên xu”, Thái
dương ở đây đă lạc hăm, nhưng có thể tàng ẩn cái danh đi để đắc lợi, nên rất
tốt nếu gặp Lộc Tồn, Hóa Lộc, chủ thành giàu có.
16. Thái dương ở hợi cung gọi là “Ngọc tỷ”,
mặc dù lạc hăm, nhưng cũng giống như ở tuất cung đều chủ tàng danh để đắc lợi,
phấn phát, phát tài không một hơi một tiếng nào. Về phần “thiếu niên khả lập
công huân” đúng hay không c̣n phải cần xem tinh tượng phối hợp thế nào để định
đoạt.
17.
Nguyên văn nhắc tới việc Thái dương
mừng gặp tinh diệu, nhưng thật ra Thái
dương là trung thiên chủ tinh, cùng giống Tử Vi bắc đẩu chủ tinh, đều hỉ
“bách quan triều củng”, tức là hỉ gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên khôi, Thiên việt,
Văn Xương, Văn Khúc, Lộc Tồn, Thiên mă, Tam Thai, Bát tọa, Thai Phụ, Phong cáo,
Ân quang, Thiên quư, Long Tŕ, Phượng Các, Thiên phúc, Thiên Quan, được “bách
quan” ấy, th́ “sự nghiệp vĩ đại, vừa quư mà c̣n phú.”.
18. Nguyên
văn nhắc tới Thái dương ở tuất cung
và ngọ cung chủ bệnh về mắt, thời theo kinh nghiệm đă qua, đây là chủ tật cận
thị và mắt ḷa, nhưng thực tế chúng ta chứng kiến, rất nhiều người Hương Cảng đều
có tật cận thị hay ḷa bất kể họ có sao
này hay không; ngay cả khi có sao này, tật ở thị lực ấy cũng không thể so với
người bị cận thị hay bị ḷa nặng, thế nên, ngu kiến của tôi cho là kinh nghiệm
này cần phải xem lại cho đúng.
19. Thái dương như ánh lửa cháy mạnh, tuy thành tựu hiển hách, nhưng lại
mang trọng trách tài chính rất nặng, phải tiếp tế chiếu cố cho rất nhiều người.
Bởi vậy, từ cái lợi này mà tự quan sát, Thái dương ở cung lạc hăm, như hợi
cung, tuất cung, rất cần có các sao Lộc Tồn, Hóa Lộc, Thiên mă thời ngược lại lợi
cho buôn bán, kinh doanh phát đạt, nhưng lại không mang phận sự tài vụ; bất quá
từ phương diện nhân cách mà nh́n, ánh sáng đạo đức của Thái dương tị ngọ cung,
hơn hẳn Thái dương lạc hăm.

__________________ Xui cho ai xem phải lá số trật giờ !
|