Đăng nhập nhanh
Mạnh Thường Quân
  Bảo Trợ
Chức Năng
  Diễn Đàn
  Thông tin mới
  Đang thảo luận
  Hội viên
  Tìm Kiếm
  Tham gia
  Đăng nhập
Diễn Đàn
Nhờ Xem Số
  Coi Tử Vi
  Coi Tử Bình
  Coi Địa Lý
  Coi Bói Dich
  Chọn Ngày Tốt
Nghiên Cứu và
Thảo Luận

  Mệnh Lý Tổng Quát
  Qủy Cốc Toán Mệnh
  Tử Vi
  Tử Bình
  Bói Dịch
  Mai Hoa Dịch Số
  Bát Tự Hà Lạc
  Địa Lý Phong Thủy
  Nhân Tướng Học
  Thái Ất - Độn Giáp
  Khoa Học Huyền Bí
  Văn Hiến Lạc Việt
  Lý - Số - Dịch - Bốc
  Y Học Thường Thức
Lớp Học
  Ghi Danh Học
  Lớp Dịch & Phong Thuy 2
  Lớp Địa Lư
  Lớp Tử Vi
    Bài Giảng
    Thầy Trò Vấn Đáp
    Phòng Bàn Luận
    Vở Học Trò
Kỹ Thuật
  Góp Ý Về Diễn Đàn
  Hỗ Trợ Kỹ Thuật
  Vi Tính / Tin Học
Thư Viện
  Bài Viết Chọn Lọc
  Tủ Sách
Thông Tin
  Thông Báo
  Hình Ảnh Từ Thiện
  Báo Tin
  Bài Không Hợp Lệ
Khu Giải Trí
  Gặp Gỡ - Giao Lưu
  Giải Trí
  Tản Mạn...
  Linh Tinh
Trình
  Quỷ Cốc Toán Mệnh
  Căn Duyên Tiền Định
  Tử Vi
  Tử Bình
  Đổi Lịch
Nhập Chữ Việt
 Hướng dẫn sử dụng

 Kiểu 
 Cở    
Links
  VietShare.com
  Thư Viện Toàn Cầu
  Lịch Âm Dương
  Lý Số Việt Nam
  Tin Việt Online
Online
 39 khách và 0 hội viên:

Họ đang làm gì?
  Lịch
Tích cực nhất
dinhvantan (6260)
chindonco (5313)
vothienkhong (4986)
QuangDuc (3946)
ThienSu (3762)
VDTT (2666)
zer0 (2560)
hiendde (2516)
thienkhoitimvui (2445)
cutu1 (2295)
Hội viên mới
thephuong07 (0)
talkativewolf (0)
michiru (0)
dieuhoa (0)
huongoc (0)
k10_minhhue (0)
trecon (0)
HongAlex (0)
clone (0)
lonin (0)
Thống Kê
Trang đã được xem

lượt kể từ ngày 05/18/2010
Advertisements
- Để xem bài cũ diễn đàn tuvilyso.com 2002-2010, vào website: www.tuvilyso.com

- Để xem bài cũ diễn đàn tuvilyso.net 2010-2011, vào website: www.tuvilyso.net

- Để trao đổi thảo luận, vào website: www.tuvilyso.org

Khoa Học Huyền Bí (Diễn đàn bị khoá Diễn đàn bị khoá)
 TUVILYSO.com : Khoa Học Huyền Bí
Tựa đề Chủ đề: Ḥa Thượng Thích Thanh Từ giảng Gửi trả lời  Gửi bài mới 
Tác giả
Bài viết << Chủ đề trước | Chủ đề kế tiếp >>
Vittroi
Hội viên
 Hội viên


Đă tham gia: 07 July 2005
Nơi cư ngụ: Svalbard
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 48
Msg 1 of 12: Đă gửi: 03 April 2006 lúc 4:35pm | Đă lưu IP Trích dẫn Vittroi

Chào tất cả mọi người,

có bài giảng của Thầy Thích Thanh Từ về những điều Thầy trải nghiệm sau thời gian nhập thất 2 năm, mời bạn nào quan tâm xem tham khảo

http://www.thuvienhoasen.org/tienthangvaothientong-00.htm

Chúc các bạn một ngày vui,
Quay trở về đầu Xem Vittroi's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi Vittroi
 
 
vuithoi
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 08 April 2005
Nơi cư ngụ: Canada
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 375
Msg 2 of 12: Đă gửi: 03 April 2006 lúc 7:21pm | Đă lưu IP Trích dẫn vuithoi

Chào chị Vittroi,

Cảm ơn chị đă post cái link này.

Tuy nhiên, chỗ không nghĩ bàn mà bàn được th́ chưa phải.

Chúc chị an lạc,

vuithoi

__________________
vui thoi ma
Quay trở về đầu Xem vuithoi's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi vuithoi
 
Learner
Hội viên
 Hội viên


Đă tham gia: 09 February 2006
Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 673
Msg 3 of 12: Đă gửi: 03 April 2006 lúc 7:25pm | Đă lưu IP Trích dẫn Learner

TIẾN THẲNG VÀO THIỀN TÔNG
THÍCH THANH TỪ


KHÁM PHÁ ÔNG CHỦ

Thiền viện Trúc Lâm - Đà Lạt, ngày 08-10-2004
Hôm nay Tăng Ni về đây nghe tôi nói chuyện, v́ gần hai năm không thuyết pháp nên hơi ngắn, tôi nói nhiều không được, nói từ từ chút chút thôi. Đề tài buổi nói chuyện hôm nay là Khám phá Ông chủ. Đơn giản vậy!

Chúng ta ai cũng có Ông chủ, nhưng hỏi Ông chủ ở đâu th́ không biết. Lâu nay người tu thường mắc bệnh t́m bên ngoài hơn là quay lại ḿnh. Giờ đây khám phá được Ông chủ là niềm vui lớn của tôi. Tôi nghĩ cũng là niềm vui chung của tất cả Tăng Ni, Phật tử. Lư do ǵ tôi khám phá được Ông chủ? Đó là đi sâu trong vấn đề.

Cách đây mười hai hôm, 7 giờ tối ngày 13 tháng 08 năm Giáp Thân, tôi ngồi thiền tới khoảng 8 giờ. Được yên định khoảng thời gian không biết bao lâu, tôi tự phản chiếu lại cái định của ḿnh sao không được rơ ràng thường biết như định nghĩa Chân tâm. V́ vậy tôi hơi ngờ, không chấp nhận được. Bởi không chấp nhận nên tôi dừng lại, tỉnh táo đặt câu hỏi: “Nếu là Chân tâm của ḿnh, đ̣i hỏi phải thường xuyên rơ ràng. Bây giờ ḿnh yên định mà hơi mờ mờ không biết rơ ràng. Đó không phải là Chân tâm.”

Khi ấy tôi ngồi lại b́nh thường, đặt từng câu hỏi để khám phá ra Chân tâm là ǵ, ở đâu? Bấy giờ tôi nhớ trong kinh, Phật nói Chân tâm ở ngay sáu căn, nơi sáu căn đầy đủ Chân tâm. Tôi ngạc nhiên tự hỏi: “Nơi sáu căn, làm sao ḿnh biết được Chân tâm?” Ngồi một hồi tôi tỉnh, nhớ lại trong Duy thức học nói, niệm đầu là chân, niệm thứ hai thứ ba là vọng. Tôi nghĩ khi mắt mở ra nh́n thấy cái này, cái nọ, phân biệt tốt xấu là rơi vào niệm thứ hai. Nó đi một mạch chớ không dừng. Nếu nói Chân tâm là niệm đầu nơi sáu căn, làm sao ḿnh giữ được niệm đầu? Vừa thấy liền chạy qua niệm thứ hai, thứ ba mất. Tôi nghĩ muốn nhận ra Chân tâm th́ phải biết rơ Chân tâm.

Trong nhà Phật thường nói Chân tâm là cái thường biết rơ ràng, tỉnh táo sáng suốt chớ không mờ mờ. Như vậy khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần ḿnh biết rơ ràng, làm sao dừng ở chặng đầu, đó là điều quan trọng. Ngồi gẫm thật kỹ, tôi thấy bây giờ ḿnh nên đặt thành phương tiện. Vừa nh́n chưa cần thấy cái ǵ, tự nhủ mắt biết thấy là Chân tâm. Biết là tâm. Thấy được cảnh, ngay niệm đầu đừng có niệm thứ hai thứ ba. Thấy biết là Chân tâm, c̣n thêm cái ǵ nữa th́ quá Chân tâm rồi.

Ngay nơi sáu căn, mắt thấy - biết - dừng. Tai nghe - biết - dừng. Thân xúc chạm - biết - dừng, không cho đi qua niệm thứ hai thứ ba. Tôi sử dụng như thế thấy có hiệu nghiệm. Khi thấy nói Chân tâm, nó dừng lại. Khi nghe nói Chân tâm, nó dừng lại. Vừa khởi phân biệt nói Chân tâm, nó dừng lại. Nếu để nó đi th́ nó đi luôn một mạch, chớ không dừng. Muốn nó dừng phải chận lại, bằng cách đem Ông chủ ra chận. Vừa thấy là Chân tâm, vừa nghe là Chân tâm, sáu căn vừa tiếp xúc với sáu trần, vừa ở niệm đầu là Chân tâm. Mới thấy Chân tâm ở sẵn nơi ḿnh, tại v́ chúng ta cứ cho qua hoài nên không thấy. Bây giờ ngay nơi niệm đầu nhận là Chân tâm th́ các niệm khác không xen vào. Tôi ứng dụng tu phương pháp này thấy có hiệu nghiệm.

Trong sáu căn, nổi nhất là mắt, kế đến tai, kế nữa là thân. Đó là ba căn nổi, luôn tiếp xúc với bên ngoài. C̣n mũi, lưỡi, ư th́ ch́m, khi có khi không. V́ vậy tôi lấy ba căn nổi làm chỗ tựa. Mắt biết thấy là Chân tâm. Tai biết nghe là Chân tâm. Thân biết xúc chạm là Chân tâm. Biết thấy, biết nghe, biết xúc chạm đều là Chân tâm hiện tiền, không có niệm nào nữa.

Như vậy tự ḿnh thấy ḿnh có cái chân thật hiện tiền, chẳng phải không. Lâu nay chúng ta quên đi, thấy th́ thấy cái ǵ, nghe th́ nghe cái ǵ, xúc chạm th́ xúc chạm cái ǵ… cứ t́m cái thứ hai thứ ba, từ đó dẫn ḿnh đi luôn, quên mất cội gốc. Bây giờ vừa thấy, vừa nghe, vừa biết xúc chạm liền đặt thẳng “Chân tâm”, nó dừng ngay, không bước qua niệm thứ hai thứ ba. Đó là tự ḿnh quay trở về với chính ḿnh, không chạy ra ngoài nữa.

Thí nghiệm được rồi, tôi nghĩ nếu Chân tâm ở khắp sáu căn, ḿnh biết ba căn chưa đủ. C̣n ba căn kia tôi cũng dùng phương tiện như mắt biết thấy là Chân tâm, tai biết nghe là Chân tâm, mũi biết mùi là Chân tâm, lưỡi biết nếm là Chân tâm v.v… tôi đi một mạch, tới ư biết pháp trần là Chân tâm. Chỉ biết thôi, không có phân biệt. Như vậy sáu căn tiếp xúc với sáu trần, biết là dừng ngay. Ngay sáu căn vừa tiếp xúc sáu trần ḿnh chận đứng, nó không chạy nữa. Tự nhiên tôi phấn khởi trong ḷng, nhớ lại câu chuyện ngài Đại An đến hỏi Tổ Bá Trượng:

- Bạch Ḥa thượng, thế nào là Phật?

Tổ Bá Trượng nói:

- Như người cỡi trâu t́m trâu.

Chúng ta có giống cỡi trâu t́m trâu không? Phật ở ngay nơi sáu căn mà ḿnh bỏ, cứ t́m Phật bên ngoài, khác ǵ cỡi trâu t́m trâu. Cho nên khi thấy được Chân tâm sẵn nơi sáu căn, chúng ta tự nhận lấy, không t́m Phật ở ngoài nữa. Đến đây tôi nhận ra cái chân thật của chính ḿnh ngay nơi sáu căn, với điều kiện chỉ có niệm đầu thôi th́ là chân, đừng để tới niệm thứ hai thứ ba là qua vọng thức rồi.

Từ hôm đó, mỗi đêm ngồi thiền tôi hết buồn ngủ. Nhớ sáu căn, nhớ ông Phật của ḿnh, nhớ hoài hết buồn ngủ. Từ sự tỉnh táo đó tôi đi sâu thêm. Sáu căn là cái chân thật hiện có của chính ḿnh, biết sống ngay đó là biết sống trở về với ḿnh. Trở về với ḿnh là biết được Ông chủ. Đến đây tôi đặt câu hỏi: “Chân tâm là ǵ?” Lâu nay chúng ta cứ định nghĩa, Chân tâm là Tâm chân thật của chính ḿnh. Tâm chân thât là cái biết chân thật. Bây giờ tôi không định nghĩa mà tự hỏi: “Chân tâm là ǵ?” Tôi thấy Chân tâm là Ông chủ thường biết rơ ràng, trùm khắp sáu căn, không có tướng mạo, không có sanh diệt. Định được nghĩa đó rồi, tôi thấy ḿnh có Ông chủ hay nói cách khác là khám phá ra Ông chủ.

Khi khám phá được như vậy, tôi thấy trên đường tu, chúng ta ứng dụng lối tu trở về với Ông chủ là lối tu gần nhất, c̣n những lối tu khác hơi xa hơn. Tôi nghĩ hiện ḿnh có Ông chủ sẵn nơi sáu căn, làm sao đừng vượt qua Ông chủ, chạy đầu này đầu nọ. Tới Ông chủ là dừng, như vậy trở về không khó. V́ thế khi thấy tôi nói biết thấy, khi nghe tôi nói biết nghe, khi xúc chạm tôi nói biết xúc chạm. Biết thấy là Chân tâm, biết nghe là Chân tâm, biết xúc chạm là Chân tâm. Ngang đó nghĩ là Chân tâm th́ các niệm khác không có. Cho nên tu bằng cách này gọi là đánh phủ đầu. Đem Ông chủ ra dọa, đánh cho các niệm thứ hai thứ ba chạy mất. Vừa thấy biết là thấy, nếu không biết làm sao thấy? Biết tức là thấy, thấy đó là Chân tâm, có ai chen vô được? Đằng này ḿnh biết liền hỏi “cái ǵ”, nên bị nó dẫn đi một mạch.

Tất cả những thấy, nghe… đều là biểu hiện cái chân thật của chính ḿnh. Khi ứng dụng như vậy tôi thấy giờ ngồi thiền chỉ ṛng ră trong cái biết chân thật thôi. Thấy là Chân tâm, nghe là Chân tâm, cái ǵ cũng Chân tâm, cả ngày ḿnh sống trong Chân tâm mà không hay. T́m ra tới đó th́ hết giờ ngồi thiền, tôi xả thiền rồi đi ngủ, nhưng ngủ không được. Nó phơi phới trong ḷng, nhẹ nhàng làm sao! Mới thấy lâu nay ḿnh cứ t́m bên ngoài.

Ngồi thiền muốn định để thấy Chân tâm, nhưng định lại thấy mờ mờ. Chân tâm là rơ ràng thường biết mà thấy mờ mờ th́ đâu phải Chân tâm. V́ vậy tôi không chấp nhận thấy mờ mờ, đ̣i hỏi rơ ràng thường biết. Muốn rơ ràng thường biết phải tỉnh táo, hơi mờ mờ không được. Lâu nay ḿnh quan niệm hơi lệch một chút, ngồi thiền muốn được yên nên kềm, làm như bị say trong định. Định rồi có khi quên ngày quên tháng, tưởng như vậy rất tiến bộ, nhưng định như thế là quên ḿnh.

Lần này tôi thí nghiệm, ngồi thiền bắt buộc quên hết không c̣n biết ǵ. Quả nhiên tôi quên hết. Tới hồi xả thiền, không biết năy giờ ḿnh làm cái ǵ. Tôi nghĩ đó là định nhưng thuộc về si định, v́ định mà không biết ǵ. Định sáng sủa mới định trong Chân tâm. Chân tâm mà không sáng sủa th́ đâu được Chân tâm. Nên đôi khi chúng ta cũng bị lầm, cứ ngỡ ai ngồi được năm ngày, bảy ngày cho là đại định. Định đó thuộc về Thanh văn, không phải định của Thiền tông. Thiền tông là định trong cái rơ ràng thường biết. Thường biết th́ không quên, quên th́ không định. Đó là những kinh nghiệm tôi trải qua, nhất là trong thời gian gần đây.

Từ hồi đầu năm đến giờ trong thất, tôi hơi nặng về Bát-nhă, nghiên cứu sâu về Bát-nhă. Càng đi sâu vào Bát-nhă tôi lại cảm thấy lo. Nếu thấu triệt lư Bát-nhă để tu kết quả cũng tốt, nhưng đem truyền bá nói không ai dám nghe, v́ cái ǵ cũng không hết, tam thiên đại thiên thế giới cũng không th́ cái ǵ có? Nếu không hết làm sao Phật tử dám tu? Cho nên đi sâu trong lư Bát-nhă chừng nào tôi thấy càng khó truyền bá. Đang băn khoăn về lẽ đó th́ hôm ngồi thiền này, tôi thấy được Ông chủ hiện tiền, ai cũng có. Ông chủ đă có, mất mát đâu mà sợ, do đó khỏi nói lư không. Mắt thấy là Ông chủ thấy, tai nghe là Ông chủ nghe. Ông chủ hiện tiền, lúc nào cũng có.

Nhận ra như thế, tôi thấy ai cũng có thể tu được, không phải chỉ riêng một ít người thôi, v́ ai cũng muốn thấy Ông chủ. Ḿnh là chủ, muốn sống về Ông chủ của ḿnh, đó là chuyện thích hợp. Cho nên nhận ra được lẽ thật này, tôi nghĩ đây là con đường dễ truyền bá, gần gũi với quần chúng, c̣n đường trước khó hơn. Đó là nói đại cương.

Bây giờ đi sâu trong Chân tâm, biết rơ ḿnh có Chân tâm. Một bữa khuya ngồi thiền, tôi đặt câu hỏi: “Chân tâm là ǵ?” Thường chúng ta định nghĩa chân là chân thật, tâm là cái biết, Chân tâm là cái biết chân thật, nhưng bây giờ tôi không định nghĩa như vậy. Tôi nói Chân tâm là Ông chủ thường biết rơ ràng, trùm khắp sáu căn, không tướng mạo, không sanh diệt. Bởi không tướng mạo nên đồng với hư không, không sanh diệt nên giải thoát sanh tử. Đi tới đó mới ra khỏi ḍng sanh tử. Nếu chỉ hiểu Chân tâm theo nghĩa Chân tâm thôi th́ chúng ta không thấy ǵ là giải thoát sanh tử.

Chân tâm trùm hết sáu căn nhưng không có tướng mạo, nếu có tướng mạo làm sao trùm hết sáu căn được? Không có tướng mạo nên khi thân này hoại nó đồng với hư không, tức Pháp thân. Chân tâm không có sanh diệt, c̣n ǵ nữa mà sanh tử nên giải thoát sanh tử. Chân tâm có đủ trong tất cả chúng ta, không hề thiếu. Có Ông chủ là có đủ khả năng đi tới giải thoát, không t́m kiếm ở đâu khác.

Như vậy biết được tột cùng gốc Chân tâm rồi, khi khởi sự tu chúng ta phải tu bằng cách nào? Khi trước đọc câu chuyện Tổ Đạt-ma, Tổ Huệ Khả, tôi lănh hội và đề ra pháp tu. Tổ Huệ Khả thưa:

- Bạch Ḥa thượng, tâm con không an xin Ḥa thượng dạy con pháp an tâm.

Tổ Bồ-đề-đạt-ma nói:

- Đem tâm ra ta an cho.

Ngài Huệ Khả sửng sốt t́m tâm, t́m măi không thấy mới thưa:

- Con t́m tâm không được.

Tổ nói:

- Ta an tâm cho ngươi rồi.

Ngài Huệ Khả lănh hội được, thời gian sau tŕnh:

- Bạch Ḥa thượng, con dứt hết các duyên.

Tổ Bồ-đề-đạt-ma nói:

- Coi chừng rơi vào không.

Ngài Huệ Khả thưa:

- Rơ ràng thường biết, không sao được?

Tổ liền ấn chứng.

Qua câu chuyện đó, tôi thấy an tâm là quay lại t́m xem cái tâm ở đâu, biết nó không thật là an. Lâu nay chúng ta cứ cho cái nghĩ suy hơn thua, phải quấy là tâm ḿnh, sự thật đó chỉ là bóng dáng thôi, tâm thật không phải vậy. Khi chúng ta xoay t́m lại những bóng dáng ấy mất, đó là an. Cho nên tôi hướng dẫn quí vị tu thấy vọng khởi liền buông. Buông hết nó tỉnh lặng, nhưng đi sâu trong sự tu hành trăm người tu chưa được kết quả một hai người. Tại sao? V́ thiếu Bát-nhă mà ra, do đó tôi bắt đêm nào cũng tụng Bát-nhă, nhưng tụng bằng chữ chưa thấm.

Tâm lăng xăng lộn xộn không dừng được tại v́ chúng ta thấy người thật, cảnh thật, muôn vật đều thật. Người thật, cảnh thật, muôn vật đều thật th́ không nhớ cái này cũng nhớ cái kia, luôn luôn tâm không an. Bây giờ muốn nó an phải thấu triệt lư Bát-nhă, người không, cảnh không, cái ǵ cũng không hết, tự nhiên an liền. Muốn tu có kết quả tốt phải ứng dụng Bát-nhă triệt để, ứng dụng triệt để Bát-nhă rồi, không muốn an nó cũng an. V́ không có ǵ thật hết nên đâu c̣n nhớ chi nữa, do đó tâm an.

Quí vị thấy cái ǵ cũng thật nên bảo bỏ, bảo đừng nghĩ không được. Người ta mắng ḿnh thật, ngồi lại nhớ chuyện vui, chuyện buồn, chuyện hay, chuyện dở, đủ thứ chuyện thật hết nên tâm bất an. Một năm rưỡi tôi đi sâu trong Bát-nhă, càng đi sâu càng thấy không có ngă, không có pháp. Không ngă không pháp th́ c̣n ǵ nghĩ? Bây giờ chúng ta chưa bỏ ngă, chưa bỏ pháp được th́ chấp c̣n nguyên. Ngă, pháp c̣n th́ tu không tiến.

Bởi vậy tôi lo đi sâu Bát-nhă, thấy ngă pháp không có, ḿnh nói đạo lư sao đây? Không nói được làm sao giáo hóa? Trong khi tâm tôi ngại ngùng như vậy, bỗng dưng tôi thấy được lư này, tôi hết lo. Ai cũng muốn biết ḿnh có Ông chủ, không ai nói ḿnh không ngơ, th́ bây giờ chỉ Ông chủ cho họ. Sống được với Ông chủ ai cũng vui. Cho nên đường lối này gần gũi, rơ ràng, thích hợp với mọi người, v́ ai cũng có sẵn.

Chúng ta tu tới hết vọng tưởng, c̣n Chân tâm th́ nhắm mắt mới nhập Pháp thân, từ Pháp thân có Ứng thân, Hóa thân độ chúng sanh. Ở đây Ông chủ có đủ, thường biết rơ ràng, không sắc tướng, không sanh diệt. V́ vậy biết được Ông chủ th́ không c̣n kẹt thân sắc tướng nữa. Bấy giờ thân đồng hư không, là Pháp thân bất sanh bất diệt, giải thoát sanh tử. Ngay đây ḿnh có đủ hết, chúng ta nhân danh Ông chủ đi thẳng vào chỗ bất sanh bất diệt. Chớ tu mà không có ǵ th́ buồn chết, không biết sẽ đi về đâu, ai chịu trách nhiệm trong việc tu này?

V́ vậy khi nói tới sự tu, tôi thấy nhà Thiền phân hai loại: một là Thiền tông tu loại ra, hai là Thiền tông tu thu vào. Phương pháp chúng ta ứng dụng lúc trước thuộc về loại ra. Nhưng quí vị loại hoài không hết v́ c̣n thấy thật. Chừng nào thấy thân không, cảnh không, tất cả đều không th́ dễ loại. C̣n nếu thấy thân thật, cảnh thật th́ không bao giờ loại hết. Phương pháp thu vào, thật giả không cần biết, chỉ cần biết Ông chủ thôi, bám vào Ông chủ làm chỗ tựa. Phương pháp loại ra lấy Bát-nhă làm trí tuệ dẹp phá. Phương pháp thu vào lấy Ông chủ làm chỗ tựa. Biết. Ông chủ biết thấy, Ông chủ biết nghe, Ông chủ biết xúc chạm v.v… Nhớ như vậy, sống như vậy th́ trở về gốc, gọi là thu vào. Bởi v́ cái ǵ cũng đem vô Ông chủ hết, không bỏ ra. C̣n pháp kia cái ǵ cũng bỏ ra. Phương pháp thu vào thấy như lạ, nhưng thật t́nh đó là gốc của Thiền tông. Cưỡi trâu chỉ biết trâu chớ không biết ǵ hết, chỉ giữ con trâu thôi, không kiếm ở đâu khác.

Tất cả chúng ta tu, mỗi người mỗi hạnh nhưng pháp nào gần gũi hơn, cần thiết hơn th́ ḿnh sử dụng tu, dạy người cùng tu. Từ hôm tôi thấy được cái gốc đó, tới nay chỉ mười hai mười ba ngày, chưa đủ thời gian kinh nghiệm kỹ. Nhưng tôi nghĩ vô thường bất cập lắm, bây giờ chờ đủ kinh nghiệm mới kêu nói th́ không biết ḿnh c̣n sống hay chết mất, nên tôi phải nói sớm cho tất cả biết. Giả sử tôi có tịch, quí vị cũng có một lối đi rồi phăng lần thêm. Chúng ta cứ đi theo lối cũ th́ không thuận tiện trong việc giáo hóa hiện tại. Nói tới thiền phải nói tới tột cùng, không thể đi nửa chặng, không phải tu thiền để yên tâm, để khỏe, mà là phải đi tới tột cùng.

Bây giờ trở lại phương pháp tôi đă và đang ứng dụng trong thời gian gần đây. Khi sử dụng pháp này th́ đi, đứng, nằm, ngồi đều rất dễ tu. Như sáng tôi đi chơi, chống gậy đi trên đường, vừa bước đi, mắt thấy, tôi nói “mắt thấy là Chân tâm”; vừa nghe tiếng chim kêu, tôi nói “tai nghe là Chân tâm”; chân bước cộp cộp là thân xúc chạm, tôi nói “thân xúc chạm là Chân tâm”. Như vậy thấy, nghe, vận động đều không ngoài Chân tâm, cái nào cũng Chân tâm. Đi giáp một ṿng không biết mấy trăm lần Chân tâm. Tôi không nói sống được với Chân tâm, nhưng đi tới đi lui đều có Chân tâm. Như vậy tôi có sống được chút nào chưa?

Đi từng bước ḿnh biết đi trong Chân tâm. Bởi v́ định nghĩa Chân tâm là cái thấy, cái biết. Thấy biết ở chặng đầu, không phải chặng thứ hai thứ ba. Chúng ta thấy đường đi, đó là Chân tâm chớ ǵ, đâu có nghĩ suy. Thấy đường th́ cứ vậy mà đi, đó là sống trong Chân tâm. Đi nghe chim kêu biết nghe, đó là Chân tâm. Giở chân bước tới, biết thân xúc chạm là Chân tâm. Trong sáu căn, ba căn đầu mắt, tai, thân là ba căn nổi, c̣n ba căn sau mũi, lưỡi, ư là ba căn ch́m. Bởi ba căn nổi nên chúng ta dễ ứng dụng tu.

Lối tu này ứng dụng khi ngồi thiền, khi làm công tác, khi ra đường. Chúng ta cứ làm một cách tự nhiên, không ngại chi hết, nhưng nhớ mắt nh́n là Chân tâm, tai nghe là Chân tâm, thân biết xúc chạm là Chân tâm. Đi một giờ, nửa giờ giống như ngồi thiền, chỉ nhớ Chân tâm, không nhớ ǵ khác. Như vậy có thiền không? Đi, đứng, nằm, ngồi đều nhớ Chân tâm. Nhớ Chân tâm là nhớ niệm đầu, không nghĩ bậy. V́ vậy chúng ta tu rất thuận lợi, trong hoạt động cũng tu, giờ ngồi thiền cũng tu.

Giờ ngồi thiền tôi bắt ḿnh làm hai việc. Việc thứ nhất mắt thấy là Chân tâm, tai nghe là Chân tâm, thân xúc chạm là Chân tâm. Tức mắt biết thấy, tai biết nghe, thân biết xúc chạm, đó là Chân tâm. Cứ thế lặp tới lặp lui mắt biết thấy, tai biết nghe, thân biết xúc chạm đều là Chân tâm. Nói nguyên câu là “mắt biết thấy là Chân tâm, tai biết nghe là Chân tâm, thân biết xúc chạm là Chân tâm, Chân tâm luôn hiện tiền”. Lặp đi lặp lại như thế ngồi thiền không buồn ngủ chút nào, v́ nhớ Chân tâm nên không buồn ngủ, tỉnh táo hoàn toàn.

Lặp tới lặp lui bao nhiêu đó thấy như không định. Không định mà Chân tâm hiện tiền tức là định. Khi nói như vậy một hồi thấy nhọc, tôi cho nó nghĩ một chút bằng cách nhớ Chân tâm hiện tiền. Nhớ Chân tâm hiện tiền đến lúc khỏe, tiếp tục nhắc tới nhắc lui lại. Suốt giờ ngồi thiền làm việc ấy, đó là chặng số một.

Qua chặng thứ hai, tôi đặt câu hỏi: Chân tâm là ǵ? Như tôi đă nói “Chân tâm là Ông chủ thường biết rơ ràng, trùm khắp sáu căn, không có tướng mạo, không có sanh diệt”. Chân tâm là thường biết rơ ràng. Cái thường biết rơ ràng đó trùm khắp cả sáu căn, chớ không phải biết một chỗ. Nó không có tướng mạo, nếu có tướng mạo làm sao trùm được? Ngồi đó nhớ Ông chủ, định nghĩa “Ông chủ thường biết rơ ràng, trùm khắp sáu căn, không có tướng mạo, không có sanh diệt”. Bởi không tướng mạo nên khi bỏ thân này, Ông chủ nhập Pháp thân đồng hư không. Không sanh diệt nên giải thoát sanh tử, v́ có ǵ dẫn trong sanh tử?

Như vậy đường đi từ thủy tới chung có manh mối rơ ràng. Bởi vậy tôi ngồi thiền, có lúc khoe với Thị giả:

- Bây giờ tôi mới biết Thiền duyệt vi thực.

Ngồi trong yên tịnh mới thấy vui, nhẹ. Khi trước ngồi một, hai giờ thấy đau, bây giờ ngồi hoài thấy thích, nên người ta nói Thiền duyệt. Tôi cũng trải qua những trạng thái ấy, nhưng tới lần này mới thấy chính xác, ḿnh đi thẳng ngay từ một con người mê lầm trở lại con người tỉnh táo, sáng suốt rồi tiến tới chỗ tột cùng ḿnh nhắm là được thể nhập Pháp thân, giải thoát sanh tử. Như vậy mới gọi là tu giải thoát.

Tu lừng chừng mà nói giải thoát th́ hơi ngờ, không biết chừng nào thấy. Trên đường tu chúng ta phải đi tới nơi tới chốn mới thấy cái hay cái quí. Nếu tu thường thường không bao giờ thấy những cái đó. Tu miên mật với Chân tâm của ḿnh, giả sử ngang đây tắt thở, chúng ta c̣n ǵ? Chân tâm thôi. Khỏi lo, khỏi cầu nguyện chi hết, v́ ḿnh đang sống với Chân tâm.

Con đường cuối của chúng ta tu đến chỗ giải thoát sanh tử là như vậy, bởi v́ sống được với Chân tâm th́ không sanh diệt, đâu có tướng mạo. Không tướng mạo nên trùm khắp pháp giới. Không tướng mạo cũng không sanh diệt, nên giải thoát sanh tử. Như vậy trên con đường tu, đi từ mê lầm đến giải thoát sanh tử, chúng ta có manh mối, có đường hướng rơ ràng sẵn đủ nơi ḿnh, chớ không đâu khác. Đây là cách tu thu hồi về ḿnh, thường biết rơ ràng, thiếu thường biết rơ ràng là nguy hiểm. Lúc nào cũng nhớ thường biết rơ ràng, không lầm, không sai.

Thật ra Tăng Ni ứng dụng pháp tu này có hiệu quả nhất trong giai đoạn nhập thất. V́ cả ngày ḿnh nhớ Ông chủ dễ, nếu chúng ta đang chạy tứ tung th́ nhớ Ông chủ hơi khó. Giai đoạn này là giai đoạn đầu tôi ứng dụng, chưa phải giai đoạn cuối. Tôi ứng dụng từ nay cho tới ngày ra thất chắc cũng được khá khá một chút. Khi biết được điều này rồi tôi thấy sự tu dễ, hướng dẫn người ta cũng dễ.

Lúc trước tôi nghĩ ba năm ra không biết dạy ǵ, v́ tất cả đều không, dạy ǵ bây giờ? Thời này người ta ham tu thiền, nhưng không biết tu thế nào? Đường lối tu này không có ǵ nguy hiểm, v́ quay lại ḿnh mà. Mắt ḿnh thấy, tai ḿnh nghe, thân xúc chạm, cái ǵ ḿnh cũng biết có Ông chủ, Chân tâm hiện tiền vậy thôi, không có chi nguy hiểm. C̣n người ngồi kềm chế quá mới có những phản ứng nguy hiểm. Tu theo phương pháp này không kềm, nhẹ nhàng thảnh thơi, tu như không tu. Nói thế cũng nên nhắc lại, nhiều người lợi dụng “tu như không tu” rồi không tu ǵ hết. Nói đi, đứng, nằm, ngồi tôi cũng tu vậy, nhưng mà ai biết? Miệng nói thế nhưng trong ruột không phải vậy.

Người thật sự biết tu, ham tu dù ở hoàn cảnh nào, trường hợp nào cũng có thể tu được. Tu với Tâm chân thật của ḿnh th́ lợi ích lớn, trường hợp nào cũng có kết quả tốt. C̣n nếu thiếu chân thật, gian lận th́ không tốt. Tôi nhắc cho tất cả nhớ để dè dặt cẩn thận.

Như vậy kể từ hôm nay, tôi không ứng dụng như ngày xưa nữa, mà đi con đường mới. Nói thế để quí vị đừng hiểu lầm, ngày trước thầy dạy thế này, ngày nay thầy dạy thế kia. Sự thật hai cái thấy tuy khác, nhưng cuối cùng không hai. Bên loại ra th́ dứt hết các duyên, Chân tâm hiện tiền. Chân tâm hiện tiền, bỏ thân này nhập Pháp thân. Bên thu vào cũng vậy, dứt hết các duyên, chỉ biết có Ông chủ. Ông chủ đó không tướng mạo, không tướng mạo th́ như hư không, nhập Pháp thân hết sanh tử. Tuy hai bên thấy như khác, nhưng cuối cùng là một. Phật dạy nhiều pháp tu nhưng cuối cùng đều gặp nhau, chớ không khác. Khác th́ không phải đạo Phật. Miễn đi đúng đường th́ cuối cùng gặp nhau, trừ khi đi sai đường.

C̣n ba căn mũi, lưỡi và ư, chúng ta ít sử dụng, nhưng tôi cũng nhắc cho đủ. Mắt thấy là Chân tâm, tai nghe là Chân tâm, thân xúc chạm là Chân tâm, mũi biết ngửi là Chân tâm, lưỡi biết nếm là Chân tâm, ư biết pháp trần là Chân tâm, như vậy đi một mạch đủ sáu căn. Biết pháp trần là đủ rồi, c̣n biết cái ǵ là phân tích tức vọng thức. Mắt biết thấy là Chân tâm, đừng nói mắt tôi thấy này thấy kia. Chỉ biết thấy là được, mới là niệm đầu, là chân.

Quay trở về đầu Xem Learner's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi Learner
 
vuithoi
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 08 April 2005
Nơi cư ngụ: Canada
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 375
Msg 4 of 12: Đă gửi: 03 April 2006 lúc 10:34pm | Đă lưu IP Trích dẫn vuithoi

Khám phá ông chủ - Thích thanh Tu đă viết:
Bên loại ra th́ dứt hết các duyên, Chân tâm hiện tiền. Chân tâm hiện tiền, bỏ thân này nhập Pháp thân. Bên thu vào cũng vậy, dứt hết các duyên, chỉ biết có Ông chủ. Ông chủ đó không tướng mạo, không tướng mạo th́ như hư không, nhập Pháp thân hết sanh tử.


Chỗ này có thể nói là có thể nghĩ bàn hay không thể nghĩ bàn ? Nếu nghĩ bàn th́ Đức Thích Ca đi học lại c̣n không nghĩ bàn th́ đang nói ǵ đây.

Chúc mọi người an lạc,

vuithoi

__________________
vui thoi ma
Quay trở về đầu Xem vuithoi's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi vuithoi
 
minhtam
Hội viên
 Hội viên


Đă tham gia: 16 November 2004
Nơi cư ngụ: Vietnam
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 132
Msg 5 of 12: Đă gửi: 04 April 2006 lúc 2:26am | Đă lưu IP Trích dẫn minhtam

vuithoi đă viết:
Khám phá ông chủ - Thích thanh Tu đă viết:
Bên loại ra th́ dứt hết các duyên, Chân tâm hiện tiền. Chân tâm hiện tiền, bỏ thân này nhập Pháp thân. Bên thu vào cũng vậy, dứt hết các duyên, chỉ biết có Ông chủ. Ông chủ đó không tướng mạo, không tướng mạo th́ như hư không, nhập Pháp thân hết sanh tử.


Chỗ này có thể nói là có thể nghĩ bàn hay không thể nghĩ bàn ? Nếu nghĩ bàn th́ Đức Thích Ca đi học lại c̣n không nghĩ bàn th́ đang nói ǵ đây.

Chúc mọi người an lạc,

vuithoi



Mô Phật ! thuyết giảng thế này vẫn c̣n vọng tưởng . Một Tu Sĩ khi nhập Định sâu th́ tự động không cần khởi tác ư như ban đầu nữa , bất cứ lúc nào đi đứng nằm ngồi đều có thể vào Định . Người thuyết giảng này nói lư thuyết thôi nên c̣n thấy chân tâm hiện tiền , Pháp thân nhập diệt . Khi tham thiền nhập định sâu th́ tâm thanh tịnh bao la , bản ngă mất dần , bản thể cũng không tồn tại nên không c̣n chân tâm nào . Lư luận chân tâm là cách để cho người mới tu dễ định hướng , c̣n khi xuyên qua Thiền Định thanh lọc bản thể trong sạch , thanh tịnh rồi th́ thân và tâm cũng không c̣n tồn tại nữa .

Namo Sakya Muni Buddha

TT Thích Minh Tâm

Quay trở về đầu Xem minhtam's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi minhtam
 
phoquang
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 14 November 2005
Nơi cư ngụ: Vietnam
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 511
Msg 6 of 12: Đă gửi: 04 April 2006 lúc 10:48pm | Đă lưu IP Trích dẫn phoquang

Có thể nói rằng ở đệ bát địa th́ vọng tưởng vi tế mới không khởi phát sinh. C̣n chúng ta hiện giờ vẫn là kể phàm phu đến Thánh quả c̣n chưa chắc đạt được huống hồ chi lư luận cao siêu. Chưa biết ta là ai mà cứ lư thuyết suông chỉ nói để cho mọi người biết ta là hay là tài chứ sự tu tập của ta chưa đạt được ǵ cả. Đây chỉ là bánh vẽ trên giấy không ăn được chỉ có ngắm nh́n mà bụng trống rỗng. Những lời của minhtam nghe th́ có lư nhưng vẫn trên lư thuyết chưa thực chứng. Có thể nói rằng những lời thuyết giảng và những lư luận này chỉ ở biên địa chưa đi sâu vào được chánh định. Nói vậy thôi, chắc ǵ ở biên địa hả quư vị? nó chỉ ở mức tới, sắp đến ở biên địa mà thôi. Vào thời này, phật cách xa , tâm chúng sanh mê hoặc đảo điên vọng tưởng nổi dậy như sóng biển khó mà kiềm nén. Chỉ nên dùng câu " NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT " để trấn an cơi ḷng tịnh tu mà mong thoát khỏi kiếp luân hồi, gặp phật nghe pháp chứng quả. Đây là lời khuyến cáo của chư phật chư vị thầy tổ. Xin các vị hăy lưu tâm, nếu vị nào đang tu thiền th́ hăy giữ lấy và kiêm tu pháp môn niệm phật, chắc chắc quư vị sẽ chiếm đài sen thượng phẩm thành phật tác tổ sẽ không dối nguỵ.

Vài lời góp ư, kính xin các vị lưu tâm những lời của kẻ hạ nhân này.

Nguyện sinh phước báo phát sanh đến người, nguyện cho chúng sanh đừng có oan trăi lẫn nhau hăy thương yêu và d́u dắt nhau đến bờ giác. Đó là đều Đức Thế Tôn mong mỏi và chờ đợi ta.

Nguyện xin Tây Phương Tam Thánh lai tâm phóng quang tiếp dẫn tịnh an cơi ḷng cho toàn thể chúng con.
Kính lạy Đức Từ Phụ Bổn sư Thích Ca hăy cảnh tĩnh chúng chúng con bằng những lời pháp nhũ của Ngài khi chúng con gặp phải vấn đề trong thời mạt pháp này.

Sửa lại bởi phoquang : 04 April 2006 lúc 10:50pm
Quay trở về đầu Xem phoquang's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi phoquang
 
vuithoi
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 08 April 2005
Nơi cư ngụ: Canada
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 375
Msg 7 of 12: Đă gửi: 05 April 2006 lúc 2:52am | Đă lưu IP Trích dẫn vuithoi

phoquang đă viết:
C̣n chúng ta hiện giờ vẫn là kể phàm phu đến Thánh quả c̣n chưa chắc đạt được huống hồ chi lư luận cao siêu.




Kính chào Bác Phổ Quang,

Nhận ra ḿnh là phàm phu là điều mà chúng ta nên luôn nhớ. Chỉ v́ người thấy chỗ nào đó là tuyệt rồi nên tiện tay chỉ ra để mong rằng khi nào ḿnh có rơi vào t́nh trạng như vậy có người đến chỉ cho ḿnh.

Được như vậy thật phước thay!

Kính chúc bác an lạc,

vuithoi

__________________
vui thoi ma
Quay trở về đầu Xem vuithoi's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi vuithoi
 
phoquang
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 14 November 2005
Nơi cư ngụ: Vietnam
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 511
Msg 8 of 12: Đă gửi: 05 April 2006 lúc 4:16am | Đă lưu IP Trích dẫn phoquang

xin chân thành cảm tạ bạn vuithoi, đă chỉ ra chỗ thiếu xót của tôi, tôi xin khắc cốt ghi tâm. Nói thực ra th́ cảnh thiền thiên h́nh vạn trạng không thể thấy hết được, việc người này thấy thế này thế kia. Không nên phô bày ra tất cả, chỉ trừ phi để kiểm nghiệm th́ ḿnh mới bạch riêng với tôn sư của ḿnh, nhờ ngài chỉ giáo và giải toả khút mắc. Đây mới thực là điểm mấu chốt của vấn đề, chứ không dùng lời mà mô tả bằng lời cho toàn thể mọi người nghe hết được. Nếu không người tu thiền sẽ gặp nhiều chướng ngại trên bước tu tập. Mong các bạn thấu đạt những ǵ tôi nói.
Kính chúc các bạn vạn an
Phổ Quảng
thânchào
Quay trở về đầu Xem phoquang's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi phoquang
 
Learner
Hội viên
 Hội viên


Đă tham gia: 09 February 2006
Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 673
Msg 9 of 12: Đă gửi: 06 April 2006 lúc 12:16am | Đă lưu IP Trích dẫn Learner

TIẾN THẲNG VÀO THIỀN TÔNG
THÍCH THANH TỪ


ĐƯỜNG SANH TỬ - ĐƯỜNG BẤT TỬ

Thiền viện Trúc Lâm - Đà Lạt, ngày 29-08-2004
Hôm rồi tôi có giảng kinh Bát-nhă, hôm nay tôi sẽ bổ túc thêm những ư hay trong kinh Bát-nhă mà lần trước tôi chưa nói hết, kế đó tôi sẽ nói về kiến giải điên khùng của tôi.

Trước hết là phần giảng kinh. Ở đây không giảng từng câu, từng chữ trong Bát-nhă v́ tôi đă giảng kinh này đôi ba lần rồi. Những từ ngữ, những ư nghĩa thông thường quí vị đă nghe, bây giờ tôi nói những ư nghĩa vượt ngoài sự thông thường.

Nói đến kinh Bát-nhă ai cũng thuộc ḷng. Bát-nhă Tâm Kinh thuộc hệ thống Bát-nhă. Chúng ta thử đặt lại câu hỏi: “Trong Ngũ thừa Phật giáo, hệ thống Bát-nhă thuộc thừa nào?” Nắm được chỗ đứng của Bát-nhă, chúng ta mới hiểu Bát-nhă. Ngũ thừa Phật giáo gồm có: Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ-tát thừa. Nhân thừa, Thiên thừa dạy chúng sanh tu để được trở lại làm người hay sanh lên cơi trời. Thanh văn thừa, Duyên giác thừa dạy chúng sanh tu chứng Tứ quả A-la-hán, quả Duyên giác. Kinh Bát-nhă thuộc về Bồ-tát thừa, qua cả Thanh văn, Duyên giác đi thẳng tới Bồ-tát, cao như thế.

Hiểu vậy khi học kinh chúng ta mới thấy ư nghĩa cao siêu của kinh. Kinh Bát-nhă có sau hệ thống kinh A-hàm. Mở đầu bài Bát-nhă, Phật nói: - Bồ-tát Quán Tự Tại hành thâm Bát-nhă ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách. Đối với Bồ-tát thừa, Phật nói thẳng ngũ uẩn giai không. Để cho quí vị dễ hiểu, chúng tôi nhắc lại hệ thống A-hàm. Kinh A-hàm, Phật tùy thuận chư thiên mời thỉnh dùng phương tiện giáo hóa. Bởi v́ khi thành đạo rồi, Ngài do dự không muốn đi giảng. Ngài tự than giáo lư của ta thấy, ta ngộ, nói ra không ai hiểu nên không muốn giáo hóa. Do đó chư thiên hiện ra, đảnh lễ cầu Phật dùng phương tiện giáo hóa chúng sanh. Đức Phật nhận lời, sau đó Ngài quán sát những chúng sanh nào có duyên với Ngài th́ hóa độ.

Hội ban đầu ở vườn Lộc Uyển, Phật nói kinh Tứ đế. Đó là Ngài dùng phương tiện giáo hóa, chớ chưa phải chỉ lẽ thật Ngài đă thấy. Chúng ta nhớ, trong giáo lư Tứ đế Phật nói Khổ đế đầu tiên. Tại sao Phật lại nói khổ? Bởi v́ chúng sanh mê lầm cho thế gian là vui. Thế gian cho năm dục: tài, sắc, danh, thực, thùy là vui. Tài là tiền của, sắc là sắc đẹp, danh là danh lợi, thực là ăn ngon, thùy ngủ kỹ. Năm thứ này thế gian cho là vui thích. Đối lại năm thứ vui ấy, Phật nói bốn thứ khổ của thân là sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ. Kế nữa Phật nói bốn thứ khổ của tâm là ái biệt ly khổ, oán tắng hội khổ, cầu bất đắc khổ, ngũ ấm xí thạnh khổ. Ái biệt ly khổ là những người ḿnh thương mến phải xa ĺa, như mất cha, mất mẹ, mất anh em, mất người thân. Oán tắng hội khổ là kẻ ḿnh thù ghét cứ gặp mặt, làm việc chung hoài nên khổ. Cầu bất đắc khổ là những ǵ ḿnh mong muốn nhưng không được như ư nên khổ. Ngũ ấm xí thạnh khổ là thân năm ấm này sanh ra chứng tật, đủ thứ bệnh hoạn nên khổ. Thế gian thấy ngũ dục là vui, trong khi đạo Phật nói tới tám thứ khổ. Đó là v́ muốn đối trị lại tâm mê lầm, tưởng thế gian vui rốt cuộc chỉ toàn đau khổ.

Quí vị thấy thân này thật không? Nếu thấy thân thật là đang ở trong vô minh. Tại sao? V́ ai cũng biết thân này nhiều lắm bảy, tám chục năm cũng phải hoại. Có rồi hoại, làm sao thật được. Thật th́ không hoại, c̣n hoại th́ không thật. Cho nên thấy thân thật là thấy sai sự thật. Do thấy sai sự thật nên đắm mê nó, Phật gọi là vô minh. Chúng ta được mấy người ra khỏi vô minh? Rất ít. Bởi vậy, tiếp nối sanh tử không cùng. Đó là chỗ chư Phật thương xót, chúng sanh ch́m trong sanh tử không biết lối ra.

Đức Phật dùng lư nhân duyên để giải thích thân này do nhân duyên ḥa hợp mà thành, nó không tự có. Bắt đầu từ vô minh lần lần tiếp nối cho đến sanh lăo bệnh tử, khiến chúng sanh đi măi trong luân hồi sanh tử. Chúng ta thấy thân thật là nắm tay nhau mà đi trên đường luân hồi sanh tử. Chừng nào thấy thân này hư giả không thật, ai chửi cũng cười, mắng cũng cười, đó là ta chuẩn bị ra khỏi ṿng vô minh.

Lâu nay người ta bảo giới xuất gia là giới tu để giải thoát sanh tử, như vậy tại sao chúng ta lại đồng ư đi trong sanh tử? Đó là điểm yếu của ḿnh. Chúng ta nguyện thoát ly sanh tử mới cạo đầu xuất gia, bỏ cha bỏ mẹ, tất cả quyến thuộc, đi vào đạo với mục đích vạch một con đường giải thoát để cứu ḿnh và những người thân đang trầm luân. Ta đă nguyện như thế mà bây giờ cứ tiếp tục đi trên đường trầm luân th́ chừng nào cứu được?

Qua lư nhân duyên chúng ta thấy thân này do duyên hợp tạm bợ, không thật nên không có vấn đề ǵ quan trọng. Bản thân ta không thật th́ việc khen chê, thương ghét cũng không thật. Chúng đă không thật tại sao ta bị quay trong đó, không ra khỏi? Như có người phê b́nh thầy hay cô tu dở quá, quí vị giận không? Người ta nói sự thật để ḿnh tỉnh mà lại giận, có phải vô minh không? Chúng ta nói tu mà không dám nhận sự thật, cứ ôm ấp mê lầm, rồi cùng dẫn nhau đi trong luân hồi không có ngày ra. Đó là chỗ hết sức quan trọng. V́ vậy Phật nói Tứ đế, Thập nhị nhân duyên để phá chấp cho cuộc đời là vui, phá chấp cho thân này là thật.

Tất cả giáo lư của Phật đều xoay quanh con người, chỉ cho chúng ta thấy thế nào là duyên hợp, thế nào là khổ để ḿnh biết mà thức tỉnh, không say mê trong đó nữa. Ai tu theo pháp Tứ đế đến nơi đến chốn sẽ chứng Tứ quả Thanh văn, gọi là Thanh văn thừa. Ai tu theo pháp Thập nhị nhân duyên chứng được lư nhân duyên gọi là Duyên giác thừa.

Kế đến Bồ-tát thừa. Bồ-tát lấy giác ngộ làm chân, chớ không đối trị như Thanh văn, Duyên giác. V́ vậy nói tới Bồ-tát là nói tới giác ngộ. Kinh Bát-nhă, Phật nói với Bồ-tát, Ngài dạy chỉ cần chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách, nghĩa là soi thấy năm uẩn đều không liền qua hết khổ nạn. Ở đây Phật không nói khổ, không nói duyên hợp ǵ hết, chỉ biết thân năm uẩn là không th́ qua hết tất cả khổ. Tại sao? Phàm những ǵ có h́nh tướng do nhân duyên hợp thành đều vô thường, mà cuối cùng của vô thường là không. Như nói cái nhà vô thường, bởi v́ khi nó găy mục hết sẽ thành không. Con người cũng vậy, vô thường nên cuối cùng tan ră thành không. Như vậy không là kết quả cuối cùng của tất cả sự vật có h́nh có tướng. Phật dạy soi thấy năm uẩn đều không là đi tới kết thúc, không c̣n phân biệt khổ, phân biệt nhân duyên quanh co, mà đi thẳng vào không, thấy rơ ràng là không. Thấy như thế nên hết khổ.

Chúng ta đọc chiếu kiến ngũ uẩn giai không mà thấy toàn là giai hữu. Phật dạy một đường ḿnh hiểu một ngả, không hiểu theo Phật, nên không qua khổ nạn được. Khổ nạn nào chúng ta cũng mắc kẹt. Tăng Ni ở các Thiền viện, lấy kinh Bát-nhă làm cơ bản tụng niệm hằng ngày. Đó là quí vị đang đi trên con đường của ai? Của Bồ-tát, chớ không phải của Thanh văn, Duyên giác. Hiểu như vậy, mới biết rơ được chỗ đứng của ḿnh.

Bồ-tát thừa th́ không có thứ bậc, đi thẳng đến chỗ cuối cùng. Như Tứ đế nói thân này sanh, già, bệnh, chết, Bát-nhă nói thân này là không, nghĩa là chết rồi trở về không. Như vậy nói không là nói chỗ kết thúc của thân này. Tất cả tâm duyên theo cảnh cũng là không. Như vậy Bát-nhă thấy tột lẽ thật ngũ uẩn là không, do thấy tột ngũ uẩn là không nên hết khổ.

Mở đầu Bát-nhă Tâm Kinh, Phật nói Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Trí tuệ Bát-nhă thấy năm uẩn là không, bởi giác ngộ nên Ngài qua hết tất cả khổ nạn. Chúng ta không ai quên câu này nhưng lại không thấy như Bồ-tát Quán Tự Tại. Phật giải thích từng phần cho ngài Xá-lợi-phất nghe. Trước hết Phật nói Sắc uẩn là không, v́ Sắc uẩn là tứ đại. Tứ đại là đất, nước, gió, lửa trong thân chúng ta. Da thịt gân xương là đất. Nước mắt, mồ hôi máu mủ là nước. Thở ra, hít vào là gió. Hơi ấm trong người là lửa. Tứ đại ḥa hợp thành Sắc uẩn, Phật nói nó là không. Tại sao? V́ cái ǵ do duyên hợp th́ phải tan. Tan th́ thành không. Thọ, tưởng, hành, thức cũng như thế, đều là không. Câu chót Phật nói thị chư pháp không tướng, chỗ này là điểm quan trọng trong buổi giảng hôm nay.

Thị chư pháp không tướng nghĩa là tướng không của các pháp. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức không sanh, không diệt, không nhơ, không sạch, không thêm, không bớt. Hồi xưa tôi không dám nói tướng không của các pháp là không, mà tôi nói thân do duyên hợp nên không có chủ thể, không có chủ thể nên gọi là không. Gọi không như thế là tánh không chớ không phải tướng không. Đó là chỗ trước kia tôi bị kẹt. Một buổi khuya ngồi thiền chừng một giờ, bất chợt tôi nhớ lại, tại sao tướng không mà ḿnh lại giảng tánh không? Vừa đặt câu hỏi xong tôi tự trả lời, tự giải quyết ngay. Giải quyết được rồi tôi rất vui.

Sở dĩ trước kia tôi giảng các pháp duyên hợp không chủ thể gọi là không, v́ tôi nghe quí Ḥa thượng dạy: “Thà chấp có bằng núi Tu-di, không nên chấp không bằng hạt cải.” Tôi nghĩ nếu ḿnh nói không trơn, không trống rỗng, sợ người ta chấp không th́ mang tội, v́ vậy tôi nói các pháp duyên hợp không chủ thể nên gọi là không, để tránh cái chấp không. Tôi không ngờ cái chấp không của các bậc Tôn túc dạy là chấp không có thiện, không có ác, không tội, không phước, không nhân, không quả, không nghiệp báo luân hồi. Đó gọi là chấp không.

C̣n kinh Bát-nhă thấy triệt để được tướng không của các pháp, thấy bằng trí tuệ tướng không của các pháp, chớ không phải chấp không. Tự giải quyết xong điều này, tôi vui quá. Giờ ngồi thiền c̣n lại trở về sau, toàn là những kiến giải điên khùng nổi dậy, hết cái này tới cái kia, suốt luôn tới sáng không quên. V́ vậy phần giảng kinh tới đây dừng, tôi sẽ nói sang phần kiến giải điên khùng.

Lâu nay tôi cứ sợ nói không là chấp không, nhưng sự thật không phải vậy. Ở đây nói không là đối với những vật có h́nh, do sắc chất kết tụ thành nên có sắc. Những thứ đó gọi là tướng có, v́ có h́nh thể, có sắc chất. C̣n cái không có h́nh thể, không có sắc chất gọi là tướng không. Một bên tướng có, một bên tướng không. Nếu không có tướng không, làm ǵ có tướng có, v́ hai thứ đối đăi nhau. Cho nên nói tới tướng có th́ phải chấp nhận tướng không.

Tướng không là tướng thế nào? Hồi xưa tôi cứ mắc kẹt chỗ này. Tôi nghĩ không th́ không có tướng, v́ có tướng phải có h́nh thức, có vật thể. Không h́nh thức, không vật thể làm sao nói có tướng được. Nhưng Phật xác định tướng không đối với tướng có. Có sắc chất, có h́nh thể là tướng có. Không sắc chất, không h́nh thể là tướng không. Cho nên cái không là cái thực hữu. Nói thế có điên không? Tướng có như thân này, như cái nhà, như cây cối trước mắt chúng ta nh́n thấy, những tướng đó là tướng thật hay tướng giả? - Tướng giả. Như vậy tướng nào tướng thật? Đó là điều chúng ta mắc kẹt.

Phàm những ǵ duyên hợp mà thành đều là giả tướng, c̣n tướng không không có duyên hợp. Có khi nào nó thay đổi không? Muôn đời không vẫn là không. Chúng ta đọc kinh thấy chữ thật tướng, mà không biết tướng thật là tướng nào. Chỉ nhớ những tướng mắt thấy, tay sờ mó được cho là tướng thật, không ngờ tất cả những tướng ấy là tướng duyên hợp, hư giả. C̣n tướng không mới là tướng thật muôn đời không thay đổi.

Chúng ta lâu nay nghe nói không là sợ, đâu ngờ cái không đó lại là cái thật, cái có tướng mới là cái giả. Tôi nói cái không là thật, cái có là giả, như vậy có điên không? Điên rồi. Cả trăm, cả triệu người thấy các tướng của sự vật là thật, tướng không là không có ǵ. Bây giờ tôi lại thấy tướng không là thật, các tướng kia là giả, không phải điên là ǵ?

Kinh Bát-nhă nói thật tướng là vô tướng, không có tướng mới là tướng thật. Chúng ta chú ư tới câu không tướng bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm, cái tướng không đó không sanh, không diệt, đời đời không bao giờ thay đổi, c̣n cái ǵ sanh diệt luôn luôn thay đổi. Không nhơ, không sạch, không thêm, không bớt là không có hai bên, không có đối đăi. Như vậy nói tới tướng không là cái không sanh diệt, không đối đăi. Chúng ta tu nhập Niết-bàn là nhập cái ǵ? Niết-bàn là vô sanh, nên nhập Niết-bàn là nhập vô sanh. Chúng ta có cái không ấy chính là vô sanh mà lại bỏ qua, chạy theo cái sanh diệt.

Phật dạy thân này do tứ đại ḥa hợp. Tứ đại là đất, nước, gió, lửa, ai cũng biết rồi. Các kinh A-hàm chỉ nói tới chừng đó thôi, nhưng qua Bát-nhă th́ thêm một đại nữa, đó là không đại. Trong kinh Lăng Nghiêm, Phật c̣n nói thêm thức đại, kiến đại, tổng cộng là bảy đại. Đất, nước, gió, lửa dễ hiểu rồi, nhưng không đại th́ thế nào? Bây giờ quí vị tự kiểm lại trong thân ḿnh, phần hư không nhiều hay ít? Hai lỗ mũi trống tức là không, lỗ tai trống là không, cổ họng trống là không. Trong con người chúng ta, cái không luồn sẵn khắp hết. Bao tử chứa được cơm cũng nhờ trống, những mạch máu trống mới dẫn máu chạy khắp thân, lá phổi nở tóp cũng nhờ trống. Cả thân ḿnh từ đầu đến chân, mỗi lỗ chân lông đều trống, đều thưa hở hết. Kiểm lại phần trống trong thân rất nhiều.

Trong tứ đại, thiếu một đại nào chúng ta c̣n giải quyết chậm một chút, chớ không đại mà thiếu th́ sao? Lỗ mũi, cổ họng bít lại th́ sao? - Th́ chết. Như vậy không đại hệ trọng đối với sự sống của chúng sanh đến cỡ nào? Vậy mà chúng ta đâu thèm biết tới nó, cứ lo bồi bổ mấy thứ có. Thiếu nước, thiếu đất liền lo đem vô, c̣n cái không th́ quên mất.

Kế đến thức đại. Chúng ta có sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư, mỗi căn đều có thức phân biệt. Thức trùm hết cả người nên gọi là thức đại. Cuối cùng là kiến đại, đại này nghe hơi lạ, tôi sẽ nói sau. Bây giờ quí vị nh́n lại không đại trong con người chúng ta với hư không trống rỗng bên ngoài, là một hay khác? - Không hai. Giả sử thân này ră ra, cái không trong người chúng ta sẽ nhập với hư không. Không không có hai, không có ranh giới. Ở trong người ḿnh, cái không ít nhưng thân này ră ra, nó hoà nhập với hư không bên ngoài, chớ không riêng khác. Hư không th́ không hai. Chúng ta có sẵn cái không ấy ở trong con người ḿnh.

Kiểm lại đất, nước, gió, lửa, bốn thứ đó là vô tri. Đến cái không là vô tri hay hữu tri? - Cũng vô tri. Như vậy phần vô tri của thân là tứ đại và không đại. Thức đại th́ hữu tri, v́ thức là tâm thức phân biệt nên hữu tri. Thức phân biệt là thức sanh diệt. Đến kiến đại, nói đủ là kiến văn giác tri tức thấy, nghe, cảm xúc và biết. Cái đó hằng hữu, không tướng mạo, không sanh diệt mà thường biết. Như lỗ tai hay nghe, cái hay đó có tướng mạo ǵ không? Con mắt hay thấy có tướng mạo ǵ không? Như vậy cái nghe, cái thấy v.v… không có tướng mạo, thường hằng hữu, nó thuộc phần kiến đại. Nhưng thấy mà khởi niệm phân biệt là qua thức rồi.

Chúng ta có hai phần:

1. Thân và tâm sanh diệt. Thân sanh diệt là thân tứ đại. Tâm thức sanh diệt bám theo tứ đại phân biệt hơn thua, phải quấy, thương ghét v.v… gọi là thức. Nó đi theo con đường của tứ đại, duyên hợp sanh diệt. Nếu chúng ta cho thân tứ đại là thật th́ cũng cho thức phân biệt là thật. Cho thức là tâm ḿnh, tứ đại là thân ḿnh. Khi tứ đại này mất nhất định sẽ bám vào tứ đại khác, do tâm thức mang nghiệp lành dữ. Như vậy tâm thức mang nghiệp lành dữ để đi tới thân tứ đại khác, tốt xấu tùy theo nghiệp lành hay dữ. Đó là chúng ta đi trong con đường sanh tử không có ngày dừng.

2. Thân và tâm không sanh diệt. Không đại là cái bất sanh bất diệt, dùng kiến đại để hoà nhập với không đại. Kiến đại hằng hữu không sanh, không diệt mà thường giác, thường tri. Lấy cái thường giác, thường tri, không sanh, không diệt đó làm tâm ḿnh, nhà Phật gọi là Chân tâm hay Phật tánh. Tâm bất sanh bất diệt là Tánh giác. Lấy tướng không vô tri không sanh không diệt làm thân. Thân và tâm không sanh không diệt ḥa nhập nhau, gọi là nhập Pháp thân. Pháp thân bao lớn? Trùm khắp hết. Đây là vấn đề rất quan trọng.

Như vậy nơi chúng ta có đủ hai phần: Phần tướng sanh diệt là tứ đại, tâm sanh diệt là thức đại. Sống với tướng và tâm sanh diệt th́ đi một chùm trong luân hồi. Phần tướng không sanh diệt là không đại, đi chung với tâm bất sanh bất diệt là kiến đại. Sống với tướng và tâm bất sanh bất diệt th́ đi theo đường giải thoát. Cho nên giải thoát và trầm luân nơi chúng ta có đủ hết.

Người tu chọn đường nào? Chọn đường trầm luân hay giải thoát? Chúng tôi bắt quí vị ngồi thiền để làm ǵ? Để dẹp tâm sanh diệt. Nó lặng hết mới sống với tâm vô sanh được. Sống với tâm vô sanh mới ḥa nhập với thân hư không vô sanh. Nếu chúng ta cứ buồn thương, giận ghét th́ sống với thức sanh diệt, ḥa nhập với tứ đại sanh diệt, do đó đi măi trong luân hồi sanh tử. Đó là chỗ thấy điên khùng của tôi.

Tới đây tôi mới thấy lâu nay ḿnh tu hời hợt quá, nên con đường giải thoát rất lờ mờ. Cứ chạy t́m cái bên ngoài mà quên cái sẵn ở trong. Phật xác định tướng không của các pháp là không sanh, không diệt, không nhơ, không sạch… rơ ràng như vậy. Đọc Tín Tâm Minh tôi thấy Tổ Tăng Xán nói: “Chí đạo vô nan, duy hiềm giản trạch, đản mạc tắng ái, đổng nhiên minh bạch.” Nếu không có thương ghét th́ đại đạo rơ ràng trước mắt.

Bây giờ chúng ta thương ghét nhiều ít? Quá nhiều! Thương ghét quá nhiều th́ chắc chắn đời sau đi nữa, nhưng không biết đi đâu? Thượng tầng là cơi trời, trung tầng là dân gian, hạ tầng là thấp nữa. Lâu nay chúng ta cứ nghĩ thức phân biệt là tâm, bám vào đó để phân biệt chia chẻ, khôn dại, hơn thua, phải quấy, tốt xấu… cả ngày cái đầu không dừng suy nghĩ. Tâm thức là một ḍng sanh diệt, thấy đó rồi mất đó, t́m lại không có mà chúng ta lấy nó làm tâm, lấy tứ đại làm thân. Tứ đại vô thường sanh diệt, thức cũng vô thường sanh diệt, lấy hai cái sanh diệt làm ḿnh th́ muôn kiếp đi trong luân hồi, không thể nào ra khỏi.

Muốn ra khỏi luân hồi, giải thoát sanh tử th́ nơi ḿnh có sẵn cái không, tựa vào đó rồi dùng cái biết sẵn chưa từng sanh chưa từng diệt làm tâm, sử dụng hai thứ thân và tâm không sanh diệt này th́ nhắm mắt thân thênh thang, tâm cũng thênh thang.

Hồi xưa tôi nghĩ hơi dốt một chút. Tôi nói hư không trong người ḿnh ít xịu, có chút thôi mà hư không bên ngoài quá lớn, làm sao ḥa nhập được. Nhưng bây giờ thấy rơ hư không không có giới hạn, không lớn nhỏ. Nhỏ lớn là tại cái khung đóng nó lại, chớ hư không là hư không, giở cái khung ra th́ hư không chỉ có một. Hư không của thân ḥa nhập với hư không của vũ trụ là một, không phải hai. Nếu lấy hư không làm thân th́ cả vũ trụ là thân ḿnh. Tu như vậy thân tâm mới trùm hết, nên nói trùm pháp giới. Tâm suy nghĩ, so lường th́ có h́nh tướng, có sanh diệt, c̣n tâm hằng tri hằng giác, không suy nghĩ mà hằng biết, không lúc nào vắng mặt. Tâm này không có tướng, không sanh diệt. Sống với tâm không sanh diệt, chúng ta sẽ ḥa nhập được với thân không sanh diệt. Đó là Pháp thân.

Chúng ta muốn giải thoát sanh tử phải đi con đường bất sanh bất diệt. Hồi xưa tôi cứ thắc mắc, nhập Niết-bàn là vô sanh, mà cái ǵ vô sanh? Về Cực Lạc ngồi ṭa sen, vui vẻ đi chơi nước này nước nọ, hái hoa cúng dường rất vui. C̣n nhập Niết-bàn vô sanh không có ǵ hết, buồn chết. Nhưng bây giờ tôi thấy không phải vậy. Chính thể nhập được Pháp thân rồi mới có Ứng thân, Hóa thân, Báo thân. Từ Báo thân, Ứng hóa thân muốn độ chúng sanh ở đâu cũng được. Nhập được thể không rồi th́ sau này diệu dụng vô cùng.

Như chúng ta thường lạy mỗi đêm đức Phật Thích-ca, với danh hiệu “Nam-mô Thiên Bá Ức Hóa thân Thích-ca Mâu-ni Phật”. Đức Phật đă nhập Niết-bàn mà Ngài c̣n có trăm ngàn muôn ức thân, chớ không phải hết. C̣n chúng ta sanh trở lại hiền lành cũng chỉ một thân thôi. Bao giờ thể nhập được Pháp thân sẽ ứng hóa vô lượng vô biên, độ hết chúng sanh. Như vậy th́ đừng nói nhập Pháp thân sẽ buồn hiu, không có ǵ nữa. Chừng ấy tùy ứng tùy hóa, ai có duyên th́ ḿnh hóa độ để đền trả ân xưa hoặc công đức của họ.

Đó là một chặng điên khùng của tôi.

Đến cái điên khùng khác, tôi nhớ hiện tại ḿnh sống đây, bước vô nhà người ta th́ nh́n bàn ghế, tranh ảnh, chớ không ai nh́n hư không trong nhà. Nh́n bàn ghế, tranh ảnh rồi khen chê, toàn là nh́n cái có. Ra vườn thấy cây này cây kia, hoa này hoa nọ, ít ai nói khung cảnh vườn trống trải. Đa số nh́n vào tất cả sự vật và ngoại cảnh có h́nh tướng. Cho nên cả ngày mắt chúng ta đeo theo các thứ sắc tướng, âm thanh, c̣n hư không tràn trề lại không nhớ.

Hôm trước tôi có nói, bây giờ tôi mang ơn hư không quá chừng. Nói vậy không phải điên là ǵ, hư không mà mang ơn? Nhưng sự thật như thế. Cả ngày có lúc nào chúng ta rời hư không đâu, kể cả giờ ngủ cũng phải có hư không trống để hít thở. Hư không mang lại cho chúng ta bao nhiêu điều tốt lành để chúng ta sống. Thế mà ḿnh không thèm biết, chỉ biết cơm, bánh, cây cối, hoa quả… toàn các thứ sanh diệt.

Đặt câu hỏi thêm nữa, trước khi cha mẹ chưa sanh ta là ǵ? Thân này có không? Không có, do cha mẹ sanh mới có. Sau khi thân này chết rồi sao nữa? Cũng là không. Trước không, sau không, giữa th́ ở trong không, ở ngoài không bao bọc. Vậy mà ḿnh không thèm nhớ cái không, chỉ nhớ toàn những thứ sanh diệt, đeo theo nó mà bỏ quên hẳn cái không mênh mông. Như vậy chúng ta biết ơn biết nghĩa không?

Bây giờ tôi đặt câu hỏi tiếp: “Cây cối sống được, có hoa có quả cho ḿnh ăn cũng nhờ cái ǵ?” Nhờ hư không nó mới sống. Cả quả đất này quay ṿng ṿng ở đâu? Trong hư không. Tóm lại, tất cả đều được sự bảo bọc của hư không, xoay bề này bề kia đều nhờ hư không, nên ở đâu cũng sống được. Từ người đến muôn vật sống là nhờ hư không, vậy mà không biết hư không, sợ hư không nhất.

Từ đó tôi suy luận ra, nếu đặt câu hỏi: “Trong bầu trời đất này cái ǵ có trước nhất?” Quả địa cầu chúng ta thành h́nh cũng duyên trong hư không tụ lại mà thành, ngày nào hết duyên nó hoại cũng trở về không. Con mắt của Phật nh́n thấy các loài động vật đều trải qua bốn tướng sanh, già, bệnh, chết; các loài thực vật trải qua bốn tướng sanh, trụ, dị, diệt; c̣n đối với quả địa cầu là thành, trụ, hoại, không. Con người có bốn tướng sanh, già, bệnh, chết, sau cái chết là không. Cây cối thực vật là sanh, trụ, dị, diệt, sau diệt cũng trở thành không. Đến quả địa cầu là khoáng chất, khi nó nát rồi cũng trở thành không. Như vậy từ không mà thành, rồi hoại trở về không. Cái không là chỗ tuyệt đối, không c̣n ǵ đối đăi nữa, cùng tột là không.

Lư Bát-nhă chỉ cho chúng ta thấy không là cái tột cùng của muôn vật. V́ vậy ngài Huyền Giác nói trong Chứng Đạo Ca:

Pháp thân giác liễu vô nhất vật,
Bản nguyên tự tánh thiên chân Phật.

Giác ngộ Pháp thân rồi th́ không có một vật. Bản nguyên là nguồn gốc của tất cả các pháp, tự tánh là tánh chân thật sẵn có của ḿnh, tức là Phật tánh. Cái không tột cùng này mới là nguồn gốc, là chỗ cho chúng ta tựa. Chúng ta tu cũng để giác ngộ chỗ tột cùng này. Chính ngài Huyền Giác cũng nói:

Chư hạnh vô thường nhất thiết không,
Tức thị Như Lai đại viên giác.

Thấy các hạnh là vô thường, tất cả đều không, đó là đại viên giác của Phật. Khi nói về Bồ-tát, về Phật là nói về giác ngộ. Một sự giác ngộ tràn đầy, thấy tất cả đều là không, bao nhiêu thế giới trong hư không này đều trở về không. Chúng ta tu nhập được Pháp thân là trở lại chỗ tột cùng tuyệt đối đó, ngoài ra mọi thứ khác đều là tương đối sanh diệt. Vậy tu khó hay dễ?

Mục đích tu của chúng ta như vậy, cho nên mỗi ngày mỗi đêm phải ngồi thiền để dẹp bớt tâm sanh diệt. Tâm đó chạy theo nghiệp lành dữ dẫn ḿnh đi trong sanh tử. Con đường hiện giờ chúng ta tu theo Thiền tông có liên hệ tới Bát-nhă hay không? Hồi xưa tôi hơi lấy làm lạ, tại sao Ngũ Tổ đem kinh Kim Cang Bát-nhă giảng cho Lục Tổ nghe mà không giảng bốn cuốn Lăng-già? Sau này mới thấy rơ, chính Bát-nhă là con đường đi thẳng, trong nhà thiền gọi là “điểu đạo” tức đường chim. Cho nên chúng ta phải hiểu rơ Bát-nhă. Lục Tổ ngộ cũng từ kinh Kim Cang Bát-nhă, sau này đệ tử là ngài Huyền Giác cũng ngộ từ Bát-nhă. Ngài Huyền Giác nói: Hữu nhân vấn ngă giải hà tâm, báo đạo ma-ha Bát-nhă lực. Tức là nếu có ai hỏi ta hiểu tâm nào th́ đáp rằng ma-ha Bát-nhă. Lư này hết sức rơ. Đó là những chặng thấy điên khùng của tôi.

Bây giờ trở lại kinh. Kinh Bát-nhă nói: “Trong cái không không có năm uẩn, không có sáu căn, không có sáu trần, không có sáu thức, không có mười tám giới. Kế đến không vô minh, không vô minh tận, không khổ tập diệt đạo, không trí, không đắc.” Trong cái không không có mười tám giới dễ hiểu rồi, nhưng tại sao Mười hai nhân duyên, Tứ đế là pháp tu của hàng Thanh văn, Duyên giác cũng không có nữa?

Như tôi đă nói, Bát-nhă vượt qua đối đăi của Nhị thừa, không c̣n đối đăi của Thanh văn, Duyên giác, nên nói là Bồ-tát. Qua hết đối đăi nên cái không này là chót. Hồi xưa giảng tới đây tôi hơi lúng túng, tại sao Tứ đế, Thập nhị nhân duyên mà cũng không có nữa. Bây giờ mới thấy rơ Tứ đế, Thập nhị nhân duyên là dùng những phương tiện đối đăi để đối trị, nó c̣n hai bên. Cái không này không có hai bên, nên vượt qua tất cả.

Bồ-tát là vô trí vô đắc, nếu c̣n có trí, có đắc là c̣n đối đăi, chưa phải đúng chỗ của Bồ-tát. Nếu không tất cả th́ đi tới đâu? Vô sở đắc là không c̣n cái để ngộ, để được nữa, chừng đó Bồ-tát y theo Bát-nhă không c̣n bị chướng ngại chút nào hết. Không c̣n nằm trong đối đăi, trong sanh diệt nên không c̣n bị chướng ngại, v́ vậy nói vô quái ngại. Không có đối đăi th́ c̣n ǵ sợ sệt, v́ vậy nói vô hữu khủng bố.

Không những riêng Bồ-tát mà ba đời chư Phật cũng nương Trí tuệ Bát-nhă mà được giác ngộ viên măn. Nói tới Bát-nhă là nói tới Phật, nói tới Bồ-tát chớ không phải nói tới Thanh văn, Duyên giác. Cuối cùng của Bát-nhă là đoạn mà nhiều người nghi ngờ nhất, v́ nói thần chú. Điểm này có lẽ tại các nhà phiên dịch, thời xưa ở Ấn Độ rất trọng thần chú. Họ thường dùng thần chú trị quỉ thần, trị những con rắn độc, cọp sói v.v… v́ vậy nói Bát-nhă trị được tất cả bệnh cũng như thần chú linh thiêng nhất. Trí tuệ Bát-nhă rất mạnh, có giá trị bằng tất cả các thần chú. Các nhà phiên dịch muốn cho linh thiêng, họ để nguyên câu chữ Phạn. Chớ thật ra câu “yết-đế, yết-đế, ba-la yết-đế, ba-la-tăng yết-đế, bồ-đề tát-bà-ha”, có nghĩa là qua bờ kia, qua bờ kia, qua đến bờ kia. Bờ kia là bờ giác ngộ. Đứng bên bờ mê qua tới bên kia là bờ giác ngộ vậy thôi. Hiểu vậy mới thấy tinh thần Bát-nhă rất sâu, rất kỳ đặc chớ không phải thường.

Chúng ta tụng Bát-nhă hằng đêm để nhắc tới nhắc lui, nhớ ḿnh đang đi con đường đó, chớ không phải tụng cho Phật nghe. Bây giờ tôi thấy nhiều vị tụng kinh cho hay, cho Phật nghe. Thật ra tụng kinh là lặp đi lặp lại lời Phật dạy cho thâm nhập vào tâm, nhớ điều ḿnh nguyện làm, đang hướng đến. Đó là chỗ rất quan trọng, rất thiết yếu. Chúng ta phải thâm nhập được lư kinh th́ việc tụng kinh mới có giá trị.

Kinh Bát-nhă bên chữ Hán có sáu trăm quyển. Lúc trước tôi ngồi đọc sáu trăm quyển đó, mới thấy Bát-nhă Tâm Kinh cô đọng lại toàn bộ sáu trăm quyển kinh Bát-nhă. Cho nên chữ Tâm Kinh có thể dịch là kinh tim. Bởi v́ trong sáu trăm quyển Bát-nhă, bài kinh này rút hết trọng tâm, cô đọng lại toàn bộ ư chánh của kinh. Con người ḿnh tim nằm giữa cung cấp máu khắp châu thân. Chữ tâm là tim, một bộ phận quan trọng bậc nhất trong cơ thể con người. Nếu nói tâm kinh là kinh ruột th́ không diễn đạt được hết tầm vóc trọng yếu của nó. V́ ruột đâu có cung cấp máu lên xuống khắp châu thân như tim. Cho nên chữ tâm dịch là tim, quả tim của sáu trăm quyển Bát-nhă.

Ngày 21 tháng 7 nhuần, mùa an cư năm 1968, buổi khuya tôi ngồi thiền sáng được lư sắc không bất nhị, sắc không không hai, sắc tức thị không không tức thị sắc. Sáng được lư này tôi vui gần ba ngày. Sau đó tôi đọc Tạng kinh, nhất là những bài kinh về thiền thấy hiểu không khó như ngày xưa nữa. Tôi nghĩ ḿnh có duyên với thiền, ngang đây dạy tu thiền được, nên mở cửa thất thành lập Tu viện Chân Không dạy Tăng Ni tu thiền. Nhưng đến bây giờ tôi mới thấy được tướng không này. Từ ngày đó đến giờ xa bao nhiêu?

Nói thế để quí vị thấy tu thiền mà không đạt được lư Bát-nhă th́ không thấu đáo. V́ sao? Ngày xưa tôi thường nhắc câu Thiền sư Huyền Giác hay nói: Chứng thực tướng vô nhân pháp, sát-na diệt khước A-t́ nghiệp. Nhược tương vọng ngữ cuống chúng sanh, tự chiêu bạt thiệt trần sa kiếp. Nghĩa là người nào chứng được thực tướng rồi th́ không c̣n nhân, pháp. Người đó chỉ trong chớp mắt diệt hết tội dưới địa ngục A-t́. Nếu tôi nói dối chúng sanh xin chịu tội bị cắt lưỡi dưới địa ngục trải vô số kiếp. Câu này làm tôi hơi rùng ḿnh. Tại sao Thiền sư dám khẳng định và dám chịu tội tới như vậy? Bây giờ tôi mới thấy rơ. Thực tướng là không c̣n ngă, không c̣n có cái ta, bấy giờ nhận cái thể không là ḿnh, thể không th́ c̣n tướng ǵ? Cho nên không có ḿnh, không có người. Không có ḿnh, không có người th́ cái ǵ dẫn xuống địa ngục. Nếu c̣n thấy ḿnh mới bị nghiệp dẫn, ḿnh không có th́ c̣n ǵ mà dẫn? Cho nên chỉ trong chớp mắt qua khỏi địa ngục A-t́. Đó là một lẽ thật.

Chúng ta thấy con đường này rất kỳ đặc, đi sâu vô lư Bát-nhă mới nhận ra điều đó.

Dưới đây là biểu đồ tôi phác họa để chỉ cho quí vị thấy rơ đầu đuôi, gốc ngọn của hai con đường: Con đường trầm luân sanh tử và con đường giải thoát sanh tử.



Quay trở về đầu Xem Learner's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi Learner
 
vuithoi
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 08 April 2005
Nơi cư ngụ: Canada
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 375
Msg 10 of 12: Đă gửi: 06 April 2006 lúc 12:58am | Đă lưu IP Trích dẫn vuithoi



TIẾN THẲNG VÀO THIỀN TÔNG - THÍCH THANH TỪ đă viết:
Bồ-tát thừa th́ không có thứ bậc, đi thẳng đến chỗ cuối cùng. Như Tứ đế nói thân này sanh, già, bệnh, chết, Bát-nhă nói thân này là không, nghĩa là chết rồi trở về không. Như vậy nói không là nói chỗ kết thúc của thân này. Tất cả tâm duyên theo cảnh cũng là không. Như vậy Bát-nhă thấy tột lẽ thật ngũ uẩn là không, do thấy tột ngũ uẩn là không nên hết khổ.


Chỗ này với chỗ đương thể tức không cách nhau bao nhiêu ?

Chúc mọi người an lạc,

vuithoi

__________________
vui thoi ma
Quay trở về đầu Xem vuithoi's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi vuithoi
 
tamsuhocdao
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 18 November 2003
Nơi cư ngụ: China
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 76
Msg 11 of 12: Đă gửi: 06 April 2006 lúc 2:03am | Đă lưu IP Trích dẫn tamsuhocdao

Theo thiễn nghĩ, thiền định là diệt trừ vọng tâm. Nhưng khi thiền th́ vọng tưởng dứt, khi không thiền th́ vọng tưởng khởi, vẫn suy nghĩ liên miện th́ chẳng phải vọng tâm đă diệt. Chẵng qua nó bị đè nén lại tí chút khi thiền định thôi. Đó là nó khôn lanh hơn trước biết né mặt chủ nhân ông. Khi chủ đi vắng nó lại vọc niêu tôm. Trương Tam Phong nói :
T́m cái huyền trong cái huyền
Bắt gíâc mộng trong giấc mộng
cười chỉ bồng lai ở trước mặt
chứng quả mới đến bậc tiên th́ việc trong mộng cũng là việc thực huống chi là việc thực ngoài đời, khi này mộng thực đều là thực cả
Thiền định cao hơn nữa th́ dứt luôn cả giấc mộng, khi này chứng quả vọng tâm đă diệt, chỉ c̣n một chủ nhân ông việc đến th́ ứng, việc qua chẳng tưởng, đến đây lại phải cẩn thận ngăn ngừa kẻo vọng tâm hồi sinh, do đó phải đóng kín cửa mà tu hành.Nhưng mức thiền định này th́ vẫn c̣n cái ta tồn tại, đó là chứng quả thiền định cao nhất trong tam giới.
Thiền định đến mức diệt luôn cái ta này th́ đă ra ngoài tam giới rồi.



__________________
đi một ngày đàng học một sàng khôn
Quay trở về đầu Xem tamsuhocdao's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi tamsuhocdao
 
vuhoangnguyen
Hội viên
 Hội viên


Đă tham gia: 24 October 2005
Nơi cư ngụ: Vietnam
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 282
Msg 12 of 12: Đă gửi: 06 April 2006 lúc 9:05am | Đă lưu IP Trích dẫn vuhoangnguyen

Learner đă viết:
TIẾN THẲNG VÀO THIỀN TÔNG
THÍCH THANH TỪ


ĐƯỜNG SANH TỬ - ĐƯỜNG BẤT TỬ

Thiền viện Trúc Lâm - Đà Lạt, ngày 29-08-2004
Hôm rồi tôi có giảng kinh Bát-nhă, hôm nay tôi sẽ bổ túc thêm những ư hay trong kinh Bát-nhă mà lần trước tôi chưa nói hết, kế đó tôi sẽ nói về kiến giải điên khùng của tôi.

Nói đến kinh Bát-nhă ai cũng thuộc ḷng. Bát-nhă Tâm Kinh thuộc hệ thống Bát-nhă. Chúng ta thử đặt lại câu hỏi: “Trong Ngũ thừa Phật giáo, hệ thống Bát-nhă thuộc thừa nào?” Nắm được chỗ đứng của Bát-nhă, chúng ta mới hiểu Bát-nhă. Ngũ thừa Phật giáo gồm có: Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ-tát thừa. Nhân thừa, Thiên thừa dạy chúng sanh tu để được trở lại làm người hay sanh lên cơi trời. Thanh văn thừa, Duyên giác thừa dạy chúng sanh tu chứng Tứ quả A-la-hán, quả Duyên giác. Kinh Bát-nhă thuộc về Bồ-tát thừa, qua cả Thanh văn, Duyên giác đi thẳng tới Bồ-tát, cao như thế.


Hội ban đầu ở vườn Lộc Uyển, Phật nói kinh Tứ đế. Đó là Ngài dùng phương tiện giáo hóa, chớ chưa phải chỉ lẽ thật Ngài đă thấy.

Quí vị thấy thân này thật không? Nếu thấy thân thật là đang ở trong vô minh. Tại sao? V́ ai cũng biết thân này nhiều lắm bảy, tám chục năm cũng phải hoại. Có rồi hoại, làm sao thật được.


Chúng ta đọc chiếu kiến ngũ uẩn giai không mà thấy toàn là giai hữu. Phật dạy một đường ḿnh hiểu một ngả, không hiểu theo Phật, nên không qua khổ nạn được. Khổ nạn nào chúng ta cũng mắc kẹt. Tăng Ni ở các Thiền viện, lấy kinh Bát-nhă làm cơ bản tụng niệm hằng ngày. Đó là quí vị đang đi trên con đường của ai? Của Bồ-tát, chớ không phải của Thanh văn, Duyên giác. Hiểu như vậy, mới biết rơ được chỗ đứng của ḿnh.

Bồ-tát thừa th́ không có thứ bậc, đi thẳng đến chỗ cuối cùng. Như Tứ đế nói thân này sanh, già, bệnh, chết, Bát-nhă nói thân này là không, nghĩa là chết rồi trở về không. Như vậy nói không là nói chỗ kết thúc của thân này. Tất cả tâm duyên theo cảnh cũng là không. Như vậy Bát-nhă thấy tột lẽ thật ngũ uẩn là không, do thấy tột ngũ uẩn là không nên hết khổ.

Mở đầu Bát-nhă Tâm Kinh, Phật nói Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Trí tuệ Bát-nhă thấy năm uẩn là không, bởi giác ngộ nên Ngài qua hết tất cả khổ nạn. Chúng ta không ai quên câu này nhưng lại không thấy như Bồ-tát Quán Tự Tại. Phật giải thích từng phần cho ngài Xá-lợi-phất nghe. Trước hết Phật nói Sắc uẩn là không, v́ Sắc uẩn là tứ đại. Tứ đại là đất, nước, gió, lửa trong thân chúng ta. Da thịt gân xương là đất. Nước mắt, mồ hôi máu mủ là nước. Thở ra, hít vào là gió. Hơi ấm trong người là lửa. Tứ đại ḥa hợp thành Sắc uẩn, Phật nói nó là không. Tại sao? V́ cái ǵ do duyên hợp th́ phải tan. Tan th́ thành không. Thọ, tưởng, hành, thức cũng như thế, đều là không.

Thị chư pháp không tướng nghĩa là tướng không của các pháp. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức không sanh, không diệt, không nhơ, không sạch, không thêm, không bớt. Hồi xưa tôi không dám nói tướng không của các pháp là không, mà tôi nói thân do duyên hợp nên không có chủ thể, không có chủ thể nên gọi là không. Gọi không như thế là tánh không chớ không phải tướng không. Đó là chỗ trước kia tôi bị kẹt. Một buổi khuya ngồi thiền chừng một giờ, bất chợt tôi nhớ lại, tại sao tướng không mà ḿnh lại giảng tánh không? Vừa đặt câu hỏi xong tôi tự trả lời, tự giải quyết ngay. Giải quyết được rồi tôi rất vui.


C̣n kinh Bát-nhă thấy triệt để được tướng không của các pháp, thấy bằng trí tuệ tướng không của các pháp, chớ không phải chấp không. Tự giải quyết xong điều này, tôi vui quá. Giờ ngồi thiền c̣n lại trở về sau, toàn là những kiến giải điên khùng nổi dậy, hết cái này tới cái kia, suốt luôn tới sáng không quên. V́ vậy phần giảng kinh tới đây dừng, tôi sẽ nói sang phần kiến giải điên khùng.

Phật dạy thân này do tứ đại ḥa hợp. Tứ đại là đất, nước, gió, lửa, ai cũng biết rồi. Các kinh A-hàm chỉ nói tới chừng đó thôi, nhưng qua Bát-nhă th́ thêm một đại nữa, đó là không đại. Trong kinh Lăng Nghiêm, Phật c̣n nói thêm thức đại, kiến đại, tổng cộng là bảy đại. Đất, nước, gió, lửa dễ hiểu rồi, nhưng không đại th́ thế nào? Bây giờ quí vị tự kiểm lại trong thân ḿnh, phần hư không nhiều hay ít? Hai lỗ mũi trống tức là không, lỗ tai trống là không, cổ họng trống là không. Trong con người chúng ta, cái không luồn sẵn khắp hết. Bao tử chứa được cơm cũng nhờ trống, những mạch máu trống mới dẫn máu chạy khắp thân, lá phổi nở tóp cũng nhờ trống. Cả thân ḿnh từ đầu đến chân, mỗi lỗ chân lông đều trống, đều thưa hở hết. Kiểm lại phần trống trong thân rất nhiều.


Kiểm lại đất, nước, gió, lửa, bốn thứ đó là vô tri. Đến cái không là vô tri hay hữu tri? - Cũng vô tri. Như vậy phần vô tri của thân là tứ đại và không đại. Thức đại th́ hữu tri, v́ thức là tâm thức phân biệt nên hữu tri. Thức phân biệt là thức sanh diệt. Đến kiến đại, nói đủ là kiến văn giác tri tức thấy, nghe, cảm xúc và biết. Cái đó hằng hữu, không tướng mạo, không sanh diệt mà thường biết. Như lỗ tai hay nghe, cái hay đó có tướng mạo ǵ không? Con mắt hay thấy có tướng mạo ǵ không? Như vậy cái nghe, cái thấy v.v… không có tướng mạo, thường hằng hữu, nó thuộc phần kiến đại. Nhưng thấy mà khởi niệm phân biệt là qua thức rồi.


Đặt câu hỏi thêm nữa, trước khi cha mẹ chưa sanh ta là ǵ? Thân này có không? Không có, do cha mẹ sanh mới có. Sau khi thân này chết rồi sao nữa? Cũng là không. Trước không, sau không, giữa th́ ở trong không, ở ngoài không bao bọc. Vậy mà ḿnh không thèm nhớ cái không, chỉ nhớ toàn những thứ sanh diệt, đeo theo nó mà bỏ quên hẳn cái không mênh mông. Như vậy chúng ta biết ơn biết nghĩa không?



Chúng ta tụng Bát-nhă hằng đêm để nhắc tới nhắc lui, nhớ ḿnh đang đi con đường đó, chớ không phải tụng cho Phật nghe. Bây giờ tôi thấy nhiều vị tụng kinh cho hay, cho Phật nghe. Thật ra tụng kinh là lặp đi lặp lại lời Phật dạy cho thâm nhập vào tâm, nhớ điều ḿnh nguyện làm, đang hướng đến. Đó là chỗ rất quan trọng, rất thiết yếu. Chúng ta phải thâm nhập được lư kinh th́ việc tụng kinh mới có giá trị.

Ngày 21 tháng 7 nhuần, mùa an cư năm 1968, buổi khuya tôi ngồi thiền sáng được lư sắc không bất nhị, sắc không không hai, sắc tức thị không không tức thị sắc. Sáng được lư này tôi vui gần ba ngày. Sau đó tôi đọc Tạng kinh, nhất là những bài kinh về thiền thấy hiểu không khó như ngày xưa nữa. Tôi nghĩ ḿnh có duyên với thiền, ngang đây dạy tu thiền được, nên mở cửa thất thành lập Tu viện Chân Không dạy Tăng Ni tu thiền. Nhưng đến bây giờ tôi mới thấy được tướng không này. Từ ngày đó đến giờ xa bao nhiêu?

Chúng ta thấy con đường này rất kỳ đặc, đi sâu vô lư Bát-nhă mới nhận ra điều đó.

Dưới đây là biểu đồ tôi phác họa để chỉ cho quí vị thấy rơ đầu đuôi, gốc ngọn của hai con đường: Con đường trầm luân sanh tử và con đường giải thoát sanh tử.






Theo thiển ư của tôi Vị Hoà Thượng Thích Thanh Từ này giảng pháp bát nhă c̣n nhiều dính mắc , nệ câu chữ dễ dẫn các đệ tử của ngài đến sự ngă mạn tưởng lầm là ḿnh cao siêu .
1 . Thời ĐỨC PHẬT lời của Ngài là đồng nhất , dùng Pháp là phương tiện để độ sinh vạn hữu , nên không có phân biệt . Ngũ Thừa Phật giáo là do con người sau này tự đặt ra phân chia sau này , rồi tưởng lầm là Pháp ḿnh cao , thực sự sự mở rộng giáo lư để dễ tu hơn , tiếp thu khai ngộ được nhiều ngựi hơn .

2 . ĐỨC PHẬT nói " Đời là bể khổ " đó là chân lư muôn đời của kiếp người , thấy được điều này rời bỏ nó về nẽo giác mà không c̣n trôi lăm trong Lục đạo luân hồi . Trong 48 năm thuyết Pháp ṛng rả với 10 đại đệ tử xuất chúng của Ngài chẳng lẽ ĐỨC PHẬT không nói về lẽ thật sao ? và thời ĐỨC PHẬT tu chứng đắc đạo rất đông v́ do chính Ngài dẫn dắt giáo hóa . Chẳng lẽ phải đợi đến 7 thế kỷ sau Ngài mới hóa thân thị hiện giảng về lẽ thật ? Đây là một trong những lư do mà các Tu Sĩ Nguyên Thủy Nam Tông hầu như chưa bao giờ nghiên cứu nghiêm túc kinh điển Đại thừa mà chỉ tham khảo do tính trung thực về thời gian lịch sử .

3 . Thân này tuy là không nhưng thử hỏi nếu không có thân th́ lấy ǵ mà tu tập ở thế gian mà giải thoát dù biết rằng thân theo quy luật sanh trụ hoại diệt .

4 . HT TTT cho rằng Tăng Ni khi tụng niệm bài Bát Nhả Tâm Kinh là ḿnh có vị trí cao đang trên con đựng Bồ Tát Đạo ?!? thật không hiểu nổi một vị cao Tăng lại giảng như vậy , thật là thiếu sót lớn bỡi lấy phương tiện làm mục đích . Đâu thể ḿnh tu theo quyển kinh nào th́ như là ḿnh thuộc tông phái đó . Chính Tâm Hạnh , Từ Bi bao la ,quyết tâm độ sinh vạn hữu mới chính là Bồ Tát Đạo chứ đâu mắc kẹt dính mắc vào bộ kinh nào .

5 . Theo các lớp Phật học cao cấp th́ Tứ Diệu Đế đâu chỉ dừng lại ở mức sanh lăo bệnh tử quá đơn giản như vị HT TTT này nói , có lẽ Ông ta chưa học qua Tứ Diệu Đế bao giờ mà đi thẳng vào giáo lư Bắc Tông , bỏ qua cả Luật nhân quả nền tảng của giáo lư Phật học .
Bát Nhă thấy tột lẽ ngũ uẩn là không là tầm nh́n của Bồ Tát mới thấy là không , chứ chúng sinh luôn thấy là có .Nếu giảng đánh đồng như vậy dễ gây mạo nhận là chúng sinh hay Bồ Tát ǵ cũng nh́n thấy vạn hữu là không giống nhau từ đó chúng sanh sẽ phát sinh ngă mạn v́ tưởng lầm ḿnh có trí tuệ của Bồ Tát .

6 . Bài giảng này cho thấy c̣n mắc kẹt , giải thích đơn thuần cơ thể h́nh sắc ở dạng vật lư , thân Tứ Đại đất nước lửa gió , chưa thấy sâu sa bản thể là hư vô . Khi thấy bản thể là hư vô là do hành giả cảm nhận trong sáng suốt thanh tịnh của Định , chứ không phải bằng lư luận mà có được .

7 . Tu tập Phật Pháp th́ đâu cần lư luận trước khi cha mẹ sanh ra ta là ǵ ? hay thân ta có hay không ? đặt câu hỏi như vậy là giành cho ngựi sơ cơ chỉ cần chuyên tâm tinh tấn tu hành theo giáo lư Phật Đà là đủ . V́ có biết các câu hỏi đó cũng vô ích không giúp ǵ cho sự tu tập .

8 . Ngồi thiền quán chỉ mà chỉ thấy ở mức độ h́nh hài vật lư Tứ Đại th́ c̣n vọng tưởng nhiều , chưa thấy được thể tánh vắng lặng của tâm thức .
Tụng kinh Bát Nhă mà c̣n nhớ là ḿnh đang đi trên con đựng đó th́ thật là tự trói ḿnh vào cột , trói ḿnh dính mắc vào Pháp th́ đến bao giờ mới giải thoát .

9 . Câu sắc bất dị không , không bất dị sắc đâu phải ai cũng ngộ được dễ dàng và nói đến bây giờ mới thấy được Tướng không là đă rớt xuống một bậc trên đường tu . Người tu chứng đạo đâu có bao giờ nh́n thấy h́nh Tướng hay Tâm ở đâu mà t́m , đơn giản là Tâm đă bao la cả đất trời rồi .

Bây giờ tôi mới hiểu tại sao với các bài giảng pháp như thế này có nhiều tín đồ Phật Tử bị quả điên loạn như hội viên Kém May Mắn nào đó .

Vũ Hoàng Nguyên



Sửa lại bởi vuhoangnguyen : 06 April 2006 lúc 9:13am
Quay trở về đầu Xem vuhoangnguyen's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi vuhoangnguyen
 

Xin lỗi, bạn không thể gửi bài trả lời.
Diễn đàn đă bị khoá bởi quản trị viên.

  Gửi trả lời Gửi bài mới
Bản để in Bản để in

Chuyển diễn đàn
Bạn không thể gửi bài mới
Bạn không thể trả lời cho các chủ đề
Bạn không thể xóa bài viết
Bạn không thể sửa chữa bài viết
Bạn không thể tạo các cuộc thăm ḍ ư kiến
Bạn không thể bỏ phiếu cho các cuộc thăm ḍ



Trang này đă được tạo ra trong 0.4375 giây.
Google
 
Web tuvilyso.com



Bản quyền © 2002-2010 của Tử Vi Lý Số

Copyright © 2002-2010 TUVILYSO