Đăng nhập nhanh
Mạnh Thường Quân
  Bảo Trợ
Chức Năng
  Diễn Đàn
  Thông tin mới
  Đang thảo luận
  Hội viên
  Tìm Kiếm
  Tham gia
  Đăng nhập
Diễn Đàn
Nhờ Xem Số
  Coi Tử Vi
  Coi Tử Bình
  Coi Địa Lý
  Coi Bói Dich
  Chọn Ngày Tốt
Nghiên Cứu và
Thảo Luận

  Mệnh Lý Tổng Quát
  Qủy Cốc Toán Mệnh
  Tử Vi
  Tử Bình
  Bói Dịch
  Mai Hoa Dịch Số
  Bát Tự Hà Lạc
  Địa Lý Phong Thủy
  Nhân Tướng Học
  Thái Ất - Độn Giáp
  Khoa Học Huyền Bí
  Văn Hiến Lạc Việt
  Lý - Số - Dịch - Bốc
  Y Học Thường Thức
Lớp Học
  Ghi Danh Học
  Lớp Dịch & Phong Thuy 2
  Lớp Địa Lư
  Lớp Tử Vi
    Bài Giảng
    Thầy Trò Vấn Đáp
    Phòng Bàn Luận
    Vở Học Trò
Kỹ Thuật
  Góp Ý Về Diễn Đàn
  Hỗ Trợ Kỹ Thuật
  Vi Tính / Tin Học
Thư Viện
  Bài Viết Chọn Lọc
  Tủ Sách
Thông Tin
  Thông Báo
  Hình Ảnh Từ Thiện
  Báo Tin
  Bài Không Hợp Lệ
Khu Giải Trí
  Gặp Gỡ - Giao Lưu
  Giải Trí
  Tản Mạn...
  Linh Tinh
Trình
  Quỷ Cốc Toán Mệnh
  Căn Duyên Tiền Định
  Tử Vi
  Tử Bình
  Đổi Lịch
Nhập Chữ Việt
 Hướng dẫn sử dụng

 Kiểu 
 Cở    
Links
  VietShare.com
  Thư Viện Toàn Cầu
  Lịch Âm Dương
  Lý Số Việt Nam
  Tin Việt Online
Online
 46 khách và 0 hội viên:

Họ đang làm gì?
  Lịch
Tích cực nhất
dinhvantan (6262)
chindonco (5248)
vothienkhong (4986)
QuangDuc (3946)
ThienSu (3762)
VDTT (2675)
zer0 (2560)
hiendde (2516)
thienkhoitimvui (2445)
cutu1 (2295)
Hội viên mới
thephuong07 (0)
talkativewolf (0)
michiru (0)
dieuhoa (0)
huongoc (0)
k10_minhhue (0)
trecon (0)
HongAlex (0)
clone (0)
lonin (0)
Thống Kê
Trang đã được xem

lượt kể từ ngày 05/18/2010
Địa Lư Phong Thủy (Diễn đàn bị khoá Diễn đàn bị khoá)
 TUVILYSO.net : Địa Lư Phong Thủy
Tựa đề Chủ đề: ĐỊA THẾ PHONG-THỦY CỦA HÀ-NỘI, HUẾ, SÀI-G̉N VÀ VẬN MỆNH CỦA DÂN TỘC VI Gửi trả lời  Gửi bài mới 
Tác giả
Bài viết << Chủ đề trước | Chủ đề kế tiếp >>
LuuBi.
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 18 May 2005
Nơi cư ngụ: Vietnam
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 1992
Msg 1 of 27: Đă gửi: 30 May 2005 lúc 4:22am | Đă lưu IP Trích dẫn LuuBi.

ĐỊA THẾ PHONG-THỦY CỦA HÀ-NỘI, HUẾ, SÀI-G̉N VÀ VẬN MỆNH CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM.
LÂM QUỐC THANH

Từ xưa đến nay, việc lựa chọn một khu vực thích hợp và thuận tiện làm thủ đô bao giờ cũng là một vấn đề vô cùng quan trọng, có liên quan đến sự sống c̣n của một chế độ hay có khi của cả một dân tộc. Bởi thế nên từ hơn 3, 000 năm về trước, các vua chúa Trung Hoa đă biết dựa vào thuật Phong thủy để t́m kiếm những vùng đất tốt đẹp cho việc đóng đô lập quốc. Có lẽ điều này giải thích lư do tại sao các triều đại phong kiến Trung Hoa thường tồn tại rất lâu dài, bền bỉ. Và mặc dù cũng phải trải qua những giai đoạn suy tàn, ly loạn, nhưng sức mạnh và nền văn minh của họ vẫn tiếp tục được duy tŕ và phát triển cho tới bây giờ, chứ không bị tàn lụi hẳn như những đế quốc cổ đại và trung đại khác như Ai Cập, Hy Lạp, La Mă, Mông Cổ, Ả Rập.....

Riêng đối với dân tộc Việt Nam của chúng ta, từ lúc sơ khai của thời kỳ Hùng Vương cho tới nay, thủ đô của đất nước đă được dời đi, đổi lại nhiều lần, và vận mệnh của dân tộc cũng v́ thế biến đổi theo. Từ Phong Châu (kinh đô của các vua Hùng) đến Cổ Loa, Phiên Ngung, Hoa Lư, rồi tới Thăng Long (tức Hà Nội), Phú Xuân (tức Huế) và Sài G̣n. Tùy theo địa thế và vận khí riêng biệt của mỗi thành phố trên, đất nước ta đă từng trải qua biết bao nhiêu giai đoạn thăng trầm. Khi th́ vươn lên với một nền văn minh rực rỡ của trống đồng Ngọc Lũ, Đông Sơn; khi th́ tàn tạ, yếu kém phải chịu đựng 1,000 năm Bắc thuộc. Rồi dến những lúc cường thịnh đủ sức phá Tàu, b́nh Chiêm Thành, Chân Lạp; lại có những lúc suy yếu phải chịu sự đô hộ, sai khiến của ngoại bang....

Giờ đây, trong số những địa danh ấy, chỉ c̣n có Hà Nội, Huế và Sài G̣n là vẫn tiếp tục nắm giữ những vai tṛ quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa xă hội và giao thương, mậu dịch của đất nước. Bởi thế hôm nay, người viết muốn được tŕnh bày về địa thế Phong thủy của 3 thành phố này, với hy vọng sẽ giúp bạn đọc thấy được sự liên quan mật thiết giữa địa h́nh của thủ đô với vận số của dân tộc. Đồng thời, dựa vào những quy luật biến hóa tự nhiên của vũ trụ để xác định nhũng giai đoạn hưng vượng hoặc suy vong của đất nước trong quá khứ, hiện tại cũng như trong tương lai sắp tới.

Nhưng trước khi đi sâu vào vấn đề, người viết xin được đề cập sơ qua 2 chi tiết quan trọng của Phong thủy là Lạc Thư và Tam Nguyên- Cửu Vận. Những chi tiết này đă được tŕnh bày tương đối đầy đủ trong bài " Phong thủy của vụ 9/11" trước đây (được đăng trên số xuân Nhâm Ngọ của báo Việt Tide và Chicago Việt báo), nên ở đây chỉ xin nói vắn tắt như sau:

* Tam Nguyên-Cửu Vận: là1 chu kỳ 180 năm, được lập đi, lập lại không ngừng. Mỗi một chu kỳ này được chia ra làm 3 (Tam) Nguyên, mỗi Nguyên là một giai đoạn dài 60 năm, và được đặt theo thứ tự là Thượng Nguyên, Trung Nguyên và Hạ Nguyên. Mỗi Nguyên lại được chia làm 3 Vận: các Vận 1, 2, 3 thuộc về Thượng Nguyên; các Vận 4, 5, 6 thuộc về Trung Nguyên; và các Vận 7, 8, 9 thuộc về Hạ Nguyên. Mỗi Vận như thế là 1 giai đoạn dài 20 năm.

Ở đây, để tiện theo dơi những diễn biến lịch sử trong từng giai đoạn, người viết xin được giới thiệu với bạn đọc bảng Tam Nguyên-Cửu Vận của hơn 1,000 năm trở lại đây.



* Lạc Thư: là một đồ bàn h́nh vuông, bên trong có 9 số (c̣n được gọi là Cửu tinh), mỗi tương ứng với mỗi Vận, đồng thời chiếm 1 vị trí và phương hướng nhất định như h́nh bên cạnh. Như vậy, muốn biết được sự hưng, suy của một thành phố trong Vận nào, ta chỉ cần quan sát những khu vực tương ứng trong Lạc Thư là sẽ t́m ra được lời giải đáp. Chẳng hạn như muốn biết khí số của Hà Nội trong Vận 7 như thế nào, trước hết ta cần nh́n vào Lạc Thư, sẽ thấy số 7 nằm ở phía Tây. Như vậy, chỉ cần quan sát địa thế sông, núi ở khu vực phía Tây Hà Nội, đồng thời đối chiếu với khu vực đối diện tức là phía Đông th́ sẽ t́m ra được kết quả chính xác.

Trên đây chỉ là chút khái niệm về Lạc Thư và Tam Nguyên-Cửu Vận, ngoài ra, bạn đọc cũng cần biết hai yếu tố căn bản để định quẻ là Nước và Núi qua ba điểm dưới đây:

a/ Phục Ngâm: là khu vực của chính Vận mà lại có Thủy, như Vận 7, số 7 nằm ở phía Tây, nên phía Tây được coi là khu vực của chính Vận, mà ở đó lại có Thủy (nước) tức là bị Phục Ngâm.

b/ Phản Ngâm: là khu vực đối diện với chính Vận mà lại có núi, như Vận 7, số 7 nằm ở phía Tây, mà phía Đông lại có núi tức là bị Phản Ngâm.

c/ Chính Thủy: là Thủy nằm ở khu vực đối diện với chính Vận, như Vận 7, số 7 nằm ở hướng Tây, mà phía Đông lại có Thủy tức là có Chính thủy.

Trong những cách kể trên, chỗ nào có Phục Ngâm, Phản Ngâm là có sát khí chiếu tới, nên sẽ mang nhiều tai ương, hoạn nạn đến cho thành phố. C̣n chỗ nào có Chính thủy tức là được vượng khí chiếu tới, nên sẽ đem đến nhiều may mắn, thuận lợi.

Sau khi đă nắm được những diều cơ bản trên, mời bạn đọc hăy nh́n vào địa thế của 3 thành phố Hà Nội, Huế và Sài G̣n, để t́m hiểu những nguyên nhân đă tạo ra những chặng đường vinh - nhục cho đất nước ta trong suốt gần 1,000 qua.


1/ HÀ NỘI: là thành phố nằm gần như ngay tại trung tâm của đồng bằng Bắc Việt, trên dải đất hẹp giữa con sông Hồng ở phía Đông và sông Tô Lịch ở phía Tây. Đối với Phong thủy, dải đất này chính là chân long, là nơi kết tụ được nhiều nguyên khí của địa h́nh sông, núi ở chung quanh. Nhờ vậy, Hà Nội sẽ luôn luôn nắm được những vai tṛ quan trọng về chính trị và kinh tế đối với đất nước, chẳng những thế, trong các thời kỳ hưng vượng c̣n sản sinh ra những lănh tụ tài ba, những anh hùng kiệt xuất. Nếu nh́n lên bản đồ miền Bắc, ta sẽ thấy những con sông lớn như sông Cầu, sông Gầm, sông Lô ở phía Bắc; sông Đà, ở phía Tây, sau khi chảy qua nhiều nơi cuối cùng đều nhập vào sông Nhị Hà chảy về Hà Nội. Xa xa, dọc theo biên giới Việt-Hoa, những dăy núi trùng trùng, điệp điệp xuất phát từ miền Nam Trung Hoa đâm thẳng xuống dọc theo các phía Tây Bắc, Bắc và Đông Bắc, tất cả cũng đều như muốn hướng về. Đây chính là thế "núi sông chầu phục" của Hà Nội, một địa thế Phong thủy tuyệt đẹp đến nỗi không một thủ đô nào của các nước trong vùng Đông Nam Á Châu, (kể cả thành Bắc Kinh của Trung Hoa) có thể so sánh được. Không những thế, ngoài xa nơi phía Đông và Đông Nam, Hà Nội c̣n được đại thủy của vịnh Bắc Việt và Thái B́nh Dương chiếu tới nên thần lực rất lớn, xứng đáng là thủ đô muôn đời của một quốc gia văn hiến hùng mạnh.

Nếu đem địa thế núi, sông, biển cả vừa kể trên đối chiếu với Lạc Thư, ta sẽ thấyVận 1 chỉ là giai đoạn trung b́nh của Hà Nội. V́ mặc dù khu vực phía Bắc có nhiều sông ng̣i tức là phạm phải cách "Phục Ngâm", bị sát khí xâm phạm, nên sẽ đem đến nhiều tai ương, loạn lạc. Nhưng tại đây cũng có nhiều dăy núi đâm thẳng xuống đem theo nhiều vượng khí nên chưa đến nỗi, vẫn c̣n nhân tài có khả năng ổn định, xoay chuyển được thời cuộc. Bước sang Vận 2, t́nh thế mỗi lúc một suy thoái hơn, v́ khu vực phía Tây Nam của Hà Nội tuy chỉ có sông Mă tức là bị "Phục Ngâm" trong trường hợp nhẹ. Nhưng phía đối diện (Đông Bắc) lại có núi đồi trùng điệp tức là bị "Phản Ngâm", sát khí từ nơi đó sẽ tràn tới, khiến cho đất nước ngày càng trở nên hỗn loạn. May mà tại đây (khu vực phía Đông Bắc) cũng có nhiều sông ng̣i chằng chịt tức là đắc "Chính thủy", vượng khí vẫn c̣n đến với Hà Nội nên chưa đến nỗi bị suy vong. Qua các Vận 3, 4, đại thủy của vịnh Bắc bộ và Thái b́nh Dương nơi phía Đông và Đông Nam sẽ tạo ra cách "Phục Ngâm", sát khí quá nặng nề, nên sẽ đưa đất nước ta vào t́nh trạng yếu kém, tàn tạ hơn bao giờ hết. Phải đến khi bước vào Vận 5, nhờ địa thế "núi sông chầu phục", vượng khí của Hà Nội mới bắt đầu bùng lên mănh liệt, và cùng với nó là sức mạnh và tinh thần quật khởi của dân tộc. Qua Vận 6, Hà Nội sẽ phải đương đầu với những cuộc chiến tranh cực kỳ ác liệt, do các sông lớn như Nhị Hà, sông Đà đều bắt nguồn từ phía Tây Bắc, nguồn nước lại rất lớn nên phạm phải cách "Phục Ngâm" rất nặng. May là cũng tại phía Tây Bắc lại có những mạch núi rất dài, rất cao tiến xuống, cuốn theo vượng khí ngút trời, đủ sức để trấn áp sát khí nên Hà Nội sẽ vượt qua được mọi thử thách để đi đến chiến thắng. Nói chung là trong Vận 6, ngay cả những thế lực hùng mạnh bậc nhất trên thế giới mà đụng đến Hà Nội cũng đều sẽ rước lấy những thất bại thảm hại, ê chề. Đến Vận 7, những con sông Đà, sông Mă ở phía Tây Hà Nội sẽ tạo ra nhiều sát khí (bị "Phục Ngâm"). Nhưng ngoài xa nơi phía Đông lại có vượng khí của đại thủy mênh mông chiếu tới, lấn át được sát khí, nên tuy hay bị những biến động về chính trị, nhưng là một giai đoạn tương đối yên lành, sung túc. Sang Vận 8, Hà Nội sẽ bước vào giai đoạn cực thịnh, sản sinh ra những lănh tụ tài ba đem lại thanh b́nh và vinh quang cho đất nước.?Trong giai đoạn này tuy cũng có chiến tranh xảy ra, do khu vực phiá Đông Bắc có rất nhiều sông ng̣i chằng chịt. Nhưng cảnh thái b́nh, thịnh trị, sẽ nhanh chóng được tái lập v́ vượng khí của các dăy núi trong khu vực Đông Triều-Cẩm Phả sẽ đem đến cho Hà Nội rất nhiều may mắn, thuận lợi. Sang tới Vận 9, thời kỳ hưng vượng vẫn tiếp tục được duy tŕ, cho tới khi bước sang Vận 1 th́ những mầm mống loạn lạc mới bắt đầu tái diễn trở lại.

Nếu nh́n lại lịch sử th́ ngay từ thời Bắc thuộc, một số tướng lănh cai trị Trung Hoa có tầm hiểu biết sâu rộng về Phong thủy như Cao Biền đă bắt đầu để ư tới địa thế tốt đẹp của Hà Nội. Bởi thế nên ngay từ thời đó, họ đă cho xây thành ở khu vực này và đặt tên là thành Đại La, nhưng ngôi thành này thường bị bỏ trống, ít khi được chú ư tới. Phải đến khi vua Lư Thái Tổ lên ngôi, ngài thấy Hoa Lư có địa thế quá nhỏ hẹp nên mới dời đô về đây và đổi tên là thành Thăng Long. Lúc đó là năm 1010, thuộc Vận 3 Thượng Nguyên, xét về vận khí th́ đây chính là lúc suy vong của Hà Nội. Nhưng cũng may cho nhà Lư là Hà Nội khi trước đă bị bỏ trống từ lâu, đến lúc đó mới được chọn làm đế đô nên vận khí chưa thể ảnh hưởng mạnh mẽ ngay đến cục diện của đất nước. Mặc dù vậy, trong suốt thời gian cai trị của Ngài (1010- 1028), giặc giă nổi lên khắp nơi, khiến cho nhà vua và các hoàng tử phải luân phiên nhau đi đánh dẹp mới giữ vững được quốc gia và bảo tồn được ngôi báu cho nhà Lư.

Khi vua Thái Tổ qua đời, Thái tử Phật Mă lên nối ngôi (1028), hiệu là Lư Thái Tông, lúc đó đang ở trong Vận 4 Trung Nguyên. Ngay lúc đó, Ngài đă phải lo đối phó với cuộc tranh giành ngôi báu của các hoàng tử khác, nhờ có danh tướng Lê phụng-Hiểu pḥ tá nên Ngài mới dẹp yên được cuộc nổi loạn đó.

Năm 1038, cũng trong Vận 4, Nùng tồn Phúc nổi loạn ở Lạng Sơn, tự xưng là Hoàng đế, thanh thế rất lớn, khiến vua Thái Tông phải thân đi chinh phạt mới dẹp yên được.

Năm 1044, bước sang Vận 5, vượng khí đă bắt đầu dến với Hà Nội, vua Thái Tông đem quân đi đánh Chiêm Thành. Quân ta đại thắng, chiếm được kinh đô Phật Thệ của nước Chiêm.

Năm 1048, cũng trong Vận 5, Nùng trí Cao (con Nùng tồn Phúc) lại nổi loạn ở Lạng Sơn, âm mưu dựa vào nhà Tống bên Tàu để chống lại nhà Lư. Nhưng v́ lúc đó nhà Tống đang suy yếu, chưa muốn sinh sự với Đại Việt, nên âm mưu này bị thất bại. Sau đó, Nùng trí Cao bị nhà Lư đánh phải chạy sang Tàu cướp phá, rồi bị tướng nhà Tống là Địch Thanh dẹp tan.

Năm 1068, trong Vận 6 Trung Nguyên, biết được Chiêm Thành bí mật liên kết với nhà Tống, không chịu thần phục nước ta, vua Lư Thánh Tông cùng với Lư thường Kiệt bèn cất quân đi chinh phạt. Quân ta đại phá quân Chiêm, bắt được Chiêm vương là Chế Củ. Sau cuộc chiến này, Chiêm Thành không những bị bắt buộc phải thần phục nước ta, mà c̣n phải cắt 3 châu (hay 3 tỉnh) dâng nạp để tạ tội.
Quay trở về đầu Xem LuuBi.'s Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi LuuBi.
 
LuuBi.
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 18 May 2005
Nơi cư ngụ: Vietnam
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 1992
Msg 2 of 27: Đă gửi: 30 May 2005 lúc 4:24am | Đă lưu IP Trích dẫn LuuBi.

Vào cuối năm 1075, cũng trong Vận 6, thấy nhà Tống có ư muốn đánh nước ta, Lư thường Kiệt liền dẫn quân sang đánh chiếm Khâm châu, Ung châu và Liêm châu của nhà Tống, phá hủy mọi căn cứ và những kho tàng quân sự rồi rút về.

Đầu năm sau, vẫn trong Vận 6, vua Tống cử Quách Quỳ làm đại tướng, ồ ạt dẫn quân sang đánh nước ta báo thù, nhưng bị Lư thường Kiệt chận đánh kịch liệt bên bờ sông Như Nguyệt, suốt mấy tháng trời không tiến binh nổi. Thấy lực lượng bị hao ṃn nhiều và biết không thể thắng nổi nước ta, Quách Quỳ bèn chấp nhận giảng ḥa rồi rút hết quân trở về.

Năm 1103, vào cuối Vận 7, Lư Giác khởi loạn ở vùng Nghệ An, rồi liên kết với cả Chiêm Thành, Lư thường Kiệt phải tự đem quân vào đánh mới dẹp yên được.

Trong suốt Vận 8 (1104 - 1123), nước ta sống trong cảnh thái b́nh thịnh trị. Bước sang Vận 9, vào những năm 1128, 1132, 1135, Chân Lạp nhiều lần cho quân ra quấy phá Nghệ An, nhưng đều bị nhà Lư dẹp tan nên cuối cùng lại xin thần phục.

Năm 1138, vào cuối Vận 9, vua Lư anh Tông mới có 3 tuổi lên ngôi, nhưng nhờ có ông Tô hiến Thành là một trung thần tài ba pḥ tá nên trong suốt thời gian cai trị của ngài (1138 - 1175, tức là từ cuối Vận 9 qua tới giữa Vận 2), đất nước vẫn tương đối được ổn định. Đến khi Tô hiến Thành qua đời (1179), nhà Lư bắt đầu bước vào thời kỳ suy vong. Dưới thời vua Lư cao Tông (1176 - 1210, tức là từ giữa Vận 2 cho đến giai đoạn đầu của Vận 4), giặc giă nổi lên như ong, trong triều đ́nh từ vua tới quan đều bất tài, không đối phó nổi với t́nh thế. Năm 1208, Quách Bốc nổi loạn, rồi đem quân về đốt phá kinh thành, khiến vua Cao Tông phải dẫn Thái tử Sam bỏ chạy. Sau phải nhờ Trần Lư đem quân về dẹp loạn mới lấy lại được kinh đô, nhưng quyền bính lại lọt hết về tay họ Trần. Trong suốt thời gian c̣n lại của Vận 4 (1210 - 1223), vương quyền của nhà Lư mỗi lúc một suy yếu, tàn tạ. Để rồi vào năm 1225, Trần thủ Độ diệt nhà Lư, đặt cháu làTrần Cảnh lên làm vua và lập ra nhà Trần.

Khi nhà Trần được sáng lập th́ cũng là lúc mới bước vào Vận 5, vượng khí bắt đầu đến với Thăng Long (Hà Nội), nên đây là lúc mà sức mạnh của đất nước được bộc phát trở lại. Nhưng triều đ́nh nhà Lư đă quá suy nhược, hèn yếu, do đó phải nhường chỗ cho một thế lực chính trị khác, có đầy đủ khả năng và nghị lực, để dẫn dắt dân tộc tiến lên. Rồi ngay từ những ngày đầu, Trần thủ Độ đă tiến hành nhiều cuộc canh tân, cải cách, diệt trừ nội loạn (kể cả việc giết hại con cháu họ Lư). Nhờ thế nên chẳng bao lâu, các nền chính trị, kinh tế, văn hóa xă hội trên đất nước ta đều được khôi phục và phát triển trở lại. Nhưng trong lúc đó, xứ Mông Cổ cũng đang nổi lên thành một thế lực đế quốc hùng mạnh bậc nhất trong lịch sử thế giới, đánh chiếm được hầu hết Á Châu rồi tràn sang đến tận vùng Đông Âu. Sau khi đă chiếm được phần lớn đất đai của Trung Hoa, Mông Cổ bắt đầu ḍm ngó tới Việt Nam.

Năm 1257,?rong Vận 6 Trung Nguyên, chúa Mông Cổ là Hốt tất Liệt phái danh tướng Ngột-lương-hợp-Thai đem quân đánh chiếm nước Đại Lư (Thuộc tỉnh Vân Nam bây giờ), rồi sau đó tiến xuống chiếm luôn Việt Nam. Ngột-lương-hợp-Thai tiến binh rất nhanh, chỉ trong 1 tháng đă diệt được nước Đại Lư, rồi thừa thắng tiến vào nước ta. Trước sức mạnh của quân địch, vua tôi nhà Trần phải bỏ Thăng Long rút về Hưng Yên, áp dụng chiến lược "vườn không nhà trống" để đối phó. Chẳng bao lâu sau, khi thấy quân Mông Cổ suy yếu v́ không được tiếp tế lương thực, thuốc men đầy đủ, nhà Trần mở cuộc tổng phản công, đánh bại quân địch ở Đông bộ Đầu, khiến cho Ngột-lương-hợp-Thai phải rút quân tháo chạy về Vân Nam.

Sau chiến thắng này và cho đến hết năm 1283, tức là từ giữa Vận 6 cho đến hết Vận 7, nhà Trần phải trải qua cuộc đấu tranh đầy cam go và thử thách về ngoại giao với nhà Nguyên (tức đế quốc Mông Cổ).

Đầu năm 1285, thuộc Vận 8 Hạ Nguyên, Hốt tất Liệt sai thái tử Thoát Hoan đem 50 vạn quân sang đánh nước ta lần thứ hai. Đây chính là lúc vận khí của Hà Nội đang trong giai đoạn cực thịnh, nên mặc dù quân Mông Cổ tinh nhuệ và đông đảo chưa từng có, nhưng chỉ sau 5 tháng giao tranh, bọn chúng đă bắt đầu nao núng. Trước t́nh h́nh đó, quân ta phản công, đại thắng quân địch trong các trận Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết, Vạn Kiếp, giết Lư Hằng, chém Toa Đô, c̣n Thoát Hoan phải chui vào ống đồng chạy về Tàu.

Quá căm tức v́ cuộc thất trận này, vào cuối năm 1287, cũng trong Vận 8, Hốt tất Liệt lại sai Thoát Hoan đem 30 vạn quân sang đánh nước ta lần thứ ba. Nhưng lần này th́ quân địch c̣n bị thảm bại nhanh chóng hơn, v́ sau khi đoàn thuyền lương của chúng bị ta phá tan ở Vân Đồn, Thoát Hoan đành phải chia quân thành 2 đường thủy-bộ rút lui. Đạo thủy quân của địch bị ta chận đánh tan tành trên sông Bạch Đằng, những danh tướng như Ô-mă-Nhi, Phàn Tiếp đều bị bắt sống. C̣n đạo quân dưới sự chỉ huy của Thoát Hoan theo đường bộ rút về cũng bị chận đánh kịch liệt, các đại tướng như A-bát-Xích, Trương Ngọc đều bị tử trận, Thoát Hoan phải vất vả lắm mới vượt qua được ải Nam Quan trốn thoát.

Xét về 2 cuộc đại thắng quân Mông Cổ của nhà Trần sau này đều xảy ra trong Vận 8, giữa lúc vận khí của Hà Nội đang đi đến giai đoạn cực thịnh. Lúc này, nhờ những dăy núi dài hàng ngàn dậm ở phía Đông Bắc hướng tới, thần lực của Hà Nội thật vô cùng mănh liệt, nên không một thế lực hùng mạnh nào có thể lay chuyển được. Bởi thế nên chẳng những tinh thần quật cường, bất khuất của cả dân tộc ta lúc đó đang bùng lên đến mức tột độ, mà những anh hùng tài ba lỗi lạc cũng xuất hiện rất nhiều. Từ những vị vua như Trần thái Tông, Trần Nhân Tông, đến những danh tướng như Trần quang Khải, Trần khánh Dư, Trần nhật Duật, Phạm ngũ Lăo....và đặc biệt là vị đại anh hùng dân tộc Hưng đạo Vương Trần quốc Tuấn. Chính v́ thế nên dù cho đế quốc Mông Cổ có hùng mạnh đến đâu, quân đội của chúng có đông đảo, thiện chiến, tinh nhuệ tới mức nào đi nữa, khi bước đến Việt Nam cũng không thể tránh được sự thảm bại.

Sau 2 cuộc đại thắng này, nhà Trần hưởng cảnh thanh b́nh, thịnh vượng được hơn 40 năm (1288-1233), tức là từ những năm c̣n lại của Vận 8 (16 năm) qua hết Vận 9 vào đến giữa Vận 1. Duy chỉ có việc vua Trần gả công chúa Huyền Trân cho vua nước Chiêm, nhưng sau đó lại bắt về làm nảy sinh ra sự hiềm khích giữa 2 nước. Năm 1307, đầu Vận 9, Chiêm Thành đem quân sang quấy rối nước ta, nhưng bị nhà Trần đánh cho đại bại, Chiêm Vương Chế Chí bị bắt đem về giam ở Hà Nội.

Năm 1334, vào giữa Vận 1, giặc Lào bắt đầu kéo sang phá phách. Mặc dù bị đánh bại, nhưng sau đó chúng vẫn tiếp tục trở lại cướp phá thường xuyên, khiến cho vua tôi nhà Trần phải vất vả lo toan đánh dẹp và pḥng thủ biên giới.

Kể từ đời vua Trần dụ Tông (lên ngôi năm 1341 tức cuối Vận 1) th́ nhà Trần bắt đầu suy yếu, v́ nhà vua chỉ biết vui chơi, giữa lúc nhân dân đói khổ, lầm than. Năm 1353, thuộc Vận 2, thấy nước Chiêm có nội chiến, vua Dụ Tông bèn đem quân sang can thiệp nhưng bị quân Chiêm đánh bại.

Năm 1367, đầu Vận 3, nhà Trần lại cử đại quân vào đánh Chiêm Thành, nhưng cũng bị đại bại như lần trước, chủ tướng của quân ta bị quân địch bắt sống.

Năm 1377, cũng trong Vận 3, vua Trần duệ Tông và Hồ quư Ly huy động 12 vạn quân thủy-bộ vào đánh Chiêm Thành. Nhưng khi tiến tới Đồ Bàn th́ bị vua Chiêm là Chế bồng Nga đánh tan, vua Trần bị tử trận, c̣n Hồ quư Ly phải tháo chạy trở về. Thắng trận này, Chế bồng Nga liên tiếp 3 lần đem quân ra đánh chiếm Thăng Long, cướp phá kinh thành rồi trở về.

Năm 1389, đầu Vận 4, trong lúc Chế bồng Nga đang đem quân sang đánh nước ta lần thứ 4 th́ có nhà sư tên Phạm sư Ôn lại nổi loạn, khiến triều đ́nh nhà Trần vô cùng bối rối. May nhờ Chế bồng Nga bị trúng đạn tử trận, quân Chiêm mới lui binh, rồi loạn Phạm sư Ôn cũng được dẹp yên. Nhưng đến lúc này, nhà Trần đă quá suy yếu, quyền hành lọt hết vào tay Hồ quư Ly. Họ Hồ mỗi ngày một tạo dựng thêm vây cánh khắp triêù đ́nh, để rồi đến năm 1400 (cuối Vận 4) th́ diệt nhà Trần, lên ngôi và lập ra nhà Hồ.

Xét về những cuộc thất bại của nhà Trần dưới tay quân Chiêm đều xảy ra vào khoảng từ giữa Vận 2 đến đầu Vận 4, là những giai đoạn mà vận khí của Hà Nội rất suy yếu. Bởi thế nên mặc dù nước ta rộng lớn hơn, tiềm lực về kinh tế lẫn quân sự đều hùng hậu hơn Chiêm quốc, vậy mà vẫn bị họ đánh cho khốn đốn, khiến vua, tôi nhà Trần nhiều phen phải bỏ cả kinh đô mà chạy. Đúng ra trong những giai đoạn đó, nhà Trần chỉ nên án binh bất động, không nên tranh hùng với địch quốc, v́ một khi vận khí của kinh đô đă quá suy yếu th́ không thể chiến thắng được ai. Ngay cả đến việc diệt trừ nội loạn như cuối đời nhà Lư (cũng trong các Vận 3,4) mà c̣n chưa làm nổi th́ làm sao có thể chiến thắng được các quốc gia thù địch ở bên ngoài. Tuy nhiên, trong các Vận 3 và 4, sát khí của biển Đông quá mạnh, nên dù nhà Trần có ḥa hoăn với các nước lân cận th́ cũng bị những cuộc nổi loạn trong nước làm cho điêu đứng để rồi đi đến chỗ bị tiêu diệt

Khi Hồ quư Ly lên ngôi, việc đầu tiên của ông là cho dời thủ đô về Tây Đô ở Thanh Hóa, rồi cho tiến hành nhiều cải cách táo bạo về chính trị, kinh tế, văn hóa-xă hội và quân sự. Nhưng vào năm 1407, đầu Vận 5, khi nhà Minh mượn tiếng "phù Trần diệt Hồ" đem quân sang xâm lăng nước ta th́ nhà Hồ bị tan ră và sụp đổ nhanh chóng. Một lần nữa, dân tộc ta lại nằm dưới ách cai trị của người Tàu.

Nếu xét về phương diện Phong thủy và vận khí th́ sự sụp đổ của nhà Hồ là do 2 nguyên nhân chính. Thứ nhất là khi Hồ quư Ly cướp ngôi nhà Trần, vận khí của thủ đô Thăng Long đang ở trong giai đoạn tàn tạ, suy yếu đến tột độ (Vận 4). Nên dù ông có cố công canh tân, cải cách thế nào đi nữa, nước ta yếu vẫn hoàn yếu, mà ḷng người dân lại càng không phục, bất măn. Thứ hai là việc ông lập Tây Đô (thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa bây giờ) làm thủ đô mới của nước ta. Đây là một vùng đất chật hẹp, lại bị long mạch của dăy Hoàng liên Sơn tiến tới đâm sát vào. Đối với Phong thủy, địa thế như vậy không được coi là có Long (núi) chầu phục, mà chính là thế bị Long tiến tới bức bách, áp chế, khiến cho vượng khí bị thất tán, c̣n sát khí th́ tràn ngập cả kinh đô. Bởi thế nên ngay từ khi lên ngôi, Hồ quư Ly đă gặp phải những áp lực nặng nề từ trong và ngoài nước, để rồi đến khi quân Minh sang đánh nước ta th́ nhà Hồ liền bị sụp đổ nhanh chóng. Mặt khác, vào lúc đó, vận khí của Bắc Kinh đang ở trong giai đoạn cực kỳ hưng vượng (thành Bắc Kinh chủ phát vào các Vận 5, 6, và 7). Do đó, nếu đem vận khí của Tây Đô đối chọi với vận khí của Bắc Kinh lúc đó th́ làm sao nhà Hồ không lănh lấy cái hậu quả diệt vong, mất nước được. Nếu như Hồ quư Ly không dời đô, th́ tuy ông sẽ gặp nhiều khó khăn trong những năm đầu, nhưng khi bước vào Vận 5 (1404) vượng khí sẽ trở lại với Thăng Long. Lúc đó, sức mạnh và tinh thần quật khởi của dân tộc lại trào dâng mạnh mẽ th́ thử hỏi nhà Minh làm sao có thể đánh chiếm và đô hộ nước ta ngót 20 năm được?

Nhưng cũng may dân tộc ta, khi quân Minh thiết lập nền đô hộ, chúng lại lấy Thăng Long (lúc đó đă đổi tên là Đông Đô) làm trung tâm điều hành việc cai trị, trực tiếp nhận lệnh điều khiển từ Bắc Kinh. Nhưng chúng không biết rằng trong các Vận 5, 6, 8, nếu là một trung tâm quyền lực chính trị th́ Thăng Long sẽ không bao giờ là chư hầu của bất cứ một thành phố nào trên thế giới. Do đó, những phong trào kháng chiến bùng nổ khắp nơi, cho đến khi Lê Lợi tụ tập được anh hùng hào kiệt, phất cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn th́ nền độ hộ của quân Minh đă bước vào thời kỳ tàn cuộc. Vào năm 1426, đầu Vận 6, nhà Minh sai Vương Thông đem 5 vạn quân sang nước ta để đối phó với phong trào kháng chiến của Lê Lợi, nhưng đạo quân này bị ta đánh tan ở Tuy Động. Năm sau, cũng trong Vận 6, nhà Minh lại phái Liễu Thăng và Mộc Thạnh đem 15 vạn quân sang nước ta ḥng cứu văn t́nh thế. Nhưng khi 10 vạn quân của Liễu Thăng bị quân ta tiêu diệt hoàn toàn trong các trận đánh Chi Lăng, Tốt Động-Chúc Động, nhà Minh không c̣n cách ǵ khác hơn là rút hết quân về nước và thừa nhận nền độc lập của dân tộc ta.

Đánh đuổi được quân Minh ra khỏi bờ cơi, Lê Lợi liền lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu là Thái Tổ và lập ra nhà Lê, nhưng Ngài chỉ ở ngôi được 6 năm (1428 - 1433) th́ qua đời. Con Ngài lên thay lấy hiệu là Thái Tông (1434 - 1442). Dưới thời vua Thái Tổ và Thái Tông, có nhiều vụ giết hại những công thần danh tiếng như Trần nguyên Hăn, Phạm văn Xảo, Lê Sát, Nguyễn Trăi... xảy ra. Đó chẳng qua là v́ trong suốt Vận 6, nước ta thường bị đe dọa bởi những cuộc chiến tranh lớn hay những vụ khủng hoảng chính trị trầm trọng. Nhưng sau những trận đại thắng quân Minh trước đây, không c̣n một nước nào trong khu vực dám xâm phạm bờ cơi nước ta nữa. Do đó mới xảy ra những vụ giết hại công thần rất đẫm máu vừa kể trên.

Sau thời vua Lê thái Tông, nước ta tương đối được ổn định trong suốt 16 năm. Đến năm 1459, trong Vận 7 Hạ Nguyên, hoàng thân Nghi Dân đem quân về giết vua đoạt lấy ngai vàng, nhưng chỉ không đầy 1 năm sau th́ lại bị các quan đại thần phế đi, rồi lập em là Gia Vương Tư Thành lên ngôi, lấy hiệu là Lê thánh Tông.

Dưới thời vua Lê thánh Tông (1460 - 1497, tức là từ cuối Vận 7 qua hết Vận 8 cho tới gần cuối Vận 9), nước ta trở thành một cường quốc hùng mạnh bậc nhất trong vùng Đông Nam Á. Ở trong nước, nhà vua cho tiến hành nhiều cải cách: từ chính trị, kinh tế đến luật lệ, thuế khóa.... khiến đời sống người dân được yên ổn, sung túc. Ở ngoại biên, vua Lê thánh Tông huy động những cuộc viễn chinh có quy mô rất lớn: năm 1470, Ngài đem 26 vạn quân đi đánh và chiếm đất Chiêm Thành. Năm 1479, Ngài đem 18 vạn quân sang dẹp yên xứ Lăo Qua; sang năm sau, lại đem 30 vạn quân xuống diệt xứ Bồn Mang. Thấy nước ta khống chế các nước lân bang nơi phía Nam, Minh triều tỏ ư bực tức nhưng chẳng làm ǵ được. Bởi v́ trong Vận 8, nguyên khí của thành Bắc Kinh đă đến thời kỳ suy yếu, không thể nào đối chọi nổi với cái hùng khí của Thăng Long thủa ấy.

Sau khi vua Lê thánh Tông băng hà, dân tộc ta vẫn tiếp tục sống trong cảnh thái b́nh thịnh trị dưới thời vua Lê hiến Tông (1497 - 1504, tức là từ những năm cuối của Vận 9 sang đến đầu Vận 1). Nhưng kể từ đó trở đi, nhà Lê bắt đầu suy yếu với những ông vua xa xỉ, độc ác như Lê uy Mục (1505 - 1509), Lê tương Dực (1510 - 1516) , khiến cho trăm họ đói khổ, giặc giă nổi lên như ong. Lợi dụng t́nh thế rối ren đó, một vơ tướng có tài là Mạc đăng Dung bắt đầu gây dựng thế lực: diệt trừ những cuộc nổi loạn và những phe cánh đối lập. Khi đă thâu tóm trọn quyền bính trong tay, Mạc đăng Dung liền cho người giết vua Lê cung Hoàng rồi tự xưng làm hoàng đế và lập ra nhà Mạc vào năm 1527, lúc đó đang là đầu Vận 2 Thượng Nguyên. Nhưng chẳng được bao lâu sau th́ con cháu nhà Lê, được sự pḥ tá của 2 họ Trịnh -Nguyễn, lại bắt đầu nổi lên ở Nghệ-an để tạo thành thế Nam - Bắc triều. Trong suốt thời gian từ năm 1540 cho đến năm 1583, tức là từ cuối Vận 2 cho đến hết Vận 4, cả 2 bên đều mở rất nhiều cuộc tấn công quyết liệt, nhưng không bên nào dành được thắng lợi trọn vẹn. Phải đến năm 1591 (trong khoảng đầu Vận 5), Trịnh Tùng kéo đại quân ra Bắc, chiếm được thành Thăng Long, nhưng lại cho san thành b́nh địa rồi rút về. Sang năm sau, Trịnh Tùng lại đem quân ra Bắc lần nữa mới thực sự diệt được nhà Mạc và b́nh định được đất Bắc.
Nếu xét tới sự thất bại của nhà Mạc th́ lư do không ngoài việc Mạc đăng Dung đă vội vă cướp ngôi nhà Lê quá sớm. Thật vậy, lúc đó đang là đầu Vận 2, nguyên khí nước ta đang dần dần bị suy thoái, nên dù ông có cố công gắng sức trong việc cai trị, t́nh thế mỗi lúc một trở nên đen tối. Trong các Vận 3, 4, nhà Mạc mỗi lúc một tàn tạ, suy nhược, nên khi bước vào Vận 5 th́ bị tiêu diệt. Bởi v́ lúc đó vượng khí đă bắt đầu trở về với Thăng Long, nên những chế độ mục nát, suy tàn sẽ bị quét sạch để nhường bước cho những thế lực chính trị mớí, có đầy đủ khả năng và nghị lực để đối phó với t́nh thế. Tuy nhiên, khi Trịnh Tùng chiếm được Thăng Long, lại cho quân phá tan thành b́nh địa, khiến cho vượng khí bị thất tán, làm suy giảm rất nhiều thần lực của kinh đô. Bởi thế nên sau này, họ Trịnh chẳng những phải hao tổn rất nhiều thời gian và công sức mới trừ hết được những dư đảng của nhà Mạc, mà c̣n không khuất phục được họ Nguyễn ở phương Nam. Ngay cả trong các Vận 8 (1644 - 1663) và Vận 9 (1664 - 1683) là những giai đoạn tốt đẹp nhất của Thăng Long, họ Trịnh vẫn không thống nhất được đất nước, khiến cho t́nh trạng Nam - Bắc phân tranh kéo dài ngót 100 năm.

Giữa lúc 2 phe Trịnh - Mạc đang giao tranh quyết liệt ở ngoài Bắc, họ Nguyễn liền lợi dụng cơ hội đem quân vào Nam gây dựng thế lực ở Thuận Hóa (tức khu vực từ Quảng B́nh vào tới Quảng Nam bây giờ). Đến khi nhà Mạc bị diệt th́ họ Nguyễn đă bắt đầu đủ mạnh để đối phó với họ Trịnh. Lúc này, vua Lê chỉ c̣n là bù nh́n, mọi quyền hành đều lọt vào trong tay chúa Trịnh (ở ngoài Bắc) và chúa Nguyễn (ở trong Nam). Rồi trong suốt thời gian từ năm 1627 đến năm 1672 (tức là từ đầu Vận 7 cho đến giữa Vận 9), hai bên 7 lần đại chiến tại khu vực Hà tĩnh -Quảng b́nh. Nhưng v́ không bên nào dành được thắng lợi quyết định, nên đành lấy sông Gianh làm ranh giới chia đôi đất nước.

Tuy nhiên, mặc dù không thống nhất được đất nước, nhưng trong thời gian đầu, các chúa Trịnh đều là những nhà lănh đạo có tài, biết chăm lo việc nước nên đời sống của người dân cũng được yên lành, sung túc. Chỉ đến đời chúa Trịnh Giang (1729 - 1740 tức là bắt đầu từ Vận 3 trở đi) th́ nền cai trị của nhà Trịnh đă bắt đầu lung lay. Dưới chế độ thuế khóa, phu dịch quá nặng nề của triều đ́nh, người dân vô cùng đói khổ, lầm than, dẫn đến nhiều cuộc nổi loạn liên tiếp trong suốt 30 năm (1739 - 1769), khiến cho triều đ́nh phải đánh dẹp vô cùng vất vả. Đến đời chúa Trịnh Sâm (1767 - 1782 tức là trong Vận 5), do cũng có năng lực, lại được những đại thần có tài như Bùi thế Đạt, Hoàng ngũ Phúc, Lê quư Đôn .... pḥ tá nên chẳng những dẹp yên được các cuộc nổi loạn, mà c̣n bắt đầu bành trướng thế lực của họ Trịnh xuống phương Nam. Nhưng khi ông qua đời, con là Trịnh Khải lên thay lại tỏ ra bất tài, hèn yếu, không làm chủ được t́nh thế, để cho kiêu binh lộng hành, khiến cho miền Bắc trở nên rối loạn. Giữa lúc đó, nước Trung Hoa ngày càng hùng mạnh dưới sự lănh đạo của vua Càn Long, lại đang chủ trương xâm chiến các nước láng giềng để mở rộng cương vực. Trước mối đe dọa nghiêm trọng đó, nhà Trịnh bắt buộc phải cáo chung để mở lối cho sự xuất hiện của một vị đại anh hùng dân tộc mới: hoàng đế Quang- Trung Nguyễn Huệ.

C̣n về phần các chúa Nguyễn ở trong Nam th́ mặc dù hùng cứ một phương, nhưng trên danh nghĩa vẫn là tôi thần của vua Lê, không lập nước hoặc kinh đô riêng nên vẫn phụ thuộc vào vận khí của Thăng Long. Do đó, trong những giai đoạn đầu, các chúa Nguyễn cũng rất tài giỏi, biết cách an dân, trị nước, đồng thời tiếp tục mở rộng lănh thổ nước ta cho đến tận Hà Tiên. Sau này, dưới thời các chúa Nguyễn phúc Trú (1725 - 1738) và Nguyễn phúc Khoát (1738 - 1765) tức là trong các Vận 3 và 4, triều đ́nh trong Nam đă bắt đầu suy yếu, những cuộc Nam tiến hầu như đă bị đ́nh trệ hẳn. Kể từ năm 1765 tức là đầu Vận 5, triều đ́nh của chúa Nguyễn lại càng thối tha, mục nát v́ sự lộng hành của quyền thần Trương phúc Loan, khiến cho muôn dân lầm than, đói khổ. Trước t́nh h́nh đó, 3 anh, em nhà Tây Sơn là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ liền đứng lên phát động cuộc khởi nghĩa vào năm 1772, lúc đó đang là giữa Vận 5 Trung Nguyên.

Chỉ trong một thời gian ngắn, anh, em nhà Tây Sơn đă chiếm đươc trọn vẹn đất đai của chúa Nguyễn, nên vào năm 1778, Nguyễn Nhạc tự xưng làm hoàng đế, đóng đô ở Quy Nhơn (thành Đồ Bàn cũ) và lập ra nhà Tây Sơn.

Nhưng ở đất Gia Định, khi anh, em Tây Sơn vừa rút đi 1 tôn thất nhà Nguyễn là Nguyễn Ánh lại trở về mộ binh chống lại. Trong 2 năm 1782, 1783, Nguyễn Ánh bị Nguyễn Huệ đánh bại liên tiếp nên phải chạy sang Thái Lan cầu cứu. Năm 1784, đầu Vận 6, Thái Lan đem 2 vạn quân và 300 chiến thuyền sang chiếm nước ta, nhưng vừa tiến tới Mỹ Tho th́ bị Nguyễn Huệ đánh tan tành trên sông Rạch Gầm - Xoài Mút, khiến cho Nguyễn Ánh và đám tàn quân Xiêm phải tháo chạy về Băng Cốc.

B́nh định được trong Nam, Nguyễn Huệ liền nghĩ đến chuyện Bắc phạt. Vào giữa năm 1786, ông đem quân ra đánh Thuận Hóa, rồi tiến về Thăng Long như vũ băo. Chỉ trong 1 tháng ông đă chiếm được kinh đô của đất Bắc, diệt chúa Trịnh, trao trả quyền hành cho vua Lê rồi trở về Nam. Nhưng vua Lê bất tài, không điều hành nổi chính sự, nên lộng thần lại nổi lên, tác oai tác quái, khiến cho Nguyễn Huệ phải ra Bắc lần nữa để diệt trừ những phần tử sâu dân, mọt nước, thiết lập chính quyền mới rồi lại trở về Nam.

Trong khi đó, v́ bị loại ra khỏi nền chính sự Việt Nam, vua Lê uất hận bèn chạy sang Tàu cầu cứu nhà Thanh. Được lời như cởi tấc ḷng, vào cuối năm 1788, cũng đang trong Vận 6, vua Càn Long liền sai Tôn sĩ Nghị đem 20 vạn quân sang chiếm nước ta. Nhưng khi chúng vừa dừng lại để ăn Tết th́ từ Phú Xuân, Nguyễn Huệ lập tức lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu là Quang Trung rồi kéo 10 vạn binh ra Bắc. Bằng một chiến dịch tốc chiến tốc thắng có một không hai trong lịch sử dân tộc Việt Nam và có lẽ của cả thế giới, chỉ trong ṿng 5 ngày, vua Quang Trung đă đập tan một lực lượng quân sự tinh nhuệ và đông đảo hơn ḿnh gấp bội, với những chiến thắng Hà Hồi, Ngọc Hồi, Đống Đa. Những đại tướng Thanh như Hứa thế Hanh, Thượng duy Thăng, Sầm nghi Đống phải bỏ mạng, c̣n Tôn sĩ Nghị một ḿnh một ngựa hối hả vượt qua ải Nam Quan trốn về Tàu.

Tiếc thay, sau chiến thắng oanh liệt này, vua Quang Trung lại không đóng đô ở Thăng Long đề duy tŕ và mở mang sự nghiệp (v́ lúc đó đang trong Vận 6, nên vượng khí ở Thăng Long đang trào dâng vô cùng mănh liệt). Trái lại, Ngài vẫn tiếp tục dùng Phú Xuân làm kinh đô, mà không biết rằng trong Vận 6, thành phố này sẽ gặp nhiều tai họa (sẽ nói rơ ở phần sau). Bởi thế cho nên sau khi Ngài qua đời (1792), Nguyễn Ánh ở đất Gia Định dần dần khôi phục được lực lượng đem quân ra chiếm Phú Xuân (1801), diệt nhà Tây Sơn (1802), rồi lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu là Gia Long và lập ra nhà Nguyễn. Kể từ đây, Phú Xuân trở thành thủ đô của đất nước, c̣n Thăng Long (sau này đổi là Hà Nội) chỉ c̣n là một thành phố lớn trên đất Bắc mà thôi. Rồi trải qua các đời vua triều Nguyễn, đất nước ta mỗi ngày một suy yếu, dẫn tới cuộc xâm lăng và đô hộ hơn 80 năm của thực dân Pháp. Đến năm 1945 khi vua Bảo Đại thoái vị, *** lên nắm chính quyền, tuyên bố Việt Nam độc lập và thành lập chính phủ ở Hà Nội th́ lúc đó đă bước vào Vận 5 Trung Nguyên.

Năm 1946, Pháp đem quân trở lại Việt Nam, dự định tái lập chế độ thuộc địa trrên đất nước ta lần nữa. Nhưng lúc đó đang trong Vận 5, tinh thần quật khởi của dân tộc ta lại trào dâng mạnh mẽ, nên sau 9 năm chiến tranh khốc liệt, thực dân Pháp bị đại bại ở Điện biên Phủ, buộc ḷng phải rút quân ra khỏi nước ta. Tuy nhiên, vào lúc này, do sự phân rẽ về ư thức hệ giữa 2 khối Tự do và Cộng sản, nước ta bị chia cắt làm 2 miền. Miền Nam theo chế độ Tự do, dưới sự lănh đạo của Ngô đ́nh Diệm, đóng đô tại Sài G̣n; miền Bắc theo chế độ Cộng sản, dưới sự lănh đạo của ***, đóng đô ở Hà Nội. Lúc đó là năm 1954, cũng vẫn trong Vận 5.

Nhưng vào lúc xảy ra sự phân chia đất nước, Sài G̣n đang nằm trong một giai đoạn xấu và một địa thế bất lợi (sẽ nói rơ hơn ở phần sau), nên tuy đời sống của người dân miền Nam được tự do, sung túc hơn miền Bắc, chính phủ miền Nam vẫn gặp phải rất nhiều khó khăn, bị khủng hoảng chính trị và tôn giáo liên tục. Trong khi đó, mặc dù đời sống của người dân miền Bắc rất nghèo đói dưới chế độ độc tài Cộng sản, thế lực chính trị và quân sự của Hà Nội ngày càng đè nặng lên trên chính phủ và nhân dân miền Nam. Bước sang Vận 6 (1964 - 1983), khí thế của Hà Nội lại càng bùng lên mănh liệt. Nên mặc dù Sài G̣n được Hoa Kỳ và đồng minh đem quân trợ chiến, đồng thời cho máy bay oanh kích miền Bắc rất ác liệt trong nhiều năm, nhưng vẫn không đánh bại nổi Hà Nội. Cuối cùng, Hoa kỳ quá chán nản nên đành rút chân ra khỏi Việt Nam, rồi đến năm 1975 (cũng trong Vận 6) th́ Sài G̣n sụp đổ trước cuộc tấn công của quân đội miền Bắc.

Sau cuộc chiến tranh này, khí thế của Hà Nội vẫn c̣n rất mạnh, nên chẳng những khống chế cả 2 nước Lào và Cam Bốt, mà c̣n làm cho mọi quốc gia trong vùng Đông Nam Á khiếp sợ. Khi Cộng sản Cam Bốt muốn liên minh với Trung Cộng để tách rời ra khỏi ṿng kiểm soát của Hà Nội, th́ liền bị Hà Nội đem quân đánh tan chỉ trong ṿng 2 tuần lễ. Thấy chư hầu của ḿnh bị Việt cộng ngang nhiên đè bẹp, Trung Cộng tức giận đem hơn 200, 000 quân sang đánh miền Bắc vào năm 1979 (vẫn trong Vận 6) nhưng bị đẩy lui dễ dàng.

Hiện tại đang là Vận 7 Hạ Nguyên (1984 - 2003), nếu tính theo vận khí của Hà Nội th́ tuy nước ta không phải là quốc gia giàu mạnh nhất trong vùng Đông Nam Á, nhưng cũng không đến nỗi quá nghèo nàn, lạc hậu như bây giờ. Đó là v́ vào những năm đầu của thập niêm 80, Cộng sản Việt Nam cho thiết lập nhiều đập thủy điện lớn trên những con sông Đà, sông Mă. Trong Vận 7, những con sông này đă đem sát khí đến cho Hà Nội, giờ đây lại c̣n có những đập thủy điện hoạt động ngày đêm, khiến cho sát khí càng bốc lên dữ dội. Bởi thế nên trong thời gian gần đây, Hà Nội bị khủng hoảng chính trị liên miên: hết Nguyễn văn Linh tới Đỗ Mười, rồi đến Lê khả Phiêu và bây giờ là Nông đức Mạnh. Nhưng càng thay đổi, giới lănh đạo ở Hà Nội lại càng tỏ ra bất tài, không t́m nổi một hướng đi nhất định cho dân tộc. Giữa lúc đó, tệ nạn tham nhũng lan tràn khắp nơi, trong khi người dân vẫn tiếp tục đói khổ, các giới công, nông, trí thức, thương nhân ... đều cảm thấy tương lai quá mù mịt, xa vời.

Nhưng đối với bộ môn Phong thủy, tương lai lại rất tươi sáng cho dân tộc Việt Nam, bởi v́ chỉ c̣n không đầy 2 năm nữa là đă tới Vận 8 Hạ Nguyên. Đây chính là lúc mà đất nước ta trở nên giàu có và hùng mạnh nhất trong vùng Đông Nam Á. Nếu những người Cộng sản không sớm biết thay đổi, cố công gắng sức chăm lo cho nước giàu dân mạnh. Mà chỉ lo vơ vét, ăn chơi hoang đàng xa xỉ như hiện nay, th́ đến khi vượng khí lại đến với dân tộc, họ cũng sẽ bị quét sạch đi như những triều đại phong kiến trước đây trong buổi suy tàn.

Tóm lại, vận khí của Hà Nội là trung b́nh trong Vận 1, suy vi trong Vận 2, tàn tạ trong các Vận 3, 4, bắt đầu phục hưng trong Vận 5, kiêu dũng trong Vận 6, b́nh thường trong Vận 7, cực thịnh vào Vận 8 và Vận 9. Những Vận 1, 2, 7 thường có những cuộc chiến tranh nhỏ, hoặc những cuộc cướp ngôi, đảo chính; những Vận 3, 4 thường có rất nhiều giặc giă, trong khi giai cấp thống trị th́ vô tài, bất lực. Vận 5 bao giờ cũng có những cuộc chiến tranh tương đối lớn, nếu không có thù trong th́ sẽ có giặc ngoài; c̣n Vận 6 th́ bao giờ cũng là những cuộc chiến quy mô chống lại những cường quốc hùng mạnh bậc nhất thế giới. Trong lịch sử, chỉ có Vận 6 dưới thời chúa Trịnh Tùng (1604 - 1623) là nước ta không bị ngoại xâm trực tiếp. Nhưng dư đảng của nhà Mạc được nhà Minh bên Tàu gián tiếp giúp đỡ, khiến cho chúa Trịnh phải vất vả đánh dẹp suốt từ khi chiếm được Thăng Long (1591) cho đến năm 1625 (tức là qua tới Vận 7) mới trừ được hết. Trong Vận 8 cũng thường có những cuộc chiến tranh lớn (như dưới các thời Trần, Lê, Trịnh). Tuy nhiên, đời sống của người dân dưới thời này vẫn được sung túc hơn so với Vận 6, cũng như thực lực của đất nước cũng được hùng mạnh, dồi dào hơn. Chỉ có Vận 9 là đất nước được thanh b́nh, ít có chiến tranh, giặc giă hơn cả; nhưng về hùng khí cũng như sự phát triển đều không thể bằng Vận 8.

Một điểm nữa về địa thế Phong thủy của Hà Nội là tuy nằm trong thế "núi, sông chầu phục", nhưng v́ nước sông Hồng khi đi ngang qua Hà Nội chảy rất mạnh, chứ không êm đềm, uốn lượn. V́ lư do này nên những nhân vật xuất hiện vào đúng Vận 5 như Trần thủ Độ, ***.... tuy có tài nhưng ........., phải là những anh hùng xuất hiện ở các Vận 6, 8 mới tránh được sát khí của sông Hồng để được nhân ái, hiền từ hơn. Ngoài ra, cũng v́ lư do đó mà đất nước ta từ xưa đến nay không bao giờ được giàu có, dư dả như các cường quốc khác. Gặp lúc thịnh vượng th́ chỉ tương đối sung túc, đến lúc suy vi th́ sơ xác, điêu tàn. Sau này, nếu những nhà lănh đạo đất nước có thể kiến tạo một công tŕnh đào sưả ḍng nước sông Hồng, sao cho nó uốn lượn một vài đoạn trước khi tới cũng như sau khi rời khỏi Hà Nội. Có như thế th́ đất nước ta mới mong có ngày trở nên giàu có như những nước Anh, Pháp, Mỹ được.
2/ HUẾ: trước đây c̣n có tên là Phú Xuân, là thành phố nằm gần như ngay chính giữa nước Việt Nam, trong địa phận tỉnh Thừa Thiên (hay B́nh-Trị-Thiên). Chính do vị trí chiến lược này nên mặc dù chỉ là một thành phố nhỏ, đất đai chung quanh cũng rất chật hẹp, Huế vẫn được chọn làm kinh đô của nước ta dưới thời nhà Tây Sơn (Nguyễn Huệ) cũng như nhà Nguyễn sau này. Nhưng v́ nằm trong 1 vùng đất nhỏ hẹp, nên Huế cũng có đầy đủ núi, sông bao bọc. Xa xa nơi phía Tây Bắc, dăy Trường Sơn xuất phát từ miền thượng du Bắc Việt chạy xuống, nhưng không hướng về Huế mà chỉ đi qua khu vực phía Tây của thành phố rồi tiếp tục đi thẳng về phía Nam. Chỉ có những nhánh núi nhỏ tách ra từ đại long mạch của dăy Trường Sơn là tiến tới hướng về Huế mà thôi. V́ Huế chỉ được những nhánh núi nhỏ chầu phục (hướng tới), nên cũng chỉ có những con sông nhỏ, ngắn chạy tới để hộ vệ. Đó chính là sông Hương bắt nguồn từ những ḍng sông ở phía Nam (Quảng Nam) và Tây Nam (Lào) chảy ra rồi hợp lại. Nhưng khi tới gần Huế, sông Hương lại không chảy thẳng mà đột nhiên ṿng lại, như muốn ôm lấy khu vực phía Nam và phía Đông của thành phố này. Rồi c̣n ngoái đầu nh́n lại trước khi đổ ra biển nơi cửa Thuận An., thật là một cảnh sông nước hữu t́nh, chẳng trách nào con người Huế lại tao nhă, giỏi văn chương, thi phú. Không những thế, ở các phía Bắc, Đông và Đông Nam lại c̣n có Thủy của biển Đông và Thái b́nh Dương bao bọc, tưởng sẽ đem đến cho Huế sự sung túc và phồn vinh vô hạn. Có lẽ cũng v́ những lư do vừa kể trên mà các vua, chúa nhà Nguyễn mới chọn Huế làm đế đô (chứ không phải như vua Quang Trung chỉ thuần mục đích quân sự là muốn vào Nam, ra Bắc dễ dàng để dẹp loạn). Rồi họ c̣n cho đào sông Đông Ba ở phía Bắc để tạo nên thế chân long cho kinh thành Huế, lấy con sông này và đoạn sông Hương ở phía Nam làm Thanh Long, Bạch Hổ, những vùng phụ cận làm hộ sa.... để tạo thêm uy thế cho đế đô.

Tuy nhiên, khi dựa vào những điểm tốt đẹp vừa kể trên để chọn Huế làm đất đóng đô, các vua, chúa nhà Nguyễn đă quên mất một yếu tố quan trọng và cơ bản của Phong thủy. Đó là độ dài, ngắn của những dăy núi (hay c̣n gọi là long mạch) đứng bao phủ, chầu phục chung quanh khu vực này. Lưu-kim-Tinh, một danh sư Phong thủy Trung Hoa viết: " nơi sở tại của can long (tức những nơi có núi, sông tới chầu phục) cần phân rơ xa và gần. Can long xa ngàn dậm là đại đô thị (tức kinh đô lớn của những cường quốc); xa hai, ba trăm dậm là châu phủ; xa trăm dậm chỉ có thể là huyện thành, c̣n gần nữa là các trấn". Mà nh́n lên bản đồ, ta thấy những dăy núi hướng về Huế chỉ là những nhánh nhỏ của mạch Trường Sơn, dài chừng 2, 3 chục cây số (tức khoảng trăm dậm). Rồi đến sông Hương tuy được cái thế uốn lượn hữu t́nh, nhưng từ chỗ phát nguồn cho đến khi đổ ra biển cũng chỉ dài chừng 5, 6 chục cây số. Với thế núi sông quá ngắn ngủi như vậy, chẳng trách ǵ mỗi khi một triều đại lập đế đô ở đây, th́ chẳng bao lâu cũng bị diệt vong (như thời chúa Nguyễn, Tây Sơn) hoặc trở thành chư hầu của ngoại bang (như nhà Nguyễn). Đó chỉ v́ cái thế núi sông "xa trăm dậm chỉ có thể là huyện thành " của Huế tạo ra mà thôi, v́ nếu núi, sông quá ngắn th́ không sao tạo ra đủ vượng khí cho một thành phố phát triển lên hùng mạnh được.

Một yếu tố quan trọng khác là vấn đề dựa vào đại thủy (nước biển) mênh mông ở ba mặt Bắc, Đông và Đông Nam để đem lại sự sung túc, phồn thịnh cho kinh thành Huế, và qua đó cho cả dân tộc. Nhưng thật ra, muốn được hưởng đại thủy khí th́ điều kiện cần thiết là bờ biển phải có h́nh dạng uốn cong vào (là thế nước muốn lấn vô đất liền), có như vậy khi gặp vận khí tốt th́ đất nước mới mong giàu, mạnh lên được. Đàng này vùng bờ biển Huế (và của cả miền Trung, suốt từ Nghệ An vào tới Phan Rang nói chung) lại có h́nh dạng uốn cong ra. Đó là thế đất liền muốn tiến ra biển, nên đại thủy khí không thể vào được để đem lại sự phồn thịnh, có chăng chỉ là những cơ hội bị bỏ lỡ (v́ nằm ngay sát đại thủy mà lại không nhận được thủy khí).

Tuy nhiên, mặc dù không đón nhận được vượng khí từ biển Đông đưa vào, nhưng Huế vẫn bị ảnh hưởng của đại thủy về phương diện thời vận. Do đó, các Vận 1, 3, 4 đều là những bại Vận v́ ở các phía Bắc, Đông và Đông-nam đều có đại thủy tức là bị " Phục Ngâm" rất nặng. V́ thế nên trong những Vận này đất nước ta thường có chiến tranh, loạn lạc, giữa lúc triều đ́nh th́ bất tài, nhu nhược, không đối phó nổi với t́nh thế. Trong Vận 2 th́ thường có anh hùng xuất hiện, v́ nơi phía Tây Nam của Huế có những nhánh núi của dăy Trường Sơn hướng tới, nên sẽ đem vượng khí đến cho thành phố. Rất tiếc rằng những nhánh núi đó lại quá ngắn, nguồn vượng khí quá ít khiến cho những vị anh hùng này tuy có chí khí nhưng không đủ tài, sức để làm nổi chuyện lớn. Vào Vận 5 Huế sẽ gặp nhiều biến động, v́ vượng khí của thành phố (do sông Hương và những nhánh núi nhỏ tạo ra) đă bị dăy Trường Sơn hút hết về phía Nam, khiến cho thần lực của Huế bị suy kiệt hẳn. Sang Vận 6 Huế sẽ bị những tai họa thảm khốc, v́ đại long mạch Trường Sơn từ phía Tây Bắc tiến xuống, nhưng không hướng tới Huế mà lại ngoảnh đầu, vươn ḿnh về phía Nam. Đây chính là thế đất bị rồng bỏ, mà Vận 6 là chính Vận nên tai họa sẽ giáng xuống không ngừng. Đến Vận 7 mới là thời kỳ an b́nh, hưng vượng của Huế, v́ những nhánh núi phía Tây và sông Hương ở phía Đông đều là những nguồn phát sinh ra vượng khí. Trong Vận này Huế cũng có nhân tài xuất hiện, nhưng chỉ v́ thế núi sông quá ngắn, vượng khí không đủ nên họ chẳng làm được ǵ đáng gọi là phi thường, nổi bật cả (tương tự như Vận 2). Bước sang Vận 8, cửa khẩu Thuận-an và vùng biển phía Đông Bắc là sát khí (bị Phục Ngâm) nên sẽ tạo ra những cơn biến loạn. Rồi sang Vận 9 cũng không tốt đẹp ǵ, v́ vận khí của Huế dựa rất nhiều vào sông Hương, mà con sông này lại xuất phát từ phía Nam đổ ra tức là lại bị "Phục Ngâm" nên chiến tranh, loạn lạc vẫn tiếp tục xảy ra.

Nếu nh́n vào lịch sử của cố đô Huế th́ ta thấy thành phố này bắt đầu được xây lên vào năm 1687. Nhưng phải đến đời chúa Nguyễn phúc Khoát (1738 - 1765) mới dám tự tiếm Vương hiệu (Vũ Vương), đồng thời chính thức đặt Huế làm thủ đô của giang sơn nhà Nguyễn (1744). Dưới thời Vũ vương, v́ kinh đô mới được thiết lập, vận khí của Huế chưa phải đă có ảnh hưởng ngay tới cục diện, nên t́nh h́nh vẫn c̣n tương đối ổn định, nhưng những mần mống rối loạn đă bắt đầu xuất hiện. Khi Vũ vương qua đời (1765 tức là mới bắt đầu vào Vận 5), con c̣n nhỏ lên nối ngôi bị quyền thần Trương phúc Loan thao túng, làm lắm điều tham tàn, bạo ngược, khiến cho dân chúng Nam hà vô cùng lầm than, uất hận.

Năm 1772, đang trong Vận 5, anh, em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ khởi nghĩa ở Tây Sơn, chiếm được Quy Nhơn và một số tỉnh miền Trung. Thừa dịp đó, chúa Trịnh liền phái đại quân vào Nam đánh chiếm lại vùng Thuận Hóa và kinh thành Phú Xuân (1775), khiến cho chúa Nguyễn phải chạy vào đất Gia Định, nhưng chỉ 2 năm sau (1777) th́ bị Nguyễn Lữ bắt được giết đi. Thế là kinh đô Phú Xuân chưa lập được bao lâu, một triều đại đă bị sụp đổ nhanh chóng.

Trong thời gian chiếm được Phú Xuân (1775 - 1786, tức là từ giữa Vận 5 sang đến đầu Vận 6), chúa Trịnh để Phạm ngô Cầu là một viên tướng vừa bất tài, vừa tham lam, hèn nhát trấn thủ vùng này. Đến khi Nguyễn Huệ đem quân ra Thuận Hóa đánh Trịnh (1786), bắt được Phạm ngô Cầu liền ra lệnh cho quân sĩ giết đi.

Đánh bại được chúa Trịnh, Nguyễn Huệ lại trở về Phú Xuân, cho thiết lập đại bản doanh ở đây, nhưng trên danh nghĩa vẫn là tôi thần của nhà Lê với chức Nguyên soái Uy Quốc công. Lúc này, v́ giữa Nguyễn Huệ và Nguyễn Nhạc có sự bất ḥa, nên Nguyễn Huệ không c̣n phụ thuộc vào triều đ́nh Tây Sơn ở Đồ Bàn nữa, mặc dù vẫn giữa tước hiệu Bắc b́nh Vương do Nguyễn Nhạc phong cho. Đến khi miền Bắc có loạn, vua Lê chạy sang Tàu cầu cứu, Nguyễn Huệ mới lên ngôi hoàng đế, rồi tiến ra Bắc đánh bại quân Thanh (1788). Nhưng sau đó, Ngài lại quay về đóng đô ở Phú Xuân, rồi cho tiến hành nhiều cải cách táo bạo để kiến thiết đất nước, đồng thời chuẩn bị một lực lượng quân sự hùng mạnh cho việc chinh phạt nhà Thanh. Nhưng lúc đó đang trong Vận 6, là giai đoạn vận khí đen tối nhất của thành phố Huế, cho nên chỉ làm vua chưa đầy 4 năm, vua Quang Trung bỗng đột nhiên qua đời (1792). Những hoài băo lớn lao cùng những công tŕnh cải cách vĩ đại của Ngài do đó đều sụp đổ. Con của Ngài là Quang Toản lên nối ngôi c̣n quá nhỏ tuổi, các đại thần xâu xé lẫn nhau khiến cho nhà Tây Sơn bị suy tàn nhanh chóng. Giữa lúc đó, Nguyễn Ánh đă củng cố được thế lực ở Gia Định, rồi bắt đầu đen quân ra đánh chiếm dần các miền duyên hải Trung phần. Vào năm 1801, tức cuối Vận 6, thành Phú Xuân bị thất thủ, khiến cho vua tôi nhà Tây Sơn phải bỏ chạy ra Bắc, nhưng đến năm sau đều bị bắt đem về hành h́nh một cách vô cùng dă man, tàn bạo ngay giữa kinh thành Huế.

Diệt được nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lấy hiệu là Gia Long và lập ra nhà Nguyễn (1802), lúc đó đang là giai đoạn chót của Vận 6, chuẩn bị bước sang Vận 7 Hạ Nguyên. Do đó, dưới thời vua Gia Long (1802 - 1819), đất nước ta được yên ổn, thái b́nh. Tuy nhiên, mặc dù cũng là một nhà lănh đạo có tài (qua bao năm đấu tranh chống lại nhà Tây Sơn), nhưng trong suốt thời gian cai trị, vua Gia Long lại tỏ ra thiển cận và hủ lậu, nên sự nghiệp không có ǵ đáng kể tới. Sang đến thời vua Minh Mạng (1820 - 1840), nước ta đă bắt đầu bước vào thời kỳ suy yếu, với những cuộc nổi loạn xảy ra ở khắp nơi.

Năm 1826, trong Vận 8 Hạ Nguyên, Phan bá Vành làm loạn ở Nam Định, rồi đến năm sau, Lê duy Lương nổi lên ở Ninh B́nh, khiến triều đ́nh phải đánh dẹp vất vả suốt mấy năm trời mới xong. Đến năm 1833, cũng trong Vận 8, lại có vụ loạn Nồng văn Vân ở vùng biên giới Việt-Hoa, và Lê văn Khôi ở trong vùng Gia Định làm cho triều đ́nh phải khốn đốn. Sau đó nhà Nguyễn c̣n phải đối phó với sự quấy phá của quân Xiêm, rồi những cuộc bắt giết đạo Thiên Chúa lại xảy ra, khiến cho cảnh máu chảy, đầu rơi không lúc nào ngừng được.

Đến đời vua Thiệu Trị (1841 - 1847, tức là từ cuối Vận 8 qua đầu Vận 9), những cuộc giết hại giáo sĩ và giáo dân Thiên Chúa giáo càng diễn ra khốc liệt hơn trước. Trong khi đó, người Chân Lạp (tức Cam Bốt) nổi lên chống lại nền đô hộ của nhà Nguyễn (được thiết lập từ thời vua Gia Long), khiến cho triều đ́nh nhà Nguyễn đánh dẹp măi không xong, cuối cùng đành phải chấp nhận nền độc lập của xứ này.

Sang đến đời vua Tự Đức (1847 - 1883 tức là từ giai đoạn đầu Vận 9 cho đến hết Vận 1), t́nh h́nh lại càng trở nên vô cùng đen tối. Ở ngoài Bắc có các vụ giặc Tam Đường (1851), giặc "châu chấu" của Lê duy Cự và Cao bá Quát, giặc Tạ văn Phụng, giặc Cai tổng Vàng (cùng xuất phát vào năm 1861), giặc Ngô Côn (1868), giặc Cờ Đen, Cờ Trắng, Cờ Vàng (1870)....Ở Huế th́ có âm mưu soán nghịch của Hồng Bảo (anh vua Tự Đức, năm 1855), vụ giặc "chầy vôi" (1866).Những cuộc phiến loạn này khiến triều đ́nh nhà Nguyễn không kịp trở tay để đối phó. Giữa lúc đó, vào năm 1858 tức khoảng cuối Vận 9, Pháp đem hải quân vào tấn công thành Đà Nẵng, mở màn cho cuộc chiến tranh xâm lược nước ta. Qua năm sau, quân Pháp quay vào Nam đánh chiếm thành Gia Định, rồi chuyển sang việc b́nh định toàn thể Nam kỳ. Năm 1873, tức trong giữa Vận 1, Pháp tiến ra Bắc đánh hạ được thành Hà Nội nhưng rồi lại rút về Nam v́ đang vướng bận vào cuộc chiến tranh với Đức ở Âu châu. Đến năm 1882, Pháp lại đem quân ra Bắc triệt hạ thành Hà Nội lần thứ hai, rồi chia quân ra đánh chiếm khắp nơi, khiến cho triều đ́nh nhà Nguyễn không sao đối phó nổi. Cũng trong giai đoạn đó, nhà Nguyễn đă kư kết với Pháp những ḥa ước nhục nhă: từ việc nhường 3 tỉnh miền Đông (tức khu vực từ B́nh Thuận vào đến Long-an), sau đó là hết cả miền Nam cho Pháp. Rồi đến việc phân chia đất nước ra thành 3 miền riêng biệt, và cuối cùng là chấp nhận sự đô hộ của Pháp. Vào năm 1883, tức năm cuối cùng của Vận 1, khi vua Tự Đức băng hà, nước ta đă mất hẳn nền độc lập, chính thức trở thành nô lệ của ngoại bang.

Sau khi vua Tự Đức qua đời, triều đ́nh nhà Nguyễn lại càng rối loạn v́ những cuộc phế lập, nên phải đến giữa năm 1884, tức vào đầu Vận 2 Thượng Nguyên, vua Hàm Nghi mới lên ngôi. Tuy c̣n nhỏ (mới có 12 tuổi), nhưng nhà vua đă tỏ ra là một vị anh hùng khí khái, cương quyết chống ngoại xâm, chứ không chịu cúi đầu làm tay sai cho giặc. Năm 1885, Ngài cho quân đánh Pháp, nhưng bị thất bại nên phải trốn khỏi kinh thành rồi phát động phong trào Cần Vương kháng chiến, được nhân dân 2 miền Bắc, Trung hưởng ứng. Nhưng đến năm 1888 th́ vua Hàm Nghi bị Pháp bắt được đem đầy đi Algeria, rồi những phong trào kháng Pháp cũng lần lượt bị thất bại.

Khi vua Hàm Nghi trốn khỏi kinh thành Huế th́ Pháp liền đem vua Đồng Khánh lên thay, nhưng vua Đồng Khánh chỉ ở ngôi được có 3 năm (1885 - 1888) th́ qua đời. Pháp liền cho lập hoàng thân Bửu Lân (mới có 10 tuổi) lên ngôi, lấy hiệu là Thành Thái, lúc đó vẫn đang là đầu Vận 2. Khi lớn lên, nhà vua thấy Pháp quá lộng hành, không đếm xỉa ǵ tới nền độc lập của Việt Nam nên t́m cách chống lại, nhưng âm mưu bị bại lộ nên bị chúng đày sang Phi châu (1907). Con ngài là thái tử Vĩnh San (mới có 8 tuổi) lên nối ngôi, lấy hiệu là Duy Tân. Năm 1916, khoảng giữa Vận 2, vua Duy Tân cùng tổ chức Việt Nam Quang Phục Hội (do cụ Phan bội Châu sáng lập) âm mưu khởi nghĩa ở Trung kỳ nhưng thất bại, khiến hàng trăm chiến sĩ bị hành quyết, hàng ngàn người bị bắt bớ, tù đày. Riêng vua Duy Tân bị Pháp bắt đem đày sang đảo Reunion ở Phi châu.

Từ năm 1916 đến năm 1945, tức là từ giữa Vận 3 đến khi bước vào Vận 5, triều đ́nh nhà Nguyễn dưới thời Khải Định (1916 - 1925) và Bảo Đại (1926 - 1945) đă hoàn toàn suy nhược, chỉ là công cụ của thực dân Pháp. Giữa lúc đó, những phong trào đấu tranh dành độc lập nổi lên khắp nơi, nhưng chỉ chuốc lấy thất bại và sự hao tổn máu xương của hàng ngàn chiến sĩ ưu tú, v́ lúc đó vận khí của Huế đă quá suy vi, tàn tạ. Phài đến năm 1945, khi Việt minh cướp chính quyền, vua Bảo Đại thoái vị, rồi *** tuyên bố Việt Nam độc lập ở Hà Nội, th́ lúc đó đă bước sang đầu Vận 5 Trung Nguyên. Kể từ đó trở đi, Huế không c̣n là kinh đô của nước ta nữa, nhưng vận khí của Huế vẫn tiếp tục xoay vần. Sau năm 1954, khi đất nước ta bị chia cắt làm 2 miền: miền Bắc từ sông Bến Hải trở ra, dưới sự lănh đạo của ***, đặt thủ đô ở Hà Nội. Miền Nam từ đó trở vào, dưới sự lănh đạo của TT Ngô đ́nh Diệm, thủ đô đặt ở Sài G̣n. Để có người trông nom mọi việc ở ngoài Trung, TT Ngô đ́nh Diệm liền cho em ḿnh là Ngô đ́nh Cẩn nắm toàn quyền ở Huế, lúc đó đang ở giữa Vận 5. Nhưng ông Ngô đ́nh Cẩn đă bất tài, lại hống hách, làm nhiều chuyện thất nhân tâm, khiến cho người dân miền Trung vô cùng oán ghét. Đến khi chế độ Ngô đ́nh Diệm bị lật đổ vào năm 1963 (tức năm cuối cùng của Vận 5) th́ ông Cẩn liền bị phe đảo chính lôi ra kết án rồi xử tử h́nh.

Sau cuộc chính biến 1963, t́nh h́nh chính trị của miền Nam mỗi lúc một rối loạn, giữa lúc chiến tranh ngày càng lan rộng và quyết liệt giữa 2 miền Nam-Bắc. Đầu năm 1968 (thuộc Vận 6), Cộng sản mở cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân, chiếm được Huế rồi cho tàn sát hàng ngàn người dân vô tội trong thành phố này. Đến năm 1972, cũng trong Vận 6, khi Cộng sản phát động cuộc tấn công quy mô khắp miền Nam, Huế lại trở thành một băi chiến trường đẫm máu và khốc liệt. Rồi năm 1975, trong trận chiến cuối cùng của Việt Nam Cộng Ḥa, Huế lại phải trải qua những giờ phút kinh hoàng, với hàng trăm, hàng ngàn người chết trong cuộc tháo chạy ra biển. Tiếp sau đó là những cuộc bắt bớ, giam cầm, rồi đến vụ đói kém năm 1978 - 1979 khiến cho đời sống của người dân Huế vô cùng lầm than, cơ cực.
Kể từ khi bước sang Vận 7 (1984), cảnh yên ổn, thanh b́nh lại trở về với Huế. Những lăng tẩm, đền đài của các vua chúa nhà Nguyễn được tu sửa, những khu du lịch mọc lên để thu hút du khách, đời sống của người dân nhờ vậy cũng được thoải mái, dễ chịu phần nào. Nhưng hiện tại đă là cuối Vận 7, sắp sửa bước sang Vận 8 Hạ Nguyên. Chỉ sợ rằng tới lúc đó, sát khí của cửa biển Thuận-an sẽ gây cho Huế nhiều tai họa, mặc dù không thảm khốc như trong Vận 6, nhưng cũng nguy hiểm cho những người dân đang cư trú trong thành phố êm đềm và thơ mộng này.

Tóm lại, vận khí của Huế chỉ tốt đẹp trong Vận 7, c̣n trong những Vận khác đều xảy ra những cảnh chiến tranh, chém giết. Riêng Vận 2 tuy cũng khá tốt v́ được những nhánh núi nơi phía Tây Nam hướng tới, nhưng v́ thượng nguồn của sông Hương xuất phát tại đây tức là bị "Phục Ngâm", nên hay xảy ra việc binh biến. Tuy nhiên, trong cả 2 Vận này, Huế sẽ có được những người lănh đạo tương đối có tài năng và ư chí, dù rằng sự nghiệp của họ không có ǵ đáng kể lắm. Các Vận 3 và 8 th́ c̣n hưởng được chút dư khí của Vận 2 và Vận 7, nên lúc đầu c̣n được những người có năng lực, nhưng sau cũng tàn tạ, suy bại như những Vận khác. Trong các Vận 5, 6, Huế ở trong cái thế có đại long mạch (dăy Trường Sơn) tiến tới nhưng không chầu phục, mà lại vươn ḿnh đi nơi khác. V́ thế nên trong những Vận này, tại Huế có thể xuất hiện nhân tài lỗi lạc, nhưng họ thường mất sớm hoặc bỏ đi nơi khác, những người c̣n lại th́ đều yếu kém, nhu nhược. Riêng Vận 5, Huế bị dăy Trường Sơn lấy hết nguyên khí, nên những người lănh đạo trong Vận này đều khét tiếng là bất tài, lại sâu dân mọt nước để rồi bị thảm tử. C̣n Vận 6 th́ bị cái thế long mạch đoạn tuyệt, dứt t́nh dứt nghĩa nên thường bị những tai họa khủng khiếp giáng xuống cho cả thành phố.

Nh́n chung, Huế có cái đẹp của sông Hương êm đềm, uốn khúc, của những nhánh núi non che chở, bao bọc. Nhưng sông Hương chỉ có thể tạo nên sự phồn thịnh sung túc cho một thành phố nhỏ (thế sông uốn lượn nhưng lại quá ngắn). Những nhánh núi non chỉ đủ vượng khí để xây dựng nhà cửa cho việc làm ăn phát đạt, hoặc đắp mộ để con cháu trở thành những công hầu khanh tướng mai sau (nếu biết cách làm). C̣n nếu chọn Huế làm thủ đô của đất nước th́ tai họa sẽ ập tới. Bởi v́ ngay cả trong lúc hưng thịnh, Huế c̣n chưa có đủ vượng khí để trấn áp những vùng khác, th́ đến lúc suy vi, thù trong giặc ngoài liên tiếp kéo đến, nên tránh sao khỏi cái họa diệt vong, mất nước. Ngoài ra, nếu nói đến vấn đề t́m cách thay đổi địa thế Phong thủy của Huế th́ hầu như không có một phương cách hữu hiệu nào cả, v́ khu vực này quá chật hẹp, lại bị khống chế bởi dăy Trường Sơn và biển Đông Hải. Tuy nhiên, khi đă biết được vận khí của Huế như vậy, chúng ta không nên cố công kiến tạo một trung tâm chính trị, kinh tế đồ sộ ở đây. Mà hăy để cho Huế trở về với tính cách tự nhiên của nó: một thành phố nhỏ êm đềm, thơ mộng, một vùng đất của những tao nhân, mặc khách, của những văn, thi sĩ muôn đời lăng mạn. Có như thế th́ chẳng những đất nước sẽ tránh được nhiều tai vạﬠmà cuộc sống của những người dân Huế cũng được yên ổn, thư thái hơn.
Quay trở về đầu Xem LuuBi.'s Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi LuuBi.
 
LuuBi.
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 18 May 2005
Nơi cư ngụ: Vietnam
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 1992
Msg 3 of 27: Đă gửi: 30 May 2005 lúc 4:25am | Đă lưu IP Trích dẫn LuuBi.

3/ SÀI G̉N: là thành phố nằm ngay bên phải bờ sông Sài G̣n, con sông này bắt nguồn từ tỉnh Tây Ninh ở phía Tây Bắc rồi chảy xuống, đi ngang qua khu vực phía Bắc của Sài G̣n rồi uốn lượn qua phía Đông của thành phố, sau đó nhập với sông Đồng Nai từ phía Bắc chảy xuống rồi đổ ra biển nơi phía Nam. Sài G̣n nằm giữa một khoảng b́nh nguyên (đất bằng) rộng lớn, xa xa nơi phía Bắc và Đông Bắc, tại các tỉnh Quảng Đức, Lâm Đồng là phần cuối của dăy Trường Sơn hướng tới. Rồi nơi phía Tây Bắc tại tỉnh Tây Ninh cũng có dăy núi Bà Đen, nơi phía Đông Nam là khu núi Vũng Tàu, cả hai đều là dư khí của dăy Trường Sơn c̣n sót lại. Nằm ở khu vực phía Nam và Tây Nam Sài G̣n là các sông Vàm Cỏ, xa hơn nữa là vùng đồng bằng sông Cửu Long với 2 con sông Tiền Giang và Hậu Giang.

Với địa thế núi, sông bao bọc như trên, ta thấy Sài G̣n có nhiều điểm đặc biệt, xứng đáng là một trong những trung tâm kinh tế và chính trị quan trọng bậc nhất trên đất nước ta. Trước hết là mạch Trường Sơn chấm dứt từ tận Quảng Đức, Lâm Đồng, tạo ra cái thế Huyền vũ che chở cho sau lưng Sài G̣n, nhưng lại không tiến đến quá gần để trở thành cái thế đe dọa hoặc lấn áp thành phố này, mà chừa cho Sài G̣n một khoảng trống rộng lớn để hấp thu hết vượng khí của toàn bộ miền Nam Việt Nam. Rồi đến núi Bà Đen ở Tây Ninh và vùng núi ở Vũng Tàu tạo thành thế tả, hữu long, hổ để hộ vệ Sài G̣n. Nhưng một điểm hay là v́ núi Bà Đen (hữu Bạch hổ) lại cao hơn núi Vũng Tàu (tả Thanh long). Nên khi nằm lệch về phía Vũng Tàu, Sài G̣n đă tạo thành thế long-hổ quân b́nh, khiến cho nền kinh tế của thành phố bao giờ cũng sung túc. Nếu như Sài G̣n nằm lệch về phía núi Bà Đen nhiều hơn, t́nh trạng kinh tế sẽ rất nghèo nàn, bi đát, v́ sát khí của Bạch hổ sẽ lấn át Thanh long và làm lụn bại thành phố. Phía trước mặt của Sài G̣n là Long-an và vùng đồng bằng sông Cửu Long, một b́nh nguyên rộng lớn với những con sông hàng hàng, lớp lớp chảy qua, khiến cho vượng khí vô biên, thần lực miên man, bất tận. Đó là chưa kể thương cảng Sài G̣n c̣n có mũi Vũng Tàu nằm ở bên ngoài hộ vệ, nên xứng đáng là một trung tâm quyền lực quan trọng về kinh tế và chính trị. Nếu c̣n được thêm một mũi đất nữa nhô ra ở cửa Đại (thuộc sông Tiền Giang, trong tỉnh Bến Tre) để tạo thành đầy đủ thế tả, hữu hộ vệ nơi cửa biển th́ uy lực của Sài G̣n sẽ c̣n tăng lên gấp bội. Ngoài ra, con sông Sài G̣n khi đến gần thành phố lại uốn lượn thành nhiều khúc, rồi sau khi đi qua c̣n quay đầu nh́n lại tới 2 lần (2 khúc sông uốn cong trở lại) rồi mới đổ ra biển. Đây chẳng những là một cảnh sông nước hữu t́nh, mà c̣n tạo cho Sài G̣n một sự phồn thịnh, sung túc đến nỗi không một thành phố nào trên toàn cơi Việt Nam cũng như khắp vùng Đông Nam Á có thể so sánh được.

Nhưng điều đáng ngạc nhiên là mặc dù nằm trong một một địa thế "rồng chầu, hổ phục" như vậy, Sài G̣n vẫn chỉ đóng một vai tṛ rất khiêm nhượng đối với đất nước Việt Nam, cũng như đối với cộng đồng thế giới. Giữa lúc tên của những thành phố như New York, Los Angeles, Paris, Tokyo, thậm chí đến cả Hong Kong, Singapore....đă gắn liền với một nền kinh tế sung túc và thịnh vượng, th́ cái tên Sài G̣n vẫn gắn liền với một xứ sở lạc hậu, một quốc gia chậm tiến. Sở dĩ như vậy là v́ tuy địa thế chung quanh Sài G̣n vô cùng tốt đẹp, nhưng địa điểm tọa lạc của thành phố lại nằm sai vị trí, khiến cho Sài G̣n không sao trở thành một thành phố giàu mạnh, nổi tiếng trên thế giới được. Thay v́ phải nằm ở trong khu vực giữa sông Đồng Nai và sông Sài G̣n để chiếm lấy vị trí của "chân long" (chính long mạch), Sài G̣n lại nằm ở phần đất bên ngoài tức chỉ là "hộ sa" (đất hộ vệ) của chân long. Đối với Phong thủy, chân long mới là nơi kết tụ được nguyên khí của trời, đất để chiếm lấy thế lực lớn lao hay độc tôn về chính trị và kinh tế, đồng thời mới thu hút được những anh hùng kiệt xuất, những lănh tụ vĩ đại. C̣n hộ sa chỉ là phần đất chư hầu, nguyên khí đă bị tản mát hết, nên không bao giờ có thể trở thành một trung tâm kinh tế hoặc chính trị hùng mạnh, đồng thời cũng không dễ có được một lănh tụ tài ba xuất hiện. Nếu ta nh́n lại giai đoạn Sài G̣n là thủ đô của Việt Nam Cộng Ḥa, có Hoa kỳ là đồng minh đắc lực nhất. Vậy mà trong mọi cuộc đàm phán, thương thuyết, họ chỉ cho chính phủ Sài G̣n đứng ngang hàng với Mặt trận Giải phóng là tay sai của Hà Nội. Điều này đủ cho thấy sự tai hại khi thủ đô của một quốc gia mà lại nằm trong vùng đất hộ sa là như thế nào.

Một điểm quan trọng khác là h́nh dáng uốn lượn rất nhiều lần của con sông Sài G̣n, nên đúng ra sẽ đem lại sự phồn thịnh và sung túc đến cực độ cho thành phố, khó có nơi nào có thể b́ kịp. Nhưng muốn được hưởng trọn vẹn điều này, Sài G̣n (và nhất là trung tâm của thành phố) cần phải nằm tại những khu vực được ḍng sông ôm lấy, tức là những vùng được ḍng sông bao bọc, che chở 2, 3 mặt (như khu Thủ Thiêm chẳng hạn). Chứ c̣n từ khi được thành lập cho tới nay, Sài G̣n vẫn nằm ở vị trí hiện tại, đă không có sông che chở, bao bọc (c̣n gọi là thủy hữu t́nh), mà c̣n bị khúc sông Sài G̣n ngay đó uốn cong ra chém tới. Đối với Phong thủy, đây là một địa thế cực kỳ hung hiểm (c̣n được gọi là thủy bạc t́nh), nên sẽ khiến cho Sài G̣n không lúc nào được yên ổn. Nếu không có chiến tranh, giặc giă, th́ cũng bị bị những tệ trạng xă hội như băng đảng trộm cướp, x́ ke, ma túy, đĩ điếm hoành hành khắp nơi, nhất là tại khu vực trung tâm thành phố (là nơi bị thủy chém nặng nhất). Chẳng những thế, sát khí của khúc sông này sẽ làm cho Sài G̣n luôn luôn bị suy yếu, không bao giờ có thể vươn lên thành một trung tâm kinh tế cường thịnh và tiên tiến được.

Cũng v́ 2 yếu tố kể trên nên mặc dù được h́nh thành và phát triển đă lâu, nhưng Sài G̣n vẫn chỉ là một thành phố trung b́nh, uy lực yếu ớt, chưa đủ để trấn áp hết miền Nam. C̣n nói tới việc khuất phục được các nước trong vùng Đông Nam Á châu và làm cho thế giới phải kiêng nể th́ vẫn quá xa vời. Muốn đạt được điều đó, các nhà lănh đạo Việt Nam trong tương lai cần thiết lập những đề án xây dựng trong khu vực giữa sông Đồng Nai và sông Sài G̣n. Rồi cho dời những cơ quan hành chánh, kinh tế, thương mại quan trọng vào trong vùng Thủ Thiêm, biến nơi đây thành khu vực trung tâm của thành phố. Đến lúc đó th́ Sài G̣n mới có được đầy đủ vượng khí để vươn lên, nếu không phải là kinh đô của một cường quốc hùng mạnh, th́ cũng là một trung tâm kinh tế thịnh vượng của thế giới.

C̣n về vận khí của Sài G̣n th́ đúng ra, Vận 1 là giai đoạn rất tốt đẹp, v́ được mạch Trường Sơn ở phía Bắc hướng tới, nên chẳng những sẽ có vĩ nhân xuất hiện, mà c̣n được hưởng cảnh thanh b́nh, thịnh vượng. Nhưng chỉ v́ thành phố nằm ở trong vùng đất hộ sa, vượng khí không thể tích tụ được nên nhân tài đă không thấy, mà cảnh phồn thịnh, sung túc cũng chỉ là hăo huyền, chỉ cầu có được sự yên ổn làm ăn cũng đă là may mắn. Bước qua Vận 2, Sài G̣n bắt đầu đi vào thời kỳ suy yếu, v́ khu vực phía Tây Nam đă có sông (Vàm cỏ), phía Đông Bắc lại có núi tạo thành cách "Phục Ngâm", "Phản Ngâm", nên những mần mống rối loạn bắt đầu xuất hiện. Rồi đến các Vận 3, 4 đúng ra đều là những giai đoạn suy yếu của Sài G̣n, v́ các mặt phía Đông và Đông Nam đều có biển cả bao la tức là bị "Phục Ngâm" rất nặng. Nhưng v́ trong đất liền lại được những chi nhánh của mạch Trường Sơn tiến ra che chở, khiến cho sát khí từ ngoài biển không thể vào được tới thành phố, nên trong những Vận này, Sài G̣n lại tương đối yên ổn. Đến Vận 5 đúng ra cũng là một giai đoạn hưng vượng của Sài G̣n, v́ có núi, sông pḥ tá, hộ vệ ở bên ngoài, chính giữa lại có sông Sài G̣n uốn lượn êm đềm, tích tụ một nguồn sinh khí sung túc không thể diễn tả. Nhưng do không nằm đúng chân long, nguyên khí bị thất tán hết, nên sự hưng vượng cũng tan biến nhanh chóng. Đă thế lại c̣n bị những tai họa lớn, v́ khúc sông Sài G̣n cong vô chém vào trung tâm thành phố, gây ra những cảnh tượng chiến tranh, chém giết hỗn loạn vô cùng. Bước sang Vận 6, Sài G̣n vẫn tiếp tục bị chiến tranh đe dọa, tàn phá, do khu vực phía Tây Bắc là thượng nguồn của con sông Sài G̣n, tạo thành cách "Phục Ngâm", đem sát khí đến cho thành phố. Phải đến khi qua tới Vận 7, nhờ cósông Đồng Nai và sông Sài G̣n ở phía Đông lúc đó là "Chính Thủy", đem vượng khí trở lại nên Sài G̣n mới được quay về khung cảnh thái b́nh, yên ổn làm ăn của một thời thịnh trị. Qua tới Vận 8, khu vực thượng nguồn của sông Đồng Nai ở phiá Đông Bắc sẽ biến thành sát khí, gây nên những cuộc loạn lạc, chém giết khác. Đến Vận 9, chiến tranh lại tiếp tục xảy ra, v́ biển và cửa sông Sài G̣n ở phía Nam đều phạm phải cách "Phục Ngâm", nên tai họa lại đến với thành phố.

Về lịch sử Sài G̣n th́ cách đây hơn 300 năm, thành phố này c̣n nằm dưới quyền cai trị của nước Chân Lạp (tức Cam Bốt bây giờ). Đến năm 1674, vào khoảng giữa Vận 9 Hạ Nguyên, chúa Nguyễn mới đem quân đánh chiếm khu vực này, rồi bắt đầu cho di dân tới, lập doanh trại và đồn điền để khai thác. Nhờ đất đai màu mỡ, lại nằm gần sông, biển, nên Sài G̣n ngày càng trở thành một trung tâm kinh tế quan trọng của miền Nam. Vào năm 1773, thành Sài G̣n được xây dựng lại cho thêm rộng lớn và kiên cố, từ đó biến thành một trong những đô thị lớn nhất trên đất nước ta, lúc đó đang ở trong Vận 5 Trung Nguyên. Nhưng công việc xây dựng vừa hoàn tất th́ những biến động chính trị trong nước cũng bắt đầu xảy ra, đưa đẩy vùng đất hiền lành, yên tĩnh này vào ṿng khói lửa.

Cũng trong năm 1773, anh, em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ phát động phong trào nổi dậy ở vùng Tây Sơn (thuộc tỉnh Quy Nhơn), chống phá lại chế độ tham nhũng, thối nát của triều đ́nh chúa Nguyễn. Cùng lúc đó, quân Trịnh ở phía Bắc tràn xuống, đánh chiếm được vùng Thuận Hóa (tức Quảng B́nh, Quảng Trị bây giờ), rồi uy hiếp Phú Xuân. Trước t́nh h́nh đó, chúa Nguyễn buộc phải lui về Quảng Nam, rồi sau lại chạy vào Gia Định (Sài G̣n) để luyện binh, tuyển tướng, mưu đồ khôi phục sự nghiệp.

Vào năm 1775, Nguyễn Lữ đem quân vào đánh Sài G̣n, khiến cho chúa Nguyễn phải chạy về Biên Ḥa, nhưng sau nhờ có Đỗ thành Nhân đem quân đến giúp, chúa Nguyễn lại chiếm được thành phố này.

Năm 1777, cũng trong Vận 5, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ đem quân vào Nam, b́nh định được thành Gia Định, bắt được chúa Nguyễn rồi giết đi, nhưng có người cháu là Nguyễn Ánh trốn thoát được sang Thái Lan. Rồi chờ đến khi Nguyễn Huệ đă bỏ về Quy Nhơn th́ lại đem quân về khôi phục đất Gia Định.

Đầu năm 1782, Nguyễn Huệ lại trở vào Nam, đánh bại Nguyễn Ánh tại đất Gia Định và cửa sông Sài G̣n, rồi rượt đuổi ra tới Phú quốc. Nhưng khi Nguyễn Huệ vừa quay về Quy Nhơn th́ Nguyễn Ánh cũng từ Phú quốc trở lại tái chiếm thành Gia Định.Vào năm 1783, tức năm cuối cùng của Vận 5, Nguyễn Huệ lại mang quân vào, đại phá quân Nguyễn Ánh tại cửa sông Sài G̣n. Sau trận ác chiến này, Nguyễn Ánh đă sức cùng, lực kiệt nên liền sang Thái-lan cầu viện. Nhưng đạo quân cướp nước này vừa đi đến Định-tường th́ bị Nguyễn Huệ chận đánh tan tành, khiến cho Nguyễn Ánh phải chạy sang Thái-lan nương náu.

Măi đến năm 1787, đầu Vận 6, nhân lúc Nguyễn Huệ đang lo đối phó với t́nh h́nh hỗn loạn trên đất Bắc, Nguyễn Ánh mới bí mật trở về Long -xuyên, dần dần phát triển lại thế lực. Cuối năm đó, Nguyễn Ánh dốc toàn lực tấn công thành Gia Định, nhưng v́ tướng Tây Sơn là Phạm văn Tham quyết chiến giữ thành, nên phải sau 10 tháng công phá, thành Gia Định mới bị hạ.

Kể từ lúc đó, Sài G̣n mới tạm thời không c̣n nh́n thấy cảnh binh đao, chém giết, nhưng bầu không khí vẫn nặng nề v́ cuộc chiến tranh với nhà Tây Sơn vẫn tiếp tục diễn ra. Cũng may cho Nguyễn Ánh là trong lần đọ sức này, tuy vận khí của Sài G̣n rất xấu (Vận 6), nhưng vận khí của Huế c̣n tệ hại hơn nhiều. Bởi thế nên sau nhiều chiến dịch hành quân vất vả, cuối cùng Nguyễn Ánh cũng diệt được nhà Tây Sơn và lập ra nhà Nguyễn vào năm 1802, lúc đó đă vào cuối Vận 6.

Sau cuộc chiến tranh này, Nguyễn Ánh (tức vua Gia Long) chọn kinh đô là Phú Xuân, để Lê văn Duyệt ở lại trấn thủ Sài G̣n. Trong thời gian Lê văn Duyệt cai quản (từ năm 1802 đến 1833, tức là từ cuối Vận 6 đi qua hết Vận 7 sang đến giữa Vận 8), Sài G̣n được yên ổn làm ăn, nên dần dần cũng được trở lên khá sung túc. Nhưng sau khi ông qua đời, triều đ́nh nhà Nguyễn lại khép ông vào tội phản nghịch, rồi cho lùng bắt cả ḍng họ, quyến tộc, khiến cho người con nuôi của ông là Lê văn Khôi phải nổi lên chống lại. Cũng trong năm 1833, Khôi nổi lên giết quan Tổng trấn Gia Định, tự xưng là Đại Nguyên soái, rồi đem quân đi chiếm trọn Nam kỳ. Sau triều đ́nh phải dốc toàn lực đánh dẹp, Khôi bị yếu thế nên rút về thành Gia Định (lúc đó đổi tên là Phiên-an) cố thủ, măi đến năm 1835 th́ thành mới bị hạ. Sau khi chiếm được thành, quan quân xông vào chém giết thẳng tay, bất kể đàn bà, con nít, gây nên một cuộc thảm sát dă man hiếm có trong lịch sử dân tộc. Rồi thành Gia Định bị san thành b́nh địa, những cuộc truy nă, bắt bớ tiếp tục diễn ra, những luật lệ khắt khe được đem ra áp dụng, khiến cho thành phố Sài G̣n chưa kịp vươn lên đă bị tàn lụi, suy sụp hẳn.
Sau biến cố Lê văn Khôi, t́nh h́nh của Sài G̣n tạm thời lắng đọng xuống, tuy rằng những cuộc xung đột với Thái Lan và Cam Bốt vẫn tiếp tục diễn ra. Trong khi đó, triều đ́nh nhà Nguyễn ngày một yếu hèn, suy nhược, khiến cho thực dân Pháp bắt đầu ḍm ngó nước ta, rồi cuối cùng trắng trợn tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược. Vào năm 1859, khi quân Pháp nổ súng tấn công và đánh chiếm được thành Sài G̣n th́ lúc đó cũng đang trong Vận 9 Hạ Nguyên. Liên tiếp trong hơn 2 năm trời, triều đ́nh nhà Nguyễn huy động đại quân vào Nam, cố sức đánh phá để lấy lại Sài G̣n nhưng không có kết quả. Sang năm 1861, cũng vẫn trong Vận 9, Pháp mở cuộc tấn công đánh tan lực lượng quân sự nhà Nguyễn tại đồn Kỳ Ḥa (thuộc khu Gia Định bây giờ), rồi thừa thắng tung quân đánh chiếm toàn thể Nam kỳ. Mặc dù gặp phải những cuộc chống phá rất quyết liệt, nhưng đến năm 1868, khi cuộc khởi nghĩa của Nguyễn trung Trực bị dập tắt, Pháp đă hoàn toàn b́nh định được miền Nam, lúc đó đă bước sang Vận 1 Thượng Nguyên. Rồi Pháp bắt đầu thiết lập hệ thống hành chánh, cai trị, biến miền Nam thành thuộc địa, thay đổi một số luật lệ, mở mang một vài lănh vực về kinh tế và thương mại. Kể từ đó, t́nh h́nh của Sài G̣n trở nên lắng đọng hẳn, tuy đôi lúc cũng có một vài tổ chức, phong trào chống Pháp nổi lên, nhưng đa số đều có tính cách ôn ḥa, và cũng không làm được ǵ đáng kể. Măi đến khi bước vào Vận 5 (1944), tinh thần quật khởi của Sài G̣n mới bắt đầu bộc phát trở lại, dẫn đến cao trào cách mạng 1945 lật đổ nền đô hộ của thực dân Pháp. Nhưng liền sau đó, Pháp quay trở lại tái chiếm Sài G̣n, mở màn cho cuộc chiến tranh khốc liệt từ Bắc vào Nam trong suốt 9 năm trời, đến khi bị đại bại ở Điện biên Phủ (1954) mới chịu rút chân ra khỏi Việt Nam.

Khi hiệp định Geneve năm 1954 chia cắt đất nước thành 2 miền, Tổng thống Ngô đ́nh Diệm về Sài G̣n thành lập chính phủ tự do để quản trị miền Nam, lúc đó đang là giữa Vận 5 Trung Nguyên. Nhưng ngay từ bước đầu, ông đă gặp phải sự chống đối dữ dội của các phe phái B́nh Xuyên, Cao Đài, khiến cho chiến sự lại xảy ra ngay trong giữa thành phố Sài G̣n. Đến khi những vụ phiến loạn này vừa được dẹp yên th́ lại xảy ra cuộc đàn áp Phật giáo, giữa lúc cuộc chiến tranh với Cộng sản ở miền Nam ngày càng lan rộng, tạo nên một bầu không khí hoang mang, hỗn loạn cho Sài G̣n. Đến năm 1963, tức là năm cuối cùng của Vận 5 th́ Tổng thống Ngô đ́nh Diệm bị các tướng lănh miền Nam lật đổ rồi hạ sát.

Sau cuộc chính biến này, t́nh h́nh ở Sài G̣n (và miền Nam nói chung) vẫn không có ǵ sáng sủa, trái lại càng rối loạn hơn v́ các tướng lănh tiếp tục tranh giành địa vị, khiến cho những cuộc đảo chánh liên tiếp xảy ra. Phải đến năm 1967, khi quyền hành đă lọt hết vào tay Tổng thống Nguyễn văn Thiệu th́ t́nh h́nh chính trị của miền Nam mới tạm yên. Nhưng lúc đó cũng đă vào đầu Vận 6, cuộc chiến tranh với Cộng sản lại trở nên ác liệt hơn bao giờ hết, với những chiến dịch và những trận đánh quy mô mỗi lúc một diễn ra nhiều hơn.

Vào năm 1968, Cộng sản mở cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân, đánh phá Sài G̣n và các thành phố trên toàn miền Nam. Phải sau nhiều đợt phản công rất quyết liệt, quân Cộng sản mới bị đẩy lui và nền an ninh của miền Nam (cũng như Sài G̣n) mới được tái lập.

Bốn năm sau, vào năm 1972, Hà Nội lại mở cuộc tổng tấn công đại quy mô suốt từ Quảng Trị vào tới B́nh Long, đe dọa nghiêm trọng sự sống c̣n của thủ đô Sài G̣n. Mặc dù sau những trận chiến vô cùng ác liệt, quân đội miền Bắc lại bị đẩy lui và miền Nam vẫn được giữ vững, nhưng cũng từ đó, chính phủ Sài G̣n ngày một suy yếu. Đến khi Cộng sản mở cuộc tổng tấn công lần thứ 3 vào đầu năm 1975 th́ Sài G̣n cũng như thể chế chính trị của miền Nam liền bị sụp đổ một cách nhanh chóng.

Nhưng khi cuộc chiến tranh Quốc-Cộng vừa chấm dứt, th́ cuộc chiến tranh với Cam Bốt, rồi Trung Cộng lại diễn ra, khiến cho bầu không khí của Sài G̣n vẫn tiếp tục căng thẳng, ngột ngạt. Phải đến khi bước sang Vận 7 (1984 - 2003), th́ Sài G̣n mới thực sự được quay về với cảnh thanh b́nh, yên ổn làm ăn, nhưng sự thịnh vượng vẫn chỉ rất hạn hẹp, tương đối, chứ không sao vươn ḿnh lên được với cộng đồng thế giới. Hiện tại (2002) đang là giai đoạn cuối cùng của Vận 7, chỉ sợ rằng khi bước qua vận 8, Sài G̣n sẽ lại gặp phải những cuộc binh đao, chếm giết đổ máu khác.

Tóm lại, sau khi đă nh́n qua địa thế, cũng như lịch sử của thành phố, ta thấy do vị trí tọa lạc sai lệch, Sài G̣n đă bỏ mất nhiều cơ hội để phát triển lên thật hùng mạnh, sung túc. Đă thế lại c̣n bị khúc sông Sài G̣n chém tới, khiến cho tai họa thường xảy đến dồn dập, chẳng những trong các Vận xấu mà ngay cả trong các Vận được coi là tốt đẹp. Đúng ra, nếu nằm trong vị trí của chân long (tức khu vực giữa sông Đồng Nai và sông Sài G̣n), Vận 1 sẽ là giai đoạn cực thịnh của thành phố. Vào lúc đó, Sài G̣n sẽ có được những lănh tụ tài ba (do mạch Trường Sơn ở phía Bắc đâm xuống), đồng thời cũng trở nên thịnh vượng, sung túc không thể diễn tả (do vượng khí từ cửa sông Sài G̣n và vùng biển mênh mông nơi phía Nam đưa tới). Đàng này v́ nằm trong vùng đất hộ sa, nên chỉ được mấy ông quan Pháp tới, thay đổi được một vài luật lệ và chính sách quá lỗi thời và khắc nghiệt. Bước sang Vận 2, mặc dù Sài G̣n bị thế "Phục Ngâm" của sông Vàm Cỏ và sông Cửu Long ở phía Tây Nam, nên mức độ thịnh đạt không c̣n được như trước. Nhưng con sông Đồng Nai bắt nguồn từ phía Đông Bắc lại là "Chính Thủy" vẫn sẽ đem vượng khí đến cho Sài G̣n, nên những nền tảng kinh tế, thương mại của thành phố vẫn tiếp tục được duy tŕ và phát triển. Qua các Vận 3 và 4, thế "Phục Ngâm" của biển Đông ở phía Đông và Đông Nam đă bị những nhánh núi của mạch Trường Sơn tiến ra ngăn cản nhiều, không c̣n gây ra những tai họa lớn. Chẳng những thế, nếu Sài G̣n nằm tại chân long, th́ con sông Sài G̣n lại thuộc về phía Tây và Tây Bắc của thành phố, nên sẽ tiếp tục đem vượng khí đến. Nhất là trong Vận 3, khúc sông Sài G̣n uốn lượn, ôm ấp lấy khu vực Thủ Thiêm, nguyên khí tích tụ vô cùng sung măn, nên sẽ đem lại cho thành phố một giai đoạn hưng vượng đến cực độ lần thứ hai. C̣n đối với vị trí hiện tại, th́ 2 con sông Đồng Nai lẫn Sài G̣n đều nằm tại phía Đông của thành phố, rồi khúc sông Sài G̣n cũng từ phía Đông chém tới. Bởi thế cho nên vận khí của Sài G̣n trong những giai đoạn này đều quá suy nhược, không sao có thể vươn lên mạnh mẽ được, lại c̣n dễ xảy ra những vụ xung đột, chém giết làm náo loạn cả thành phố.

Riêng Vận 5 là một giai đoạn đặc biệt, v́ đây là lúc Sài G̣n đắc cách Long-Hổ hộ vệ, Huyền vũ che chở, vượng khí của cả miền Nam đều hội tụ về đây. Đúng ra phải là một giai đoạn cực thịnh không thể diễn tả, với đầy đủ chúa thánh, tôi hiền để cai trị, dẫn dắt muôn dân. Tiếc rằng chỉ v́ Sài G̣n nằm trong vùng đất hộ sa, không phải là nơi có thể kết tụ được nguyên khí, nên chỉ như ngọn lửa bùng lên giữa đêm đông rồi chợt tắt. Đă thế lại c̣n bị khúc sông Sài G̣n ở ngay bên chém tới là một điều tối nguy hiểm, v́ nó không những thường xuyên gây ra nhiều tai họa cho thành phố, mà trong Vận 5, mức độ độc hại của nó lại càng tăng thêm gấp bội. Bởi thế nên trong giai đoạn này, Sài G̣n chẳng những sẽ gặp cảnh chiến tranh, loạn lạc, mà ngay cả những người lănh đạo nơi đây cũng dễ bị hung tử. Ngược lại, nếu như thành phố Sài G̣n nằm tại chân long, th́ chẳng những sẽ tránh được họa chiến tranh, mà c̣n trở nên một thành phố hùng cường và thịnh vượng bậc nhất trong khu vực Đông Nam Á Châu cũng như trên thế giới.

Bước qua Vận 6, v́ khu vực phía Tây Bắc là thượng nguồn của con sông Sài G̣n, nên dù nằm ở vị trí nào th́ Sài G̣n cũng sẽ bị chiến tranh rất lâu dài đe dọa. Nhưng nếu nằm ở vị trí hiện tại th́ do nguyên khí của thành phố quá yếu, nên nếu không may gặp phải một quốc gia đối địch có nguyên khí của thủ đô mạnh hơn th́ Sài G̣n sẽ dễ lănh lấy phần chiến bại. C̣n nếu nằm trong khu vực của chân long th́ khó có quốc gia nào có thể đánh bại được Sài G̣n, v́ nguyên khí ở đây đă quá đầy đủ, sung măn, nên dù gặp sát khí chiếu đến cũng khó ḷng mà bị suy sụp hoàn toàn được.

Rồi đến Vận 7 là thời gian ḥa b́nh, an cư lạc nghiệp của Sài G̣n, nhưng nếu nằm ở vị trí hiện tại th́ tuy được cả 2 con sông Đồng Nai và Sài G̣n cùng nằm ở phía Đông chiếu tới (tức là được "Chính Thủy"). Nhưng v́ bị khúc sông Sài G̣n chém vào nên mặc dù cũng được yên ổn làm ăn, nhưng những tệ nạn xă hội như trộm cắp, đĩ điếm thường lan tràn. Ngoài ra, cũng v́ lư do đó, cộng với vấn đề nằm trong vùng hộ sa, nên dù có được một giai đoạn ḥa b́nh khá lâu dài, Sài G̣n vẫn không sao trở thành một trung tâm kinh tế và mậu định tiên tiến cũng như hùng cường được. C̣n nếu như nằm trong khu vực của chân long, th́ mặc dù sẽ bị một số biến động (như chiến tranh hoặc tŕ trệ kinh tế...), do con sông Sài G̣n lúc đó lại nằm ở phía Tây tức bị Phục Ngâm, đem sát khí đến cho thành phố. Nhưng v́ con sông Đồng Nai vẫn nằm ở phía Đông, đem vượng khí đến với Sài G̣n, nên rồi thành phố sẽ vượt qua được mọi khó khăn để tiếp tục phát triển, vươn lên.

Qua Vận 8, thượng nguồn của sông Đồng Nai ở phía Đông Bắc là sát khí, nên dù nằm ở vị trí nào Sài G̣n cũng sẽ có chiến tranh, loạn lạc. Nhưng nếu nằm ở khu vực hiện tại th́ c̣n bị thêm con sông Sài G̣n cũng đi qua khu vực phía Đông Bắc nữa, khiến cho sát khí trùng trùng, nên mới bị đại họa thê thảm như sau vụ khởi nghĩa của Lê văn Khôi trước đây. C̣n nếu dời vào khu vực giữa 2 con sông th́ chỉ c̣n sát khí của sông Đồng Nai, nên tuy vẫn bị chiến tranh, nhưng do nguyên khí c̣n vượng, nên dù gặp nhiều cơn sóng gió Sài G̣n vẫn chưa bị suy tàn hẳn.

Đến Vận 9 mới là thời kỳ tàn tạ, v́ cửa sông Sài G̣n và vùng biển nơi phía Nam lúc đó sẽ đem đến sát khí quá nặng, nên dù tọa lạc ở khu vực nào, Sài G̣n cũng đều bị thảm họa chiến tranh. Nhưng nếu nằm ở khu vực hiện tại, Sài g̣n c̣n bị khúc sông chém vào, vận khí của thành phố sẽ quá kiệt quệ, nên việc suy vong, mất nước, phải làm nô lệ cho người là điều chắc chắn. Nếu đọc kỹ lịch sử, chúng ta sẽ thấy khi chúa Nguyễn chiếm Sài G̣n, hay khi Pháp hạ thành Gia Định đều xảy ra trong Vận 9. Ngược lại, nếu được dời vào khu vực của chân long, th́ mặc dù lúc đó Sài g̣n cũng rất yếu ớt, lại không có được lănh tụ tài ba nên khi có chiến tranh sẽ không thể cản được bước tiến của giặc thù. Nhưng rồi chẳng bao lâu, tinh thần quật khởi của Sài G̣n lại bộc phát, để đến khi bước vào Vận 1 Thượng Nguyên th́ sẽ có vĩ nhân xuất hiện đem lại cảnh thanh b́nh và vinh quang đến cho thành phố, cũng như cho đất nước, dân tộc.

* TỔNG KẾT: như vậy, sau khi đă nh́n qua vận khí, cũng như lịch sử của 3 thành phố Hà Nội, Huế và Sài G̣n, chúng ta đều thấy mỗi thành phố có những nét đặc thù riêng biệt. Hà Nội với thế núi, sông quá lớn, quá hùng vĩ, dài hàng mấy trăm dậm tiến tới, tất cả đều như muốn hướng về phủ phục, triều bái, nên thật quả là thế đất quân vương, có thể điều khiển, sai khiến được chư hầu. Bởi thế nên từ trước khi Hà Nội (tức Thăng Long) được chọn làm thủ đô, nước ta chỉ là một quốc gia nhỏ, sánh ngang hàng với những nước nhược tiểu như Chiêm Thành, Phù Nam, Chân Lạp, Lăo Qua (tức Ai Lao) .... đă vậy lại c̣n bị Trung Hoa đô hộ suốt gần 10 thế kỷ. Phải đến khi vua Lư thái Tổ dời thủ đô về đây, đất nước ta mới dần dần trở nên hùng mạnh, rồi tiến vào diệt Chiêm Thành, Phù Nam (tức Thủy Chân Lạp), khống chế Ai Lao và Cam Bốt, đe dọa cả Thái Lan và Miến Điện. Chẳng những thế, tổ tiên ta c̣n nhiều lần đánh bại những cuộc xâm lăng rất quy mô và khốc liệt của các triều đại phong kiến Trung Hoa. Rồi đôi c̣n có ư định ḍm ngó và xâm chiếm đất đai của họ, như dưới thời của Lư thường Kiệt hoặc vua Quang Trung. Tiếc rằng vào thời Lư thường Kiệt, tiềm lực của nước ta c̣n quá nhỏ (chỉ từ Nghệ An ra Bắc) nên chưa thực hiện nổi giấc mộng đó. Đến thời vua Quang Trung th́ Ngài lại dời về đóng đô ở Phú Xuân, để rồi lại mất quá sớm trước khi thi hành được ư định.

Một điểm đáng chú ư khác là kể từ khi Hà Nội được chọn làm thủ đô, nước ta không bao giờ bị ngoại bang đô hộ. Ngay cả trong những giai đoạn tàn tạ, đen tối nhất như những thời mạt vận của các triều đại Lư, Trần, Lê, Mạc, Trịnh - Nguyễn. Vào những thời điểm đó, giữa lúc những nhà lănh đạo đất nước đều bất tài, hèn kém, nhu nhược, nhân dân th́ đói khổ, loạn lạc nổi lên khắp nơi, nhưng nền độc lập của dân tộc vẫn được bảo tồn nguyên vẹn. Chỉ đến khi nhà Hồ dời đô về Thanh Hóa, hoặc như sau này nhà Nguyễn lập kinh đô tại Phú Xuân, nước ta mới bị các thế lực ngoại bang hùng mạnh thôn tính, cai trị. Đó chính là do địa thế đặc biệt của Hà Nội, nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc bộ, được những dẫy núi hùng vĩ, trùng trùng điệp điệp từ xa tiến tới, phủ phục triều bái ở bên ngoài. Với địa thế đặc biệt như vậy, nên không một thế lực nào trên thế giới có thể khuất phục được Hà Nội, mà ngược lại, tất cả mọi quốc gia lân cận với Việt Nam đều sẽ bị Hà Nội chi phối. Vấn đề nhiều hay ít chỉ c̣n tùy thuộc vào những giai đoạn thịnh, suy của Hà Nội mà thôi. Ngoài ra, v́ con sông Hồng Hà khi đi ngang qua Hà Nội tuy có hơi cong một chút, nhưng thế nước vẫn chảy nhanh và mạnh, làm tiêu tán đi rất nhiều nguyên khí của thành phố. Nếu như khúc sông này được sửa lại để thành thế uốn lượn êm đềm như sông Hương hay sông Sài G̣n, th́ thần lực của những dăy núi hùng vĩ chung quanh mới được tích tụ đầy đủ, tràn trề ở Hà Nội. Khi đó, chẳng những đất nước ta sẽ trở nên giàu có, thịnh vượng khó có quốc gia nào sánh kịp, mà thế lực của Hà Nội cũng áp đảo luôn cả Trung Hoa, chứ đừng nói tới các nước trong vùng Đông Nam Á Châu và trên thế giới.

Riêng Huế chỉ là một thành phố nhỏ, thế núi, sông quá ngắn, nên chẳng những đă không phát sinh được nhiều vượng khí, mà dải đất b́nh nguyên nơi đó cũng chật hẹp, không đủ chỗ cho nguyên khí tích tụ. Do đó, mặc dù cũng đầy đủ những yếu tố Phong thủy như sông Hương uốn lượn êm đềm vây bọc, những nhánh núi hướng tới chầu phục, nhưng thế nhỏ bé vẫn hoàn nhỏ bé. Nói cho đúng ra, Huế chỉ có thể là một thành phố trung b́nh, cai quản địa hạt của một vài tỉnh, chứ không thể trở thành một đô hội lớn hay kinh đô của một quốc gia hùng mạnh. Nếu bị bắt buộc phải đảm nhiệm trách vụ này, Huế sẽ dần dần làm cho đất nước trở nên suy yếu, dẫn đến cái họa diệt vong, mất nước. Bởi v́ ḍng sông Hương quá nhỏ, quá ngắn, nên mặc dù uốn lượn hữu t́nh, nhưng vượng khí chỉ đủ cho một thành phố nhỏ, chứ không sao có thể làm cho Huế trở nên một đô hội sầm uất, giàu mạnh được. C̣n nói tới chuyện kiến tạo một đất nước cường thịnh, sung túc lại là điều không thể có được.

C̣n Sài G̣n là một thành phố nằm giữa một vùng đồng bằng rộng lớn, ph́ nhiêu, chung quanh được núi non hộ vệ, che chở, lại có sông ng̣i uốn khúc chảy tới, nên tiềm năng phát triển kinh tế thật vô hạn. Nhưng trong suốt hơn 300 năm qua, Sài G̣n vẫn không sao tiến lên được thành một trung tâm kinh tế quan trọng của thế giới, mà trái lại vẫn chỉ đóng một vai tṛ phụ thuộc rất khiêm tốn. Sở dĩ như vậy là v́ Sài G̣n đă nằm vào vị trí phụ thuộc đối với Phong thủy (hộ sa), nên không sao có thể vươn lên để nắm lấy những vị trí quan trọng hàng đầu được.

Do đó, vấn đề cần thiết là phải dời trung tâm thành phố vào Thủ Thiêm, v́ nơi đây chẳng những nằm trong khu vực của chân long, lại c̣n được khúc sông Sài G̣n ngay đó uốn lượn bao bọc chung quanh. Khác với sông Hương ở Huế chỉ uốn cong một ṿng rồi chảy đi, sông Sài G̣n lại uốn lượn rất nhiều ṿng, tạo thành thế Cửu (9) khúc, khiến cho vượng khí tích tụ tràn trề, thần lực vô cùng sung măn. Có thể nói nếu dải đất giữa sông Đồng Nai và sông Sài G̣n là nơi thu hút hết vượng khí của cả miền Nam, th́ khu Thủ Thiêm chính là nơi hội tụ hầu hết vượng khí của dải đất này vậy. Bởi thế cho nên nếu được dời về đây, Sài G̣n sẽ nhanh chóng biến thành một trung tâm kinh tế hùng mạnh của thế giới, vượt qua những Hongkong, Singapore, Taiwan ... trong khu vực.

Hiện tại, nếu đem so sánh giữa 3 thành phố th́ Huế và Sài G̣n không thể sánh được với Hà Nội, v́ một đàng th́ quá nhỏ, một đàng th́ lại nằm ở một khu vực bất an (hộ sa). Nhưng nếu như sau này, khi được dời vào Thủ Thiêm, Sài G̣n sẽ đón nhận được vượng khí của cả miền Nam, rồi phát triển lên thật hùng mạnh th́ mới đủ sức để cạnh tranh ngang ngửa với Hà Nội. Lúc đó, một đàng được thế sông nên giàu có, sung túc; một đàng được thế núi, nên khí phách quật cường không ai có thể khuất phục được. Đất Sài G̣n nằm giữa 2 con sông quá hiền ḥa, uốn lượn êm đềm, nên nếu được chọn làm thủ đô sẽ đem đến cảnh thái b́nh, thịnh trị cho cả nước. Đồng thời thường sử dụng sức mạnh kinh tế và đường lối ngoại giao mềm mỏng, khéo léo để phát triển thế lực sang các nước láng giềng cũng như trên thế giới. C̣n Hà Nội nằm giữa những dăy núi quá hùng vĩ, nên sẽ chú tâm phát triển sức mạnh quân sự, đồng thời thường sử dụng vũ lực để khuất phục các nước láng giềng. Do thế núi chầu phục, Hà Nội sẽ luôn luôn t́m cách biến các nước lân cận thành chư hầu, lệ thuộc vào ḿnh, đồng thời cũng thường ôm mộng đế quốc, hay tính đến chuyện bành trướng lănh thổ, nhất là trong những giai đoạn vận khí thịnh vượng.

Nếu giữa Hà Nội và Sài G̣n có sự khác biệt như vậy, th́ nên chọn thành phố nào làm thủ đô của đất nước trong tương lai Người viết nghĩ vẫn nên chọn Hà Nội, v́ tuy Sài G̣n có thể sẽ làm cho đất nước được an lành, thịnh vượng hơn, nhưng Hà Nội mới có thể bảo đảm được sự trường tồn và nền độc lập của dân tộc. Nhất là khi đất nước ta lại nằm bên cạnh một đế quốc khổng lồ ở phía Bắc. Nếu không phải là một vùng đất có núi sông hùng vĩ, khí phách quật cường như Hà Nội th́ làm sao có thể chận đứng được bước đường Nam tiến của Hán tộc trong suốt bao nhiêu thời đại C̣n Sài G̣n nếu sau này trở nên một trung tâm kinh tế phồn thịnh nhất Á Châu, làm thế hậu thuẫn, trợ lực cho Hà Nội th́ ta đâu c̣n phải e dè, lo ngại một nước Trung Hoa lúc nào cũng nuôi mộng bành trướng. Trái lại, lúc đó chính họ mới phải lo lắng tới sức mạnh, cũng như việc phát triển thế lực của nước ta ra khắp vùng Đông Nam Á Châu. Chẳng những thế mà ngay cả mảnh đất đại lục của họ cũng sẽ có ngày bị thế liên kết Hà Nội - Sài G̣n đe dọa.

Cuối cùng, một vấn đề quan trọng khác có liên quan đến sự sống c̣n của dân tộc ta, đó là vận khí của thành phố Bắc Kinh. Như đă nói ở phần đầu, Bắc Kinh được hưng vượng vào các Vận 5, 6, và 7. Do đó, trong những giai đoạn này, họ thường hay yêu sách, can thiệp vào nội t́nh Việt Nam, hoặc xua quân sang xâm lăng một cách trắng trợn. Tuy nhiên, trong các Vận 5, 6, khí thế của Hà Nội cũng bừng lên mănh liệt không kém, nên họ sẽ không làm ǵ nổi, chỉ chuốc lấy những thất bại chua cay, nhục nhă. Tuy nhiên, trong Vận 7, khí thế của Hà Nội bị suy giảm (do các con sông Đà, sông Mă ở phía Tây tạo thành cách "Phục Ngâm"), nên chúng ta cần cẩn thận trong vấn đề xây dựng, thay đổi môi trường thiên nhiên. Điều quan trọng là phải tránh làm động sát khí ở phía Tây, để cho Hà nội c̣n có chút vượng khí, hầu có thể đương đầu nổi với Bắc Kinh, c̣n nếu không th́ chúng ta sẽ dễ bị lôi cuốn vào ṿng ảnh hưởng của họ. Trong Vận 7, nước ta thường không có chiến tranh lớn, nên sẽ không có những cuộc xâm lược từ Trung Hoa, chỉ có điều nếu nguyên khí của Hà Nội quá yếu th́ sẽ dễ bị lệ thuộc vào họ mà thôi. Nhưng từ Vận 8 trở đi, nguyên khí của thành Bắc Kinh sẽ bắt đầu suy yếu, nên kể từ đó trở đi, họ không c̣n đủ sức để gây ảnh hưởng được với HàNội nữa. Do đó, trong các Vận 8, 9, nếu chúng ta có thể xây dựng nên một nước Việt Nam thịnh vượng và hùng mạnh, th́ đất nước ta sẽ là đệ nhất cường quốc trong vùng Đông Á (v́ Nhật Bản lúc đó cũng tiêu điều, tàn tạ). Rồi qua tới các Vận 1, 2, 3, 4, vận khí của Bắc Kinh mỗi lúc một suy đồi, muốn giữ được trọn vẹn lănh thổ Trung Hoa cũng c̣n khó khăn, th́ làm sao có thể uy hiếp nổi đất nước ta được. Bởi thế nên trong những Vận này, tuy HàNội cũng càng ngày càng suy yếu, nhưng vẫn không bị lệ thuộc hoặc mất nước vào tay kẻ thù phương Bắc. Đó cũng là cái may cho dân tộc Việt Nam chúng ta, v́ vận khí của Hà Nội và Bắc Kinh cũng gần như tương tự trong những giai đoạn hưng-phế, nên nước Trung Hoa mặc dù rộng lớn, nhưng vẫn không bao giờ có thể khuất phục ta được.
Quay trở về đầu Xem LuuBi.'s Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi LuuBi.
 
daothuhang
Hội viên
 Hội viên


Đă tham gia: 25 August 2003
Nơi cư ngụ: Vietnam
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 192
Msg 4 of 27: Đă gửi: 30 May 2005 lúc 4:35am | Đă lưu IP Trích dẫn daothuhang

Bài viết này có từ lâu rồi mà, sao không để là sưu tầm nhỉ ????

__________________
hang
Quay trở về đầu Xem daothuhang's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi daothuhang
 
LuuBi.
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 18 May 2005
Nơi cư ngụ: Vietnam
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 1992
Msg 5 of 27: Đă gửi: 30 May 2005 lúc 4:38am | Đă lưu IP Trích dẫn LuuBi.

reply rồi thôi th́ viết chữ Sưu Tầm
Quay trở về đầu Xem LuuBi.'s Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi LuuBi.
 
daothuhang
Hội viên
 Hội viên


Đă tham gia: 25 August 2003
Nơi cư ngụ: Vietnam
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 192
Msg 6 of 27: Đă gửi: 30 May 2005 lúc 5:15am | Đă lưu IP Trích dẫn daothuhang

Em ít tuôi hơn chị đó nha !!!


__________________
hang
Quay trở về đầu Xem daothuhang's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi daothuhang
 
diennien
Hội viên
 Hội viên


Đă tham gia: 10 January 2005
Nơi cư ngụ: Vietnam
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 742
Msg 7 of 27: Đă gửi: 30 May 2005 lúc 9:38am | Đă lưu IP Trích dẫn diennien

LS Việt nam th́ rối ren lắm
- thời nay họ chủ yếu nói không đúng về sự thực LS , rơ nhất là bênh vực nhà Hồ, như Hồ quư Ly, rồi Hồ Thơm, có điều ǵ rất khuất tất có liên hệ tới ḍng họ mà tôi không tiện nói ra
Quay trở về đầu Xem diennien's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi diennien
 
LuuBi.
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 18 May 2005
Nơi cư ngụ: Vietnam
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 1992
Msg 8 of 27: Đă gửi: 30 May 2005 lúc 5:55pm | Đă lưu IP Trích dẫn LuuBi.

daothuhang đă viết:
Em ít tuôi hơn chị đó nha !!!


em có nói ǵ đâu ??? nói là chị đă reply rồi làm sao em sữa ???? có vậy thôi mà tỹ cũng nóng giận rồi
Quay trở về đầu Xem LuuBi.'s Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi LuuBi.
 
daothuhang
Hội viên
 Hội viên


Đă tham gia: 25 August 2003
Nơi cư ngụ: Vietnam
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 192
Msg 9 of 27: Đă gửi: 30 May 2005 lúc 7:55pm | Đă lưu IP Trích dẫn daothuhang

uh


__________________
hang
Quay trở về đầu Xem daothuhang's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi daothuhang
 
hoalan
Học Viên Lớp Tử Vi
Học Viên Lớp Tử Vi
Biểu tượng

Đă tham gia: 22 February 2005
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 31
Msg 10 of 27: Đă gửi: 30 May 2005 lúc 10:53pm | Đă lưu IP Trích dẫn hoalan

Bài viết này hay quá, tớ rất thích lư giải các vấn đề một cách đơn giản dễ hiểu như thế này, để những người ngu ngu như tớ đọc cũng hiểu được :-D
Quay trở về đầu Xem hoalan's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi hoalan
 
Huang Di
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 07 November 2004
Nơi cư ngụ: Vatican City State
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 69
Msg 11 of 27: Đă gửi: 30 May 2005 lúc 11:34pm | Đă lưu IP Trích dẫn Huang Di

diennien đă viết:
LS Việt nam th́ rối ren lắm
- thời nay họ chủ yếu nói không đúng về sự thực LS , rơ nhất là bênh vực nhà Hồ, như Hồ quư Ly, rồi Hồ Thơm, có điều ǵ rất khuất tất có liên hệ tới ḍng họ mà tôi không tiện nói ra


Nhà Hồ th́ có ǵ xấu, Hồ Quư Ly th́ sao và Hồ Thơm th́ sao, liên hệ ḍng họ nào có ǵ khuất tât ? Nói như thế thà không nói c̣n hơn. Hơi tư là liên hệ chính chị chính em luôn hằn học thù hằn . Sao không nói ra sợ ǵ nhỉ ?
Quay trở về đầu Xem Huang Di's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi Huang Di
 
Thien Viet
Hội viên
 Hội viên


Đă tham gia: 09 September 2002
Nơi cư ngụ: Vietnam
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 1219
Msg 12 of 27: Đă gửi: 31 May 2005 lúc 1:51am | Đă lưu IP Trích dẫn Thien Viet

Đất Thủ Thiêm là đất śnh chứ ko phải đất g̣, muốn xây nhà th́ phải đóng cừ tràm hoặc cọc bê tông, thường th́ phải đóng bê tông dài 30m, hàng trăm cây bê tông trên một móng nhà, như vậy rơ thấy Thủ Thiêm ko phải là nơi Phong thủy tụ khí mà chỉ là băi bồi mà thôi.
Quay trở về đầu Xem Thien Viet's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi Thien Viet
 
nhpv
Hội viên
 Hội viên


Đă tham gia: 15 March 2003
Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 157
Msg 13 of 27: Đă gửi: 31 May 2005 lúc 2:35am | Đă lưu IP Trích dẫn nhpv

Hà Nội không nên là thủ đô của VN bởi v́ trong tầm hoă tiển cũa TQ và vịnh bắc bộ th́ có hải quân TQ đang ở thế thượng phong. C̣n muốn Hà Nội là thủ đô th́ nên dời Đệ Thất Hạm Đội từ Okinawa về Cam Ranh.   
Quay trở về đầu Xem nhpv's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi nhpv
 
LuuBi.
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 18 May 2005
Nơi cư ngụ: Vietnam
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 1992
Msg 14 of 27: Đă gửi: 31 May 2005 lúc 2:56am | Đă lưu IP Trích dẫn LuuBi.

nhpv đă viết:
Hà Nội không nên là thủ đô của VN bởi v́ trong tầm hoă tiển cũa TQ và vịnh bắc bộ th́ có hải quân TQ đang ở thế thượng phong. C̣n muốn Hà Nội là thủ đô th́ nên dời Đệ Thất Hạm Đội từ Okinawa về Cam Ranh.   


đệ thất hạm đội là ǵ có phải 7 chiếc tàu chiến không ?? trung quốc và việt nam có giao t́nh mà dù cho Thủ đô ở chỗ nào th́ cũng vậy! cho dù Trung quốc muốn ǵ mà thũ đô ở đâu mà họ lấy không được!!

Sửa lại bởi LuuBi. : 31 May 2005 lúc 2:57am
Quay trở về đầu Xem LuuBi.'s Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi LuuBi.
 
Huang Di
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 07 November 2004
Nơi cư ngụ: Vatican City State
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 69
Msg 15 of 27: Đă gửi: 31 May 2005 lúc 6:23am | Đă lưu IP Trích dẫn Huang Di

Thủ đô nên ở ḷng dân, ḷng dân không theo th́ thủ đô đâu cũng thế.
Quay trở về đầu Xem Huang Di's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi Huang Di
 
dinhvantan
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 20 September 2003
Nơi cư ngụ: Vietnam
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 6262
Msg 16 of 27: Đă gửi: 31 May 2005 lúc 7:38am | Đă lưu IP Trích dẫn dinhvantan

Huang Di đă viết:

Nhà Hồ th́ có ǵ xấu, Hồ Quư Ly th́ sao và Hồ Thơm th́ sao, liên hệ ḍng họ nào có ǵ khuất tât ?

Th́ hỏi một trong tú trụ th́ biết hay t́m bài Ông ấy mà đọc để biết .

Sửa lại bởi dinhvantan : 31 May 2005 lúc 8:19am
Quay trở về đầu Xem dinhvantan's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi dinhvantan
 
Huang Di
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 07 November 2004
Nơi cư ngụ: Vatican City State
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 69
Msg 17 of 27: Đă gửi: 31 May 2005 lúc 8:23am | Đă lưu IP Trích dẫn Huang Di

dinhvantan đă viết:
Huang Di đă viết:

Nhà Hồ th́ có ǵ xấu, Hồ Quư Ly th́ sao và Hồ Thơm th́ sao, liên hệ ḍng họ nào có ǵ khuất tât ?

Th́ hỏi một trong tú trụ th́ biết hay t́m bài mà đọc để biết .

Chẳng việc j phải hỏi ai cả, rơ như ban ngày rồi. Mà vào mấy trang web của các bác dân chủ là biết.... hichic... có ngày tàu hoả nhập ma mất. Và Hồ Quư Ly, Hồ Thơm (Quang Trung Nguyến Huệ ?) hay Hồ ǵ đi nữa th́ đều không bán nước cầu vinh, không chạy theo quân xâm lược. Vậy đă đủ chưa nhỉ. Bàn loạn tư tẹo .
P/s : Cho hỏi tứ trụ là ai
Quay trở về đầu Xem Huang Di's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi Huang Di
 
dinhvantan
Hội viên
 Hội viên
Biểu tượng

Đă tham gia: 20 September 2003
Nơi cư ngụ: Vietnam
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 6262
Msg 18 of 27: Đă gửi: 31 May 2005 lúc 12:41pm | Đă lưu IP Trích dẫn dinhvantan

Tú trụ là 4 cột trụ c̣n lại ở miền Bắc hay ở Hà Nội, mỗi ngài chuyên một ngành , ví dụ ngành y là một ngành, ngành sử cũng là một ngành .
Quay trở về đầu Xem dinhvantan's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi dinhvantan
 
nhpv
Hội viên
 Hội viên


Đă tham gia: 15 March 2003
Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 157
Msg 19 of 27: Đă gửi: 31 May 2005 lúc 4:06pm | Đă lưu IP Trích dẫn nhpv

"Và Hồ Quư Ly, Hồ Thơm (Quang Trung Nguyến Huệ ?) hay Hồ ǵ đi nữa th́ đều không bán nước cầu vinh, không chạy theo quân xâm lược."

Việt Nam ḿnh từ đời lập quốc tời giờ chỉ có TQ là quân xâm lược. Đời xưa th́ thôn tín lănh thổ, đời nay th́ gậm nhấm lănh thổ mà c̣n thêm về mặc kinh tế nữa .
Quay trở về đầu Xem nhpv's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi nhpv
 
Loban
Hội viên
 Hội viên


Đă tham gia: 18 May 2005
Nơi cư ngụ: United States
Hiện giờ: Offline
Bài gửi: 69
Msg 20 of 27: Đă gửi: 02 June 2005 lúc 12:07pm | Đă lưu IP Trích dẫn Loban

Đọc bài đăng này, Loban chợt nhớ tới một nhân vật trong tiểu thuyết của Kim Dung mà Loban đă đọc từ 30 năm trước. Đó là Cừu Thiên Lư, người anh của Cừu Thiên Nhận, xuống từ đỉnh núi có dấu Vũ Mục Di Thư và chạm trán với Hoàng Dung.

Loban


__________________
CTB, BTT
Quay trở về đầu Xem Loban's Thông tin sơ lược T́m các bài viết đă gửi bởi Loban
 

Trang of 2 Kế tiếp >>
  Gửi trả lời Gửi bài mới
Bản để in Bản để in

Chuyển diễn đàn
Bạn không thể gửi bài mới
Bạn không thể trả lời cho các chủ đề
Bạn không thể xóa bài viết
Bạn không thể sửa chữa bài viết
Bạn không thể tạo các cuộc thăm ḍ ư kiến
Bạn không thể bỏ phiếu cho các cuộc thăm ḍ



Trang này đă được tạo ra trong 3.4941 giây.
Google
 
Web tuvilyso.com



DIỄN ĐÀN NÀY ĐĂ ĐÓNG CỬA, TẤT CẢ HỘI VIÊN SINH HOẠT TẠI TUVILYSO.ORG



Bản quyền © 2002-2010 của Tử Vi Lý Số

Copyright © 2002-2010 TUVILYSO