| Tác giả |
|
nhoccon1412 Hội viên


Đă tham gia: 15 March 2005 Nơi cư ngụ: Vietnam
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 329
|
| Msg 1 of 2: Đă gửi: 10 August 2005 lúc 8:22pm | Đă lưu IP
|
|
|
Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Thần Chú
Việt dịch: Sư Bà Hải Triều Âm
1 - Nam mô sát tát tha, sô ga đa da, a ra ha tê, sam mya sam bô đa sê.
2 - Nam mô sát tát tha, bu đa cô ti, si ni sam.
3 - Nam mô sát va, bu đa bu ti, sát ta bê tê.
4 - Nam mô sát ta nam, sam mya sam bô đa cô ti nam.
5 - Sa sê ra pa ca, săng ga nam.
6 - Nam mô lu kê a ra han ta nam.
7 - Nam mô su ru ta pa na nam.
8 - Nam mô sa khít ri ta ca mi nam.
9 - Nam mô lu kê sam mya ca ta nam.
10 - Sam mya ca pa ra, ti pa ta na nam.
11 - Nam mô đê va li si nan.
12 - Nam mô si ta da pi ti da, ta ra li si nan.
13 - Sê pa nu, gơ ra ha, sô ha sa ra ma tha nam.
14 - Nam mô pát ra ha ma ni.
15 - Nam mô in đa ra da.
16 - Nam mô ba ga va tê.
17 - Ru đa ra da.
18 - U ma pun ti.
19 - Sô hê da da.
20 - Nam mô ba ga va tê.
21 - Na ra da, na da.
22 - Phun cha ma ha, sam mu ta ra.
23 - Nam mô si khít ri ta da.
24 - Nam mô ba ga va tê.
25 - Ma ha ca ra da.
26 - Ti ri pa ra na ga ra.
27 - Pi ta ra, pa na ca ra da.
28 - A ti mu tê.
29 - Si ma sa na ni, ba si ni.
30 - Ma tát ri ga na.
31 - Nam mô si khít ri ta da.
32 - Nam mô ba ga va tê.
33 - Ta tha ga ta cô ra da.
34 - Nam mô pát tâu ma cô ra da.
35 - Nam mô pát cha ra cô ra da.
36 - Nam mô ma ni cô ra da.
37 - Nam mô ga cha cô ra da.
38 - Nam mô ba ga va tê.
39 - Ti ri đa su ra si na.
40 - Pa ra ha ra na ra cha da.
41 - Ta tha ga ta da.
42 - Nam mô ba ga va tê.
43 - Nam mô a mi ta ba da.
44 - Ta tha ga ta da.
45 - A ra ha tê.
46 - Sam mya sam bô đa da.
47 - Nam mô ba ga va tê.
48 - A sô bi da.
49 - Ta tha ga ta da.
50 - A ra ha tê.
51 - Sam mya sam bô đa da.
52 - Nam mô ba ga va tê.
53 - Bi sa cha da, cu ru phi chu ri da.
54 - Pa ra bà ra cha da.
55 - Ta tha ga ta da.
56 - Nam mô ba ga va tê.
57 - Sam pu su pi ta.
58 - Sát lin nai ra si cha da.
59 - Ta tha ga ta da.
60 - A ra ha tê.
61 - Sam mya sam bô đa da.
62 - Nam mô ba ga va tê.
63 - Sê kê dê mu na dây.
64 - Ta tha ga ta da.
65 - A ra ha tê.
66 - Sam mya sam bô đa da.
67 - Nam mô ba ga va tê.
68 - Si tát na kê tu ra cha da.
69 - Ta tha ga ta da.
70 - A ra ha tê.
71 - Sam mya sam bô đa da.
72 - Ti piêu, nam mô sát khít ri ta.
73 - Ê đam, ba ga va ta.
74 - Sát tát tha, ga tu si ni sam.
75 - Sát tát ta, pát tát lam.
76 - Nam mô a ba ra si đam.
77 - Paùt ra ti, dang ky ra.
78 - Sát ra ba, pu ta gơ ra ha.
79 - Ni gơ ra ha, khít ca ra ha ni.
80 - Pát ra, pi ti da, cha đa ni.
81 - A ca ra, mớt ri chu.
82 - Pát ri tát ra da, nang khít ri.
83 - Sát ra ba, pun đa na, mu sa ni.
84 - Sát ra ba, tát si cha.
85 - Tát si pháp, pun ma ni, phát ra ni.
86 - Chê tu ra, si ti nam.
87 - Gơ ra ha, sô ha sát ra nha cha.
88 - Pi ta pang sa na khít ri.
89 - A si cha pinh sê ti nam.
90 - Na sa sát tát ra nha cha.
91 - Pa ra sát tha na khít ri.
92 - A si cha nam.
93 - Ma ha gơ ra ha nha cha.
94 - Pi ta pang sát na khít ri.
95 - Sát va sê tu ru, ni ba ra nha cha.
96 - Hu lam tát si pháp, nan cha na sê ni.
97 - Pi sa sê, si tát ra.
98 - A kít ni, u đa ca ra nha cha.
99 - A pát ra si ta khu ra.
100 - Ma ha pát ra chên chi.
101 - Ma ha típ ta.
102 - Ma ha ti cha.
103 - Ma ha suê ta cha ba ra.
104 - Ma ha pát ra pun đa ra, ba si ni.
105 - A ri da ta ra.
106 - Pi ri cô ti.
107 - Si va pi cha da.
108 - Pát cha ra, ma ly ty.
109 - Pi sê ru ta.
110 - Pút tang mang ca.
111 - Pát cha ra, chi hô na a cha.
112 - Ma ra chi ba, pát ra chi ta.
113 - Pát cha ra sin chi.
114 - Pi sê ra cha.
115 - Sin ta sê, bê đê va, pu si ta.
116 - Su ma ru pa.
117 - Ma ha suê ta.
118 - A ri da ta ra.
119 - Ma ha ba ra, a pát ra.
120 - Pát cha ra, xương khít ra chê ba.
121 - Pát cha ra, cu ma ri.
122 - Cu lam ta ri.
123 - Pát cha ra, hốt sát ta cha.
124 - Pi ti da khin chê na, ma ri ca.
125 - Quát su mu, ba khít ra ta na.
126 - Vê rô cha na, cu ri da.
127 - Da ra thâu, si ni sam.
128 - Pi chi lam ba ma ni cha.
129 - Pát cha ra, ca na, ca pa ra ba.
130 - Rô cha na, pát cha ra, tân chi cha.
131 - Suê ta cha, ca ma ra.
132 - Sát sa si, pa ra ba.
133 - Ê tê di tê.
134 - Mu ta ra, kít na.
135 - Sô bê ra sam.
136 - Quát pham tu.
137 - In thâu na, ma ma sê.
- II -
138 - U hum,
139 - Ry si kít na.
140 - Pa ra, sê si ta.
141 - Sát tát tha, ga tu si ni sam.
142 - Hu hum,
143 - Tu ru ung,
144 - Chim ba na.
145 - Hu hum,
146 - Tu ru ung,
147 - Si đam ba na.
148 - Hu hum,
149 - Tu ru ung,
150 - Pa ra si đi da, sam pát soa, na khít ra.
151 - Hu hum,
152 - Tu ru ung,
153 - Sát va dác sa, hát ra sát sa.
154 - Gơ ra ha nha cha.
155 - Pi tang pang sát, na khít ra.
156 - Hu hum,
157 - Tu ru ung,
158 - Chê tu ra, si ti nam.
159 - Gơ ra ha, sa ha sát ra nam.
160 - Pi tang pang sát na ra.
161 - Hu hum,
162 - Tu ru ung,
163 - Ra soa,
164 - Ba ga va.
165 - Sát tát tha, ga tu si ni sam.
166 - Pa ra tim, cha kít ri.
167 - Ma ha, sô ha sát ra.
168 - Bút su sa, ha sát ra, si ri sa.
169 - Cô ti, sô ha sát ni, ti lê.
170 - A pi đi si, ba ri ta.
171 - Cha cha ang ca.
172 - Ma ha pát cha ru ta ra.
173 - Ti ri bô ba na.
174 - Man ta ra.
175 - U hum,
176 - Sa si ti, bô ba tu.
177 - Ma ma,
178 - In thâu na, ma ma sê.
- III -
179 - Ra cha ba da.
180 - Chu ra pát da.
181 - A chi ni ba da.
182 - U đa ca ba da.
183 - Pi sa ba da.
184 - Sê sát ta ra ba da.
185 - Ba ra chước khiết ra ba da.
186 - Tát sít soa ba da.
187 - A sê ni ba da.
188 - A ca ra mơ ri chu ba da.
189 - Đa ra ni, pu mi kim, ba ga va ta ba da.
190 - U ra ca, ba đa ba da.
191 - Rát cha than đa ba da.
192 - Na ga ba da.
193 - Pi thiêu tát ba da.
194 - Sô pa ra na ba da.
195 - Dác soa gơ ra ha.
196 - Ra soa si gơ ra ha.
197 - Pê ri ta gơ ra ha.
198 - Pi sa cha gơ ra ha.
199 - Pu ta gơ ra ha.
200 - Cu ban đa gơ ra ha.
201 - Pu tan na gơ ra ha.
202 - Ca cha pu tan na gơ ra ha.
203 - Si kin tu gơ ra ha.
204 - A pa si ma ra gơ ra ha.
205 - U than ma ta gơ ra ha.
206 - Sa da gơ ra ha.
207 - Hê ri ba ti gơ ra ha.
208 - Sê ta ha ri nam.
209 - Khít ba ha ri nam.
210 - Ru ti ra ha ri nam.
211 - Mang sa ha ri nam.
212 - Mê ta ha ri nam.
213 - Ma cha ha ri nam.
214 - Cha ta ha ri nu.
215 - Si pi ta ha ri nam.
216 - Pi ta ha ri nam.
217 - Ba đa ha ri nam.
218 - A su cha ha ri nu.
219 - Chít ta ha ri nu.
220 - Ti sam sát bi sam.
221 - Sát va gơ ra ha nam.
222 - Pi đa da cha, san đa da mi
223 - Kê ra da mi,
224 - Pa ri pát ra chê ca, cát ri tam.
225 - Pi đa da cha, san đa da mi
226 - Kê ra da mi,
227 - Đa din ni, cát ri tam.
228 - Pi đa da cha, san đa da mi
229 - Kê ra da mi,
230 - Ma ha pát su pát tát da,
231 - Ru đa ra, cát ri tam.
232 - Pi đa da cha, san đa da mi
233 - Kê ra da mi,
234 - Na ra da na, cát ri tam.
235 - Pi đa da cha, san đa da mi
236 - Kê ra da mi,
237 - Tát toa ga ru đa si, cát ri tam.
238 - Pi đa da cha, san đa da mi
239 - Kê ra da mi,
240 - Ma ha ca ra, ma tát ri ga na, cát ri tam.
241 - Pi đa da cha, san đa da mi
242 - Kê ra da mi,
243 - Ca pa ri ca, cát ri tam.
244 - Pi đa da cha, san đa da mi
245 - Kê ra da mi,
246 - Cha da khít ra, ma tu khít ra.
247 - Sát va ra tha sa tát na, cát ri tam.
248 - Pi đa da cha, san đa da mi
249 - Kê ra da mi,
250 - Chư chát ra, ba ky ni, cát ri tam.
251 - Pi đa da cha, san đa da mi
252 - Kê ra da mi,
253 - Pi ri dang cát ri chi
254 - Nan đa kê sa ra, ga na phun ti.
255 - Sát hê da, cát ri tam.
256 - Pi đa da cha, san đa da mi
257 - Kê ra da mi,
258 - Na khít na sa ra ba na, cát ri tam.
259 - Pi đa da cha, san đa da mi
260 - Kê ra da mi,
261 - A ra han, cát ri tam, pi đa da cha, san đa da mi,
262 - Kê ra da mi,
263 - Pi ta ra ga, cát ri tam.
264 - Pi đa da cha, san đa da mi
265 - Kê ra da mi, pát cha ra pa mi,
266 - Cu hê da cu hê da,
267 - Ca đi pát ti cát ri tam.
268 - Pi đa da cha, san đa da mi
269 - Kê ra da mi,
270 - Ra soa mang,
271 - Ba ga va,
272 - In thâu na ma ma sê.
- IV -
273 - Ba ga va,
274 - Si ta ta, pa tơ ra.
275 - Nam mô suy tu tê.
276 - A si ta na ra chi ca.
277 - Pa ra va, si phu cha.
278 - Pi ca sát tát ta pát ti ri.
279 - Sập phật ra sập phật ra,
280 - Đa ra đa ra,
281 - Văn đa ra, văn đa ra, san đa san đa.
282 - Hu hum,
283 - Hu hum.
284 - Phun cha,
285 - Phun cha, phun cha, phun cha, phun cha.
286 - Sô ha,
287 - Hê hê phun.
288 - A mâu ca da phun.
289 - A pa ra đê ha ta phun.
290 - Ba ra pa ra ta phun.
291 - A sô ra, pi ta ra, pa ca phun.
292 - Sát va đê bê pi phun.
293 - Sát va na ga pi phun.
294 - Sát va dác sa pi phun.
295 - Sát va gan đa va pi phun.
296 - Sát va pu ta na pi phun.
297 - Ca cha pu ta na pi phun.
298 - Sát va tát lang chi ti pi phun.
299 - Sát va tát sít pi lây, cát si ti pi phun.
300 - Sát va sấp ba lay pi phun.
301 - Sát va a pa si mô lay pi phun.
302 - Sát va sê ra ba na pi phun.
303 - Sát va ti tê kê pi phun.
304 - Sát va tát ma ta ky pi phun.
305 - Sát va pi ta da ra si cha lây pi phun.
306 - Cha da khít ra, ma tu khít ra,
307 - Sát va ra tha sa đa kê pi phun.
308 - Pi ti da cha lây pi phun.
309 - Chê tu ra, phác ky ni pi phun.
310 - Pát cha ra, cu ma ri,
311 - Pi ta da, ra si pi phun.
312 - Ma ha pa ra tinh dang, soa ky ri pi phun.
313 - Pát cha ra sang khít ra da,
314 - Pa ra chang ky ra cha da phun.
315 - Ma ha ca ra da,
316 - Ma ha mút tát ri ca na,
317 - Nam mô sa khít ri ta da phun.
318 - Pi si na phi dây phun.
319 - Pu ra ha mâu ni dây phun.
320 - A ky ni dây phun.
321 - Ma ha khít ri dây phun.
322 - Khít ra than chi dây phun.
323 - Mít tát ri dây phun.
324 - Ru tát ri dây phun.
325 - Cha man đa dây phun.
326 - Khít la ra tát ri dây phun.
327 - Ca phun ri dây phun.
328 - A ti mu chít ta, ca si ma sa na,
329 - Ba su ni dây phun.
330 - Din kít chít,
331 - Sát tô va sê,
332 - Ma ma in thâu na ma ma sê.
- V -
333 - Tát si cha chít ta.
334 - A mút tát ri chít ta.
335 - U cha ha ra.
336 - Ga ba ha ra.
337 - Rô ti ra ha ra.
338 - Ba sa ha ra.
339 - Ma cha ha ra.
340 - Cha ta ha ra.
341 - Si pi ta ha ra.
342 - Pát lác da ha ra.
343 - Khin ta ha ra.
344 - Pu sư pa ha ra.
345 - Phô ra ha ra.
346 - Ba sê ha ra.
347 - Pún pa chít ta.
348 - Tát si cha chít ta.
349 - Lu ta ra chít ta.
350 - Dác sa gơ ra ha.
351 - Ra sát sa gơ ra ha.
352 - Pay lê ta gơ ra ha.
353 - Pi sa cha gơ ra ha.
354 - Pu ta gơ ra ha.
355 - Cu ban đa gơ ra ha.
356 - Si khin ta gơ ra ha.
357 - U tát ma ta gơ ra ha.
358 - Sê dê gơ ra ha.
359 - A pa sát ma ra gơ ra ha.
360 - Chác khu cát, đa ky ni gơ ra ha.
361 - Ri pút ti gơ ra ha.
362 - Cha mi ca gơ ra ha.
363 - Sa cu ni gơ ra ha.
364 - Mu ta ra, nan ti ca gơ ra ha.
365 - A lam ba gơ ra ha.
366 - Khin tu pa ni gơ ra ha.
367 - Sập phạt ra, in ca hê ca.
368 - Chuy ti dác ca.
369 - Tát lê ti dác ca.
370 - Chê tát thác ca.
371 - Ni đê sập phạt ra, pi sam ma sập phạt ra.
372 - Pô ti ca,
373 - Pi ti ca,
374 - Sít lê si mi ca.
375 - Sa ni pun ti ca.
376 - Sát va sập phạt ra.
377 - Sít ru kít tê.
378 - Mút đa bi tát ru chê kim.
379 - A y ru khim.
380 - Mu khu ru khim.
381 - Khít ri tát ru khim.
382 - Khít ra ha, khít lam.
383 - Khít na su lam.
384 - Tan ta su lam.
385 - Ngát ri da su lam.
386 - Mát ma su lam.
387 - Pát ri si ba su lam.
388 - Pi lát si cha su lam.
389 - U ta ra su lam.
390 - Khít chi su lam.
391 - Pát si ti su lam.
392 - U ru su lam.
393 - Sang ca su lam.
394 - Hát si ta su lam.
395 - Pát ta su lam.
396 - Sa phang ang ca pát ra, chang kha su lam.
397 - Pu ta bi ta đa.
398 - Đa ky ni sấp ba ra.
399 - Ta tát ru ca, kin chát ru kít chi, ba lu ta pi.
400 - Sát pát ru ha lang ca.
401 - Su sa tát ra, sa na khít ra.
402 - Pi sa du ca.
403 - A ky ni, u ta ca.
404 - Mát ra bê ra, kin ta ra.
405 - A ca ra, mít ri chát, than lim pu ca.
406 - Ti lất chi cha.
407 - Pi ri sít chít ca.
408 - Sát va na khu ra.
409 - Si dan ga pi, khít ra ri dác sa, tát ra sô.
410 - Mát ra si, phê ti sam sa bê sam.
411 - Si ta ta, pa tơ ra.
412 - Ma ha pát cha ru, sít ni sam.
413 - Ma ha pa ra chang ky lam.
414 - Da pa tát đa sa du cha na.
415 - Pin tan ly na.
416 - Pi đa da, ban đam ca ru mi.
417 - Ti su, ban đam ca ru mi.
418 - Pát ra pi đa, ban đam ca ru mi.
419 - Ta đya tha.
420 - A ôm,
421 - A na lê,
422 - Bi su đê,
423 - Bê ra, pát cha ra, đa ri.
424 - Pun đa pun đa ni,
425 - Pát cha ra pang ni phun.
426 - Hu hum tu ru ung phun,
427 - Sô va ha.
(Âm Việt Nam theo bản tiếng sanscrit (chữ Phạn). Sư cụ Tuệ Nhuận xuất bản ở Hà Nội năm 1949).
Công Đức Thần Chú Thủ Lăng Nghiêm
Anan, những câu nhiệm mầu, những bài kệ bí mật Phật đỉnh quang tụ Tát đát đa bát đát ra xuất sanh mười phương chư Phật. Mười phương Như Lai nhân chú tâm này, thành vô thượng chánh biến tri giác. Mười phương Như Lai nắm chú tâm này uốn dẹp các ma, chế phục ngoại đạo. Mười phương Như Lai vận chú tâm này ngồi hoa sen báu, ứng hiện vi trần cơi nước. Mười phương Như Lai ngậm chú tâm này nơi vi trần cơi chuyển đại pháp luân. Mười phương Như Lai giữ chú tâm này xoa đỉnh thọ kư cho các Bồ-tát. Tự ḿnh quả vị chưa thành, nương chú tâm này sẽ được mười phương Phật thọ kư. Mười phương Như Lai nương chú tâm này cứu vớt các khổ địa ngục, ngă quỷ, bàng sanh, đui điếc ngọng câm, oán thù gặp gỡ, ân ái biệt ly, cầu bất đắc, năm ấm xí thịnh. Tai nạn lớn nhỏ đồng thời giải thoát. Nạn giặc, binh, vua, nước, gió, lửa, tù ngục cho đến đói khát bần cùng đều được tiêu tan. Mười phương Như Lai theo chú tâm này ở khắp mười phương phụng sự thiện tri thức, cúng dường như ư. Trong pháp hội hằng sa Như Lai, tŕ chú tâm này được suy tôn là đại Pháp-vương-tử. Mười phương Như Lai dùng chú tâm này nhiếp thọ thân nhân, khiến hàng tiểu thừa nghe tạng bí mật không sanh kinh sợ. Mười phương Như Lai truyền chú tâm này, sau khi diệt độ, phó chúc pháp sự được cứu cánh trụ tŕ, nghiêm tịnh giới luật ắt được thanh tịnh.
Nếu ta nói chú Phật đỉnh quang tụ Bát đát ra này từ sáng đến tối, âm thanh nối nhau, chữ câu không trùng điệp, trải qua kiếp số như cát sông Hằng cũng không cùng tận(29). Chú này cũng gọi là Như Lai Đỉnh.
Các ông c̣n hữu học cầu quả A-la-hán, không tŕ chú này quyết không tránh khỏi ma sự. Anan, viết chép chú này trên vỏ cây, lá bối, giấy trắng, lụa là, đựng trong túi thơm hoặc đeo trên ḿnh, hoặc thờ trong nhà th́ trọn đời tất cả các thứ độc không hại được, kiếp kiếp chẳng sanh vào những nơi bần cùng hạ tiện chẳng được vừa ư.
Anan, ta tuyên lại chú này để cứu giúp thế gian thoát khổ sợ hăi, thành tựu trí tuệ xuất thế gian. Sau khi ta diệt độ, đời mạt pháp ai tụng hay dạy người tụng th́ những thần chú ác của thiên long quỷ thần tinh kỳ ma mị đều vô can. Dù chưa được chánh thọ, tất cả trú trớ yểm cổ thuốc độc, kim độc, ngân độc và các độc khí vào miệng người ấy đều thành cam lồ. Tất cả ác tinh, ác quỷ thần, không thể khởi ác niệm. Dạ Ca và các ác độc quỷ vương, v́ đă lănh ơn sâu nên thường giữ ǵn ủng hộ. Thần chú này có 84.000 na do tha hằng hà sa câu chi chủng tộc Kim Cương Tạng Vương Bồ-tát cùng quyến thuộc ngày đêm theo hầu. Tŕ chú này dù tâm tán loạn, các ngài vẫn không bỏ. Đối với người Bồ-đề tâm quyết định th́ các ngài chuyên thầm xúc tiến để khai sáng thần thức, khiến có thể nhớ lại 84.000 hằng hà sa kiếp. Đời đời không sanh vào các loài ác độc.
Mười phương Như Lai có bao nhiêu công đức đều cho người tŕ chú. Hằng hà sa kiếp thường cùng chư Phật đồng sanh một chỗ. Vô lượng công đức nhóm lại như chùm ác-xoa. V́ đồng với Phật một chỗ huân tu, nên phá giới trở về thanh tịnh, chưa được giới khiến được giới, không tŕ trai giới tự thành trai giới, chưa tinh tấn khiến tinh tấn, không trí tuệ khiến có trí tuệ. Dù xưa kia đă phạm cấm giới, sau khi tŕ chú, bao tội nặng nhẹ nhất thời tiêu diệt. Uống rượu, ăn ngũ tân, các thứ không sạch, tất cả chư Phật, Bồ-tát, Kim Cương, thiên tiên, quỷ thần đều tha thứ. Tất cả hành vi cử động đều được coi như thanh tịnh. Y phục rách nát bẩn thỉu cũng không lỗi. Dù không lập đàn, không vào đạo tràng, không hành đạo mà tŕ chú này công đức vẫn viên măn. Ngũ nghịch, vô gián, tứ khí, bát khí, một khi tụng chú này như gió mạnh thổi tan đống cát. Đọc, tụng, chép thần chú, đeo trên thân, để nơi chỗ ở, tất cả tội chướng nặng nhẹ từ vô lượng kiếp đều tiêu tan như tuyết gặp nước sôi, chẳng bao lâu sẽ chứng vô sanh nhẫn.
Chí tâm nhớ niệm thần chú hoặc đeo trên ḿnh th́ cầu con liền được con trai, con gái phước đức trí tuệ. Cầu sống lâu được sống lâu, cầu quả báo mau viên măn, mau được viên măn. Về thân mệnh sắc lực cầu ǵ cũng được như ư. Mệnh chung tùy nguyện văng sanh mười phương Tịnh-độ. Chắc chắn không lạc về biên địa hạ tiện, huống nữa là các tạp h́nh.
Này Anan, viết thần chú này để trên bốn cửa thành, các tháp hay trên nóc nhà ; khiến nhân dân kính rước chú này, lễ bái cung kính nhất tâm cúng dường ; khiến mỗi người đeo chú trong ḿnh hoặc để nơi chỗ ở ; th́ tất cả các nạn đói kém, bệnh dịch đao binh... tất cả các thứ tai ách thảy đều tiêu tan.
Này Anan, nơi nào có thần chú này, thiên long vui mừng, mưa gió thuận thời, ngũ cốc được mùa, dân chúng an vui, đêm ngày ngủ yên không ác mộng. Cơi Ta Bà có 84.000 ác tinh, 28 đại ác tinh làm thượng thủ, đứng chủ là 8 đại ác tinh, xuất hiện nhiều h́nh trạng, gây ra các tai nạn dị kỳ. Chỗ nào có thần chú này, nội trong 12 do tuần, không c̣n những tai biến hung dữ ấy.
Vậy nên Như Lai truyền dạy chú này để bảo vệ vị lai các hàng sơ học vào chánh định được thân tâm thư thái an ổn. Những oan khiên đời trước, nghiệp cũ nợ xưa không c̣n khuấy hại. Anan cùng hàng hữu học, những kẻ tu hành vị lai, y pháp lập đàn tràng, giới sư giới tử thanh tịnh, đối với chú tâm này không nghi hối, nếu chính nơi thân cha mẹ sanh ra không được tâm thông, th́ mười phương Như Lai đều là vọng ngữ.
Kim Cương thiện thần phát nguyện bảo hộ :
Vô lượng trăm ngàn Kim Cương chắp tay đảnh lễ bạch rằng : Như lời Phật dạy, chúng con thành tâm bảo hộ những người tu đạo Bồ-đề.
Phạm Vương, Đế Thích, Tứ Thiên Vương cũng đồng thời đảnh lễ bạch rằng : Chúng con hết ḷng chí thành bảo hộ người tu học khiến một đời được như nguyện.
Vô lượng đại tướng Dược-xoa, các vua La-sát, Phú-đơn-na, Cưu-bàn-trà, Tỳ-xá-già, quỷ vương, quỷ soái đồng chắp tay đảnh lễ bạch rằng : Chúng con thề nguyện hộ tŕ người tu khiến tâm Bồ-đề mau được viên măn.
Vô lượng Nhật thiên tử, Nguyệt thiên tử, Thần gió, Thần mưa, Thần mây, Thần sấm sét, Thần điện chớp, cùng các Thần coi về năm tháng, các tinh sao và quyến thuộc v.v... đảnh lễ bạch rằng : Chúng con bảo hộ người tu hành ở trong đạo tràng được không sợ hăi.
Vô lượng Thần núi, Thần biển, tất cả linh kỳ đất đai muôn vật, thủy lục không hành, Phong thần vương và chư thiên vô-sắc giới đồng thời cúi đầu bạch rằng : Chúng con bảo hộ người tu hành không c̣n ma sự sớm thành Bồ-đề.
84.000 na do tha hằng hà sa câu chi Kim Cang Tạng Vương Bồ-tát đảnh lễ bạch rằng : Thế Tôn, chúng con thành đạo Bồ-đề đă lâu, không nhập Niết-bàn, thường theo chú này cứu giúp những bậc chân chánh tu Tam-ma-đề trong đời mạt pháp. Bạch Thế Tôn, những vị này dù ở trong đạo tràng kinh hành hay tán tâm đi trong làng xóm, quyến thuộc chúng con thường theo hộ vệ. Ma vương, Đại Tự Tại Thiên, muốn dùng phương tiện khuấy phá, chúng con dùng chày báu đập nát đầu họ như vi trần. Các quỷ thần nhỏ phải ở xa bậc thiện lành ấy mười do tuần, trừ khi họ phát tâm ủng hộ.
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
nhoccon1412 Hội viên


Đă tham gia: 15 March 2005 Nơi cư ngụ: Vietnam
Hiện giờ: Offline Bài gửi: 329
|
| Msg 2 of 2: Đă gửi: 11 August 2005 lúc 9:47pm | Đă lưu IP
|
|
|
Kinh Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm
Chương Đại Thế Chí
Niệm Phật Viên Thông
Ḥa Thượng Tuyên Hóa lược giải
Dịch Sang Việt Ngữ - Ban Phiên Dịch Kinh Điển
Vạn Phật Thánh Thành-Talmage, California
Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát
Nam Mô Kim Cang Tạng Bồ Tát
Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát
Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh, bảy chữ này là tựa đề của kinh. Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương là tựa đề của một chương trong bộ kinh ấy. Hôm nay v́ thời gian có hạn cho nên tôi không giải thích tựa Kinh Lăng Nghiêm. Chỉ đơn thuần giải thích tựa kinh cũng đ̣i hỏi rất nhiều thời giờ, v́ vậy tôi chỉ giảng sơ lược mà thôi.
Bộ Kinh Lăng Nghiêm này gồm có Chú Lăng Nghiêm. Hai chữ "Lăng Nghiêm" có nghĩa là "Cứu cánh kiên cố." Tại Trung Quốc bộ kinh này có tầm quan trọng đặc biệt, nên có câu:
Thành Phật có Pháp Hoa
Khai tuệ có Lăng Nghiêm
Tôi rất hoan hỷ giảng Kinh Lăng Nghiêm và Kinh Pháp Hoa, v́ hai bộ kinh này giúp khai mở trí tuệ và giúp thành Phật. Chẳng những tôi hoan hỷ mà c̣n mong muốn mỗi Phật tử đều nghiên cứu để am tường đạo lư trong Kinh, đặc biệt là Kinh Lăng Nghiêm.
Nói đến Kinh Lăng Nghiêm, tôi nhớ tại Trung Qưốc có một vị Trí Giả Đại Sư b́nh sanh chỉ nghe tên bộ Kinh này là liền ao ước được tŕ tụng. Hằng ngày, Ngài hướng về Ấn Độ rập đầu lễ bái, hy vọng có thể thấy tận mắt bộ kinh này. Ngài lễ bái suốt mười tám năm mà vẫn chưa thấy được bộ kinh. Trí tuệ của Trí Giả Đại Sư rất vượt bực, và biện tài của Ngài rất là vô ngại, nhưng Ngài vẫn hết sức thành kính lễ bái bộ Kinh Thủ Lăng Nghiêm. Như vậy đủ chứng tỏ tầm quan trọng của bộ Kinh này.
Kinh Lăng Nghiêm c̣n lưu hành trên thế gian, th́ thiên ma ngoại đạo đều không dám xuất hiện. Bất hạnh thay, vào thời Mạt-pháp Kinh Lăng Nghiêm sẽ là bộ kinh bị mất trước tiên. Một khi bộ Kinh Lăng Nghiêm này không c̣n trên thế gian nữa, thiên ma ngoại đạo sẽ mặc sức lộng hành.
Thậm chí hiện nay có một số người tự xưng là chuyên gia về Phật học mạo nhận là học giả từng nghiên cứu Phật-pháp, hoặc là giáo sư khoa học Phật học của một trường đại học nào đó, và công nhiên đề xướng rằng Kinh Lăng Nghiêm là giả, do người Trung Quốc ngụy tạo. Quư vị hăy nghĩ xem tuy rằng có rất nhiều thánh nhơn xuất hiện ở Trung Quốc nhưng tôi tin chắc rằng sẽ chẳng bao giờ t́m thấy được vị thánh nhân đă tạo ra Kinh Lăng Nghiêm đó. Cho nên tôi tuyệt đối tin rằng bộ Kinh Lăng Nghiêm này là thật, là chính xác, và là một bộ kinh khả dĩ hàng phục thiên ma, chế ngự ngoại đạo. V́ trong Chú Lăng Nghiêm toàn là những câu thần chú dùng để hàng phục thiên ma, chế ngự ngoại đạo. Từ câu chú đầu tiên đến câu chú cuối cùng, mỗi câu đều có một sự diệu dụng và uy lực bất khả tư ngh́ của nó. Cho nên, Phật v́ Chú Lăng Nghiêm mà thuyết Kinh Lăng Nghiêm.
Trước kia, tại Hương Cảng, có người đă phiên dịch Kinh Lăng Nghiêm ra Anh văn, nhưng lại xén bỏ đoạn Kinh văn về nghi quy thiết lập "Lăng Nghiêm Đàn," ngay cả Chú Lăng Nghiêm cũng bị loại bỏ. Vị dịch giả ấy nói rằng người Tây phương chẳng ai tin Chú Lăng Nghiêm và cũng chẳng ai tụng Chú này, bởi họ cho rằng Chú là những ǵ mê tín và không tin ở công dụng của Chú. Cho nên trong bản dịch Anh ngữ ấy không có đoạn nói về cách "thiết đàn" và cách tu tŕ "Lăng Nghiêm Đại Pháp."
Từ khi tôi đến các quốc gia Tây phương, nhất là qua kinh nghiệm bản thân ở Mỹ, tôi nhận thấy rất nhiều người Tây phương thích tŕ tụng Chú Lăng Nghiêm, và chẳng những hoan hỷ tŕ tụng mà c̣n học thuộc ḷng nữa.
Tại Kim Sơn Thánh Tự tôi có một đệ tử vào hai thời công phu sáng tối đều cùng chúng tôi tŕ tụng Chú Lăng Nghiêm và chỉ tụng mỗi ngày hai thời như thế mà trong hai mươi sáu ngày là y đă thuộc ḷng Chú Lăng Nghiêm!
Tại Mỹ Quốc môn học tôi đưa ra khảo hạch trước tiên là khi học thuộc ḷng Chú Lăng Nghiêm; ai trả bài thông suốt th́ đậu; ai không thuộc th́ tạm thời bị đánh rớt. Đó là quy định của khóa tu mùa hè năm 1968. Bấy giờ, có một người học thuộc trong hai mươi sáu ngày, và có một người trong hai mươi tám ngày. Cho nên hiện nay có rất nhiều Phật giáo đồ Tây phương biết đến Chú Lăng Nghiêm.
Quư Phật tử hăy nghĩ xem, v́ sao những kẻ mạo nhận là chuyên gia Phật học, những kẻ tự xưng là học giả, hoặc khoe khoang ḿnh là giáo sư của trường đại học nào đó, lại chủ trương Kinh Lăng Nghiêm là giả? Chỉ v́ những ǵ nói trong Kinh Lăng Nghiêm đều có đề cập đến khuyết điểm cùng những sai lầm của họ. Như trong Kinh có dạy rơ rằng: "Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối" (bốn điều răn dạy về tánh thanh tịnh), là không được phỉ báng. Những kẻ này chẳng muốn dứt bỏ khuyết điểm của họ nên mới chủ trương Kinh Lăng Nghiêm là do người Trung Quốc tạo ra.
Vậy, ban đầu do ai chủ trương như thế? Là do người Nhật. Thế người Nhật nói là ai nói với họ? Truy nguyên ra là một vị Pháp-sư Trung Quốc đă mách họ, bảo rằng Kinh Lăng Nghiêm là giả. Tôi chẳng rơ vị Pháp-sư này có hiểu Kinh Lăng Nghiêm chăng? Tôi không cần phải nêu danh tánh vị Pháp-sư này ra v́ chuyện đă xưa rồi. Như vậy, do "cái sai loan truyền cái sai" mà nói rằng Kinh Lăng Nghiêm là giả.
Việc này đủ chứng minh rằng Phật-pháp đang suy tàn, là do người trong hàng ngũ Phật giáo tạo ra tin đồn này, từng bước từng bước khiến cho người ta sinh ra hoài nghi, rồi dần dần không tin nữa. V́ hồ nghi không tin nên bộ Kinh này được xếp cất trên gác cao. Xếp lên xó gác th́ chẳng khác ǵ hủy diệt. V́ chẳng c̣n ai nghiên cứu hoặc quan tâm đến nữa, th́ lâu dần Kinh tất bị hủy diệt. Chẳng phải v́ Kinh không có chữ, hoặc v́ khan hiếm giấy, mà là v́ dần dà người ta quên hẳn nó đi.
V́ sao có người đề xướng Kinh Lăng Nghiêm là giả? Chỉ v́ họ không muốn tuân theo quy củ. Trong Kinh nói rằng 50 ấm ma có vô số phép thần thông song đều không đáng kể. Bởi vậy khi họ có đôi chút thần thông, th́ họ cho là nếu có thần thông th́ cũng bị xem là giả thôi. Cho nên những kẻ mưu cầu thần thông đều không thích kinh này.
Tôi nghe nói hiện nay tại Nhật Bản có một vị có thần thông, dùng tay chỉ ngọn nến th́ ngọn nến bốc cháy, không hiểu có đúng như vậy hay không? Ngày 14 sắp tới tôi sẽ đi Nhật Bản và có thể sẽ viếng thăm vị này. Từ lâu ông ta hy vọng được gặp tôi. Lần này gặp mặt chúng tôi có thể cùng nhau trao đổi ư kiến.
Tầm quan trọng của Kinh Lăng Nghiêm và Chú Lăng Nghiêm không thể nào nói cho hết được, và tương lai cũng không nói hết được sự diệu dụng, cho nên nói rằng bất khả tư ngh́.
Hôm nay tôi thành thật tŕnh bày với quư vị tầm mức diệu dụng của Chú Lăng Nghiêm này.
Khi xưa lúc tôi ở tại Đông Bắc, mỗi khi gặp người có bệnh tôi nhất định làm cho họ lành bịnh. Tôi lấy oai lực ǵ làm cho họ khỏi bịnh. Đó là oai lực của Chú Lăng Nghiêm.
Trong Chú Lăng Nghiêm có tất cả năm bộ:
Đông Phương có:
A Súc Phật - Kim Cang Bộ
Nam Phương có:
Bảo Sinh Phật - Bảo Sanh Bộ
Trung Ương có:
Tỳ Lô Giá Na Phật - Phật Bộ
Tây Phương có:
A Di Đà Phật - Liên Hoa Bộ
Bắc Phương có:
Thành Tựu Phật - Yết Ma Bộ
Phương Đông có A Súc Phật, A Súc Phật tức là Kim Cang Bộ; Phương Nam có Bảo Sanh Phật, tức là Bảo Sanh Bộ; Trung Ương là Phật Bộ; Phương Bắc là Yết Ma Bộ; tất cả gồm năm bộ. Năm bộ này cai quản năm đại ma quân ở năm phương trên thế giới, cho nên khi tŕ tụng Chú Lăng Nghiêm th́ năm đại ma quân có năm phương đều cúi đầu phủ phục, không dám cưỡng lại oai lực của Chú Lăng Nghiêm.
Công năng của Chú Lăng Nghiêm gồm có:
1. Tức tai Pháp
2. Hàng phục Pháp
3. Tăng ích Pháp
4. Thành tựu Pháp
5. Câu triệu Pháp.
1. Tức tai Pháp (Pháp giải trừ tai ương). Một khi chúng ta tŕ Chú lăng Nghiêm th́ hết thảy tai ương đều được giải trừ.
2. Hàng phục Pháp (Pháp làm cho hàng phục). Bất luận đối phương là thứ thiên ma ngoại đạo ǵ chăng nữa, một khi chúng ta tŕ Chú Lăng Nghiêm th́ pháp lực của chúng ma liền bị phá vỡ, chúng sẽ bị hàng phục dễ dàng.
3. Tăng ích Pháp (Pháp giúp tăng trưởng lợi ích). Thí dụ chúng ta tu đạo, Chú Lăng Nghiêm sẽ giúp chúng ta tăng trưởng trí tuệ, tăng trưởng bồ đề tâm, tăng trưởng nguyện lựcỦmọi thứ đều tăng trưởng. Đó là pháp làm gia tăng sự lợi ích.
4. Thành tựu Pháp (Pháp giúp cho được thành tựu). Chúng ta tŕ Chú Lăng Nghiêm, th́ bất luận chúng ta tu pháp môn ǵ, chú này cũng sẽ giúp chúng ta được thành tựu.
5. Lại c̣n một loại nữa là Câu triệu Pháp (Pháp thâu tóm về). Pháp này có thể dùng khi chúng ta gặp thiên ma ngoại đạo và muốn bắt chúng, cũng như trên thế gian cảnh sát bắt kẻ phạm tội vậy. Bất luận là thiên ma hay ngoại đạo, nếu chúng ta muốn bắt giữ chúng th́ hết thảy Hộ Pháp Thiện Thần, Thiên Long Bát Bộ, và tám muôn bốn ngàn Kim Cang Tạng Bồ Tát tức khắc bắt giữ chúng. Đó là Câu Triệu Pháp.
Chú Lăng Nghiêm gồm năm hội, và được phân ra trên ba mươi bộ pháp. Lúc tôi ở Đông Bắc tôi nhờ vào công lực của Chú Lăng Nghiêm để trị bịnh. Nhưng chẳng phải ai ai cũng tùy tiện sử dụng Chú Lăng Nghiêm được, nếu có dùng chú này chăng nữa th́ cũng không sử dụng được toàn bộ, v́ chú này bao gồm trên ba mươi bộ pháp.
Khi nghe tôi nói như vậy th́ có một số giáo sư đại học ở Mỹ không hiểu Phật-pháp nói rằng "A! Hóa ra Chú Lăng Nghiêm là do nhiều bài chú nhỏ chắp nối lại mà thành!" Qúy Phật tử nghĩ xem, đúng là làm tṛ cười cho thiên hạ! Chính họ cũng chẳng hiểu ất giáp ǵ cả, nên mới lấy bộ óc chứa đầy kiến thức khoa học của một giáo sư đại học mà suy đoán tầm mức bất khả tư nghị của Chú Lăng Nghiêm.
V́ sao tôi lại nhắc đến Chú Lăng Nghiêm? V́ Phật do Chú Lăng Nghiêm mà thuyết Kinh Lăng Nghiêm. Nếu chẳng có Chú Lăng Nghiêm th́ căn bản chẳng có Kinh Lăng Nghiêm.
Do đó vị phiên dịch Kinh Lăng Nghiêm sang Anh ngữ nói trên đă bỏ Chú Lăng Nghiêm và cũng không dịch phần nghi quy kết đàn. Như vậy, có thể nói rằng bản dịch Anh ngữ ấy chẳng khác ǵ người mất đầu. Một người không có đầu th́ c̣n chi hữu dụng nữa? Cho nên người phiên dịch Kinh điển không được tự ḿnh phán đoán, không được dùng cái trí tuệ hoặc cái tri kiến nông cạn, hạn hẹp của ḿnh mà cắt câu lấy nghĩa, tự tiện thêm bớt, làm sai lệch ư văn. Người có thái độ như vậy đối với Kinh điển th́ không thể chấp nhận được.
Hiện nay tại Kim Sơn Thánh Tự chúng ta đang thực hiện công tác phiên dịch Kinh điển. Phàm những lời trong Kinh phải tuyệt đối lưu giữ, không được "bỏ đầu xén chân." Lại cũng không thể như vị giáo sư nào đó đă phiên dịch "lưỡng túc tôn" đấng đầy đủ cả hai, nghĩa là phước huệ là "đấng hai chân." Ông đă dịch: "Quy y Phật, đấng hai chân."
Dịch như vậy không thể nói là chẳng đúng, tuy nhiên ít nhiều cũng có lệch lạc không tương hợp với ư chính của Kinh. Bởi vậy, tại Kim Sơn Thánh Tự chúng ta phải hết sức cẩn thận trong công tác phiên dịch Kinh điển, không được tùy tiện "thủ tiêu" bất cứ một đoạn nào trong Kinh. Hôm nay giảng Kinh Lăng Nghiêm tôi nhân tiện tŕnh bày cho quư Phật tử rơ.
Chương Đại Thế Chí Bồ Tát
Niệm Phật Viên Thông
Đại: Đại là ǵ? Đại là trái với tiểu, nhưng ở đây "đại" mà "vô ngoại," nghĩa là chẳng có ǵ lớn hơn nữa. "Đại" ở đây là thể của pháp, đồng thời cũng là Phật tánh của chúng sanh. Đó là "đại nhi vô ngoại," "tiểu nhi vô nội," bao trùm tận thư không gồm hết pháp giới.
Do đó nói rằng Đại Thế Chí Bồ Tát làm một động tác như đưa tay lên hoặc bước tới một bước, th́ thập phương thế giới đều rúng động. Uy lực của Ngài vô cùng lớn lao, cho nên gọi là "Đại Thế Chí." Bởi vậy khi Ngài di động, cả mười phương thế giới đều rúng động. Có người thắc mắc: "Ngài thường đi đây đi đó hay không?"
Quư Phật tử chớ nên bận tâm về việc này, v́ một khi Ngài Đại Thế Chí di chuyển th́ thập phương thế giới thường chấn động, do đó Ngài thường ở trong đại định. Tuy nhiên, mặc dù Ngài nhập định nhưng Ngài vẫn có mặt cùng khắp, hào quang của Ngài chiếu sáng cùng khắp, trí tuệ của Ngài cũng ở cùng khắp.
Quư Phật tử cũng chẳng nên nghĩ rằng: "Oh!" "Ngài Đại Thế Chí Bồ Tát nhất định là một vị rất quê mùa, thô lổ. Nếu không như thế th́ bước chân của Ngài đâu có thể làm chấn động thập phương thế giới? Nhất định bước chân của Ngài rất nặng nề."
Chẳng phải như thế đâu. Không phải bước chân của Ngài nặng nề như quư vị suy đoán. Quư vị không nên lấy cái tri kiến của phàm phu mà suy đoán Thánh nhơn. Chẳng qua là oai đức của Ngài làm chấn động thập phương thế giới. Không những Ngài có oai đức to tát như vậy mà Ngài c̣n có thể dùng năng lực của ḿnh để khiến cho thập phương thế giới được b́nh an vô sự, chẳng có mảy may chấn động. Cho nên mặc dù Ngài có năng lực như vậy nhưng chưa hẳn Ngài mang quyền lực này ra sử dụng, đó là Đại Thế Chí Bồ Tát.
Vừa qua tôi đă giảng nghĩa ba chữ "Đại Thế Chí." "Bồ-tát" là ǵ? "Bồ-tát" là "bồ dă, giác dă, t́nh dă." Tức là giác hữu t́nh. Nói đầy đủ là Bồ Đề Tát Đỏa, phạn ngữ là Bodhisattva. Bồ-tát là bậc giác ngộ trong số chúng sanh, cũng có thể nói rằng Bồ-tát là chúng sanh đă giác ngộ.
Làm sao có thể nói Bồ-tát là bậc giác ngộ từ trong chúng sanh? Bồ-tát vốn cũng là chúng sanh như quư vị, như tôi. Chẳng qua là Bồ-tát nguyện phát bồ đề tâm, dũng mănh tinh tấn, hành Bồ-tát đạo, Ồxả những ǵ mà người khác không thể xả bỏ được, nhẫn những ǵ mà người khác không thể nhẫn được, làm những ǵ mà người khác không thể làm được, và đem lại lợi ích cho hết thảy chúng sanh. V́ Bồ-tát làm lợi ích cho hết thảy chúng sanh cho nên mới được giác ngộ, và là một bậc giác ngộ trong số chúng sanh chúng ta.
Bồ-tát vốn chẳng khác ǵ chúng ta. Chẳng những Bồ-tát giống như chúng ta, mà ngay cả Phật Thích Ca Mâu Ni khi c̣n sanh đi sanh lại nhiều kiếp ở nhân địa, th́ Ngài cũng là chúng sanh như quư vị, như tôi. Hiện giờ tôi, quư vị và hết thảy chúng sanh đều là chư Phật trong vị lai, cho nên Phật xem hết thảy chúng sanh đều là cha mẹ trong quá khứ, đều là chư Phật trong vị lai. Quán sát như vậy nên Ngài xem hết thảy chúng sanh đều là cha mẹ trong quá khứ, do đó đối với mỗi chúng sanh Ngài đều có tâm hiếu thuận. Ngài xem mỗi chúng sanh đều là Phật trong vị lai, do đó Ngài có ḷng cung kính đối với mỗi chúng sanh. Đối với tất cả chúng sanh Ngài vừa có tâm cung kính vừa có tâm hiếu thuận.
Cho nên Ngài đối xử với hết thảy chúng sanh rất b́nh đẳng, nh́n chúng sanh với đôi mắt từ bi, và cũng trên phương diện này, Bồ-tát là bậc giác ngộ trong chúng sanh. Lại nữa, Ngài mang đạo lư mà Ngài giác ngộ được ra giáo hóa chúng sanh, khiến hết thảy chúng sanh cũng đều giác ngộ như Ngài để được lợi ích, cho nên gọi đó là "tự lợi, lợi tha." Vừa qua tôi đă giải thích đại khái về Bồ-tát.
"Niệm Phật." Tôi xin quư vị hăy nhận thức rơ ràng hai chữ "Niệm Phật" trong chương "Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông." Ư nghĩa của Kinh văn chẳng phải là Ngài Đại Thế Chí Bồ Tát được thỉnh cầu niệm Phật, mà là Đại Thế Chí Bồ Tát hiện thân thuyết pháp, dạy chúng ta và hết thảy chúng sanh rằng: "Tôi nhờ pháp môn Niệm Phật mà đắc viên thông. Nếu người nào y theo phương pháp này tu hành th́ khả dĩ cũng đắc viên thông." Ngài đă đắc viên thông, Ngài muốn hết thảy chúng sanh đều đắc viên thông như Ngài.
Cho nên "Niệm Phật" ở đây chẳng phải chính Ngài Đại Thế Chí niệm Phật, v́ Ngài đă "Niệm vô sở niệm," Ồchẳng niệm mà niệm, niệm mà không niệm. Ngài đă đạt mức viên thông này và nhiều kinh nghiệm về pháp môn niệm Phật. Cho nên Ngài dạy chúng ta và hết thảy chúng sanh rằng: "Quư vị có biết chăng? Tôi từ con đường Niệm Phật mà đến. Phương pháp này giúp tôi đắc viên thông, nay tôi truyền cho quư vị, quư vị có thể dùng pháp môn Niệm Phật này mà đắc viên thông."
Niệm Phật có bốn phương pháp:
1. Tŕ danh niệm Phật
2. Quán tượng niệm Phật
3. Quán tưởng niệm Phật
4. Thực tướng niệm Phật
1. Tŕ danh niệm Phật:
Tŕ danh niệm Phật là thường thường chuyên niệm sáu tiếng "Nam Mô A Di Đà Phật." Lúc tôi ở tại Đài Bắc tôi gặp một người rất bướng bỉnh. Tôi bảo y niệm Phật, y trả lời: "Niệm Phật nào có lợi ích ǵ? Thay v́ niệm Phật th́ để tôi niệm tôi hay hơn." Tôi đáp: "Cũng vậy thôi, nếu ông niệm ông, mà có thể thành Phật được th́ cũng được thôi." Chúng ta niệm Phật là v́ đức Phật A Di Đà lúc c̣n ở nhân địa đă phát bốn mươi tám đại nguyện.
Một trong bốn mươi tám đại nguyện ấy là: "Tất cả chúng sanh trong thập phương thế giới, nếu có người nào xưng danh hiệu tôi th́ người đó nhất định thành Phật; nếu người đó không thành Phật th́ tôi thề không thành Chánh giác, tôi cũng chẳng thành Phật."
Căn cứ vào lời đại nguyện này, chúng ta chẳng khác ǵ được đi trên một chiếc thuyền để đến bờ bên kia. Nguyện lực của Phật A Di Đà chính là bản hợp đồng mà trong quá khứ Ngài đă cùng chúng ta và chúng sanh trong thập phương kư kết với nhau. Cho nên, nếu chúng ta niệm Phật mà chẳng được sanh về thế giới Cực Lạc th́ đức Phật A Di Đà cũng thiếu tư cách để thành Phật. V́ mối quan hệ này cho nên mỗi chúng ta nên thành tâm thực hành pháp môn niệm Phật.
Pháp môn niệm Phật là một pháp môn đơn giản nhất, viên dung nhất, một pháp môn đi tắt chóng thành Phật nhất. Pháp môn này cũng chẳng đ̣i hỏi nhiều thời gian, chẳng phải hao tốn tiền bạc. Người già cả cũng có thể niệm Phật, người trẻ tuổi cũng có thể niệm Phật, kẻ tráng niên cũng có thể niệm Phật, người bịnh cũng như người khỏe mạnh đều có thể niệm Phật. Theo pháp môn Niệm Phật này th́:
Tam căn phổ bị
Lợi độn kiêm thu
Tam căn phổ bị: Ba căn là thượng, trung, hạ tức là kẻ có trí tuệ, người b́nh thường, kẻ ngu đần. Cả ba hạng người này đều có thể niệm Phật để được sanh về thế giới Cực Lạc.
Lợi độn kiêm thu: Là bao gồm cả hạng người thông minh nhất (như Phổ Hiền Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, hai Ngài đều phát nguyện văng sanh Tịnh Độ) lẫn hạng người ngu đần nhất. Ngay cả loài súc sanh như chim anh vơ, chim bát ca, chúng đều niệm Phật và cũng được văng sanh về thế giới Cực Lạc, hà huống là "vạn vật chi linh, như loài người chúng ta" mỗi người niệm Phật đều có hy vọng văng sanh thế giới Tây Phương Cực-Lạc. V́ Đức Phật A Di Đà và chúng ta có kư kết hợp đồng, không lư Ngài đă kư kết rồi bỏ qua hay sao? Cho nên chúng ta dựa vào hiệu lực của hợp đồng này nhất quyết có thể văng sanh về thế giới Tây Phương Cực-Lạc vậy.
2. Quán Tượng Niệm Phật:
Quán tượng tức là thỉnh một bức tượng Phật A Di Đà, rồi vừa niệm Phật vừa quán tưởng tướng hảo trang nghiêm của Phật A Di Đà, nhất là ánh hào quang tướng bạch hào giữa hai mắt. Thường thường quán tượng để niệm Phật rất dễ đắc Niệm Phật Tam muội, đạt tới nhất tâm bất loạn. Chủ yếu trong việc niệm Phật là đạt tới nhất tâm bất loạn, đắc Niệm Phật Tam muội. Nếu quư vị đắc Niệm Phật Tam muội th́ dù có mưa to gió lớn cũng không lay chuyển. Bất luận quư vị đi, đứng, ngồi, hay nằm, nhứt nhứt đều ở trong Tam muội, đi cũng Di Đà, ngồi cũng Di Đà; đi cũng Phật, ngồi cũng Phật. Quư vị ở trong Tam muội th́ sẽ được thấm nhuần nước trí tuệ. Đạt tới Niệm Phật Tam muội, nhất tâm bất loạn, th́ nhất định sẽ được văng sanh.
3. Quán Tưởng Niệm Phật:
Quán tưởng tức chỉ đơn thuần quán tưởng, không cần phải có tượng phật trước mặt. Quán tưởng:
A Di Đà Phật thân kim sắc,
tướng hảo quang minh vô đẳng luân,
bạch hào uyển chuyển ngũ Tu Di,
cám mục trừng thanh tứ đại hải,
quang trung hóa Phật vô số ức,
hóa Bồ-tát chúng diệc vô biên,
tứ thập bát nguyện độ chúng sanh,
cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn.
Quán tưởng bài kệ tán Phật này cũng có thể đắc Niệm Phật Tam muội.
4. Thực Tướng Niệm Phật:
Thực tướng niệm Phật tức niệm mà không niệm, không niệm mà niệm, lúc đó hành giả đi vào tham thiền. Cho nên người hiểu rơ niệm Phật chân chính không phản đối tham thiền; người hiểu rơ tham thiền chân chính cũng chẳng phản đối niệm Phật. Chẳng những không phản đối niệm Phật mà cũng chẳng phản đối Giáo Tông, Mật Tông, Luật, Mật, Tịnh nhưng hợp lại th́ "nhất tông bất lập," một tông cũng chẳng có, tất cả đều hổ trợ lẫn nhau, tông này cùng tông nọ đều có mối tương quan với nhau.
Chúng ta là chúng sanh chẳng nên tự sanh tâm phân biệt, chẳng nên "đầu thượng an đầu" trên đầu c̣n đặt thêm đầu nữa, nói rằng: "Thiền tông là Thiền tông, Mật tông là Mật tông, chẳng có tương quan ǵ cả." Không phải như vậy! Tất cả các tông vốn là một, vốn chẳng có phân biệt quá nhiều như vậy, chỉ v́ chúng sanh không có việc chi làm, muốn t́m cái ǵ để làm, cho nên phân ra đây một tông, đó một tông; nam một tông; bắc một tông; đông một tông; tây một tông, trên một tông, dưới một tông, rốt cuộc chẳng biết tôi thuộc tông nào, ông thuộc tông nào.
Tại Mỹ thường có người hỏi tôi: "Chẳng hay thầy thuộc tông nào?" Tôi đáp: "Chẳng tông nào cả. Nếu tôi thuộc một tông th́ tôi đang ở trong một phạm vi hạn hẹp; tôi chẳng thuộc tông nào th́ tận hư không, cùng khắp pháp giới đều là của tôi, bao trùm tất cả. Tại sao tôi lại tự vẽ cho ḿnh một phạm vi nhỏ bé, tạo ra một giới hạn chật hẹp, nói rằng ḿnh thuộc một tông nào đó? Tôi thuộc Phật giáo, không có tông mà cũng chẳng có phái lại cũng chẳng có môn mà cũng không có hộ. Tôi với tông nào cũng là một." Tôi thường nói thế này:
Chân nhận tự kỷ thác,
Mạc luận tha nhân phi,
Tha phi tức ngă phi,
Đồng thể danh Đại Bi.
(Thành thật nhận lỗi ḿnh,
Chớ bàn luận lỗi người,
Lỗi người tức lỗi ḿnh,
Đồng thể tức Đại Bi.)
Hăy nh́n nhận một cách thành thật lỗi lầm của ḿnh, không nên bàn luận lỗi lầm của người khác, kẻ khác có lỗi lầm tức ḿnh có lỗi lầm, lỗi lầm của họ cũng là lỗi lầm của ḿnh, phải t́m cách tự sửa sai mới đúng. Chớ nên bất cứ lúc nào miệng cũng luôn nói: "Không đúng, không đúng, không đúng, không đúng!" Thử hỏi như vậy có ích lợi chi? Cho nên có câu: "Đồng thể danh Đại Bi," v́ tất cả đều là một thể, đó là đại bi tâm. Quư vị đi đâu để t́m đại bi tâm? Quư vị t́m nó từ bản thân của quư vị, chẳng cần đi t́m cầu bên ngoài.
Như vậy thực tướng niệm Phật tức là tham thiền. Do đó quư vị Thiện tri thức chớ nên làm một đệ tử bất hiếu của Phật Thích Ca Mâu Ni, chớ nên luôn quấy nhiễu, chớ nên gây tổn thương t́nh ruột thịt, chớ nên tự tạo rắc rối cho ḿnh. Đó là kỳ vọng của tôi đối với Phật giáo hiện đại.
Bấy giờ, thời gian không cho phép chúng ta tiếp tục. Quư vị Phật tử cần về nghỉ ngơi để ngày mai kẻ đi làm, người bận việc khác, ép buộc tinh tấn thái quá cũng chẳng tốt. Mong quư vị về nhà nếu trằn trọc chưa ngủ được th́ hăy niệm Phật. Chúc quư vị Phật tử một đêm an lành.
Bây giờ chúng ta cùng Quy Y Thập Phương Thường Trụ Tam Bảo.
Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Phật
Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Pháp
Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Tăng
Kinh Đại Bảo Tích nói: "Vào thời Mạt pháp, một ức người tu hành chỉ một người đắc đạo cũng rất là hiếm, duy có nương vào niệm Phật mà đắc độ." Tu hành vào thời mạt pháp không dễ ǵ đắc đạo, duy có nương vào pháp môn niệm Phật mới dễ thành tựu đạo nghiệp.
Đại Thế Chí Bồ Tát là một trong Tam Thánh ở cơi Tây Phương mà đức giáo chủ là Phật A Di Đà. Đức Quán Thế Âm và Đức Đại Thế Chí cùng đến giúp Ngài tiếp dẫn chúng sanh về cơi Cực Lạc. Cho nên pháp môn niệm Phật rất được các Ngài đề cao.
Chúng ta niệm Phật cần niệm đến mức nhất tâm bất loạn, đạt tới niệm Phật Tam muội. Muốn đạt tới tŕnh độ này th́ phải làm thế nào? Trước tiên phải chuyên nhất, luôn giữ chánh niệm mà tŕ danh niệm Phật. Cách đây hơn hai mươi năm tôi có viết một bài kệ về niệm Phật, nay xin đọc lại cho quư vị nghe.
Kệ rằng:
Niệm Phật năng niệm vô gián đoạn,
Khẩu niệm Di Đà đả thành phiến,
Tạp niệm bất sanh đắc Tam muội,
Văng sanh Tịnh Độ định hữu phần,
Chung nhật yếm phiền Ta-bà khổ,
Tài tương hồng trần tâm niệm đoạn,
Cầu sanh Cực Lạc ư niệm trọng,
Phóng hạ nhiễm niệm quy tịnh niệm.
Niệm Phật niệm hoài không gián đoạn,
Hồng danh đồng khởi tại tâm can,
Tạp niệm không sanh tam muội được,
Văng sanh Tịnh độ có phần sang,
Trọn ngày chán nản Ta bà khổ,
Tâm niệm hồng trần dứt sạch quang,
Cầu sanh Cực Lạc luôn trong ư,
Nhiễm niệm dứt trừ, tịnh niệm toàn.
"Niệm Phật năng niệm vô gián đoạn" tức là quư Phật tử có thể niệm Phật đến độ không gián đoạn.
"Khẩu niệm Di Đà đả thành phiến," tức quư vị luôn niệm sáu tiếng hồng danh, "Nam Mô A Di Đà Phật," niệm cho đến gió thổi chẳng lọt, mưa tuôn không thấm. Lúc đó mới thực sự đạt tới cảnh giới Niệm Phật Tam muội, cho nên mới nói rằng miệng niệm Di Đà khư khư chẳng rời.
"Tạp niệm bất sanh đắc Tam-muội," tức là hết thảy tạp niệm đều không nảy sanh, cho nên nói rằng:
Một niệm chẳng sanh toàn thể hiện,
Lục căn thoáng động bị mây che.
Quư vị có thể niệm cho đến một niệm cũng chẳng sanh, th́ tạp niệm ǵ cũng chẳng c̣n, như vậy ắt đắc niệm Phật Tam muội.
"Văng sanh Tịnh Độ định hữu phần." Một khi đạt tới Niệm Phật Tam muội rồi th́ nhất định được sanh về cơi Tịnh Độ. Quư vị nhất định có hy vọng sanh về thế giới Tây Phương Cực Lạc bốn câu trước đă giải thích qua, sau đây là bốn câu c̣n lại:
"Chung nhật yếm phiền Ta-bà khổ," tức là Ngày ngày đều cảm thấy cơi Ta bà đầy khổ năo, thế giới Cực Lạc rất an vui, cho nên ḿnh hăy luôn nhàm chán cơi khổ Ta bà.
"Tài tương hồng trần tâm niệm đoạn," tức tâm niệm hồng trần mới diệt được. V́ ḿnh chán ghét cái khổ nên muốn được an lạc, hễ muốn có an lạc th́ hăy từ bỏ những thú vui vật chất tạm bợ trên thế gian.
"Cầu sanh Cực Lạc ư niệm trọng." Điều rất quan trọng là có tâm mong cầu văng sanh về thế giới Cực Lạc.
"Phóng hạ nhiễm niệm quy tịnh niệm," nghĩa là ḿnh có thể rời bỏ ư niệm nhiễm ô th́ là lúc Tịnh Độ đă chín muồi. Trái lại, nếu vẫn c̣n níu kéo cái ư niệm ô nhiễm kia th́ nhứt quyết chẳng thể nào vui hưởng sự an lạc thanh tịnh của Thế Giới Cực Lạc được.
Bài kệ tám câu này tuy rất ngắn gọn nhưng nếu ta suy ngẫm kỹ th́ rất lợi lạc cho ai tu pháp môn Tịnh Độ.
Đại Thế Chí Bồ Tát đắc niệm Phật "Viên thông": Viên là viên dung vô ngại; thông là thông đạt. Niệm Phật tới mức vừa viên dung lại vừa thông đạt, tức là niệm Phật đến viên măn, niệm đến thành tựu, đồng thời cũng chứng đắc sự và lư đều viên dung vô ngại. Đạt được cảnh giới này th́ gọi là viên thông.
"Chương" tức là chương của "Hai Mươi Lăm Viên Thông" trong Kinh Lăng Nghiêm. Nếu quư vị muốn hiểu đầy đủ hai mươi lăm viên thông xin nghiên cứu Kinh Lăng Nghiêm.
Trung Thiên Trúc Sa Môn
Bát Lặc Mật Đế dịch
"Trung Thiên Trúc" là một quốc gia tại Ấn Độ. Ấn Độ phân ra: Đông, Tây, Nam, Bắc và Trung Ấn. Trong mỗi khu lại có rất nhiều quốc gia. Sa Môn Bát Lặc Mật Đế là người xứ Trung Thiên Trúc.
"Sa Môn," Phạn ngữ dịch ra tiếng Trung Hoa là "Cần Tức," nghĩa là chuyên cần tu giới, định, huệ, dập tắt tham, sân, si. "Cần tu" là không giải đăi, không thối chuyển, thời thời khắc khắc luôn tinh tấn dơng mănh, cứ hướng về phía trước bước tới, chẳng thối chuyển, không lười biếng. Không lười biếng ở đây chẳng phải là chỉ một ngày không lười biếng mà là bất cứ ngày nào cũng không lười biếng; chẳng phải hôm nay tinh tấn, hôm sau giải đăi. Tinh tấn một ngày, giải đăi mười ngày th́ không kể là tinh tấn, phải tinh tấn trọn đời, chuyên cần tŕ giới trọn đời.
Giới là:
Không làm điều ác
Làm mọi điều thiện
Không làm điều ác tức là làm mọi điều lành; nếu có thể làm tất cả mọi điều lành tức là chẳng làm các điều ác. Cho nên tŕ giới cần tinh nghiêm, "nghiêm tịnh tỳ ni, hoằng phạm tam giới," phải lấy chính ḿnh làm mẩu mực, tự ḿnh nêu gương tốt. Đó mới là tŕ giới.
Lại nữa phải tu định. Định là một thứ công phu của thiền định. Thiền định cần tu luyện thường xuyên th́ mới sanh định. Do giới mà sanh định. Nếu quư vị muốn có định th́ việc trước tiên là phải tŕ giới. Nếu thiếu tŕ giới tâm sẽ tán loạn, không thể nào có định được. Không có định, cố nhiên sẽ không sanh tuệ. Cho nên do định mà phát tuệ. Đó gọi là Tam vô lậu học. Nếu ḿnh cần mẫn tu giới định tuệ th́ sẽ siêu xuất tam giới. Diệt được tham sân si th́ chẳng bị đọa tam ác đạo.
V́ sao từ vô lượng kiếp đến nay mà chúng ta vẫn không thành Phật? Vẫn là chúng sanh? Vẫn đi ra vào măi trong lục đạo luân hồi? Chỉ v́ tham sân si tam độc làm cho chúng ta say đến mức mất hết giác ngộ. Chúng ta bị tham sân si tam độc làm cho mê mê hồ hồ, điên điên đảo đảo khiến cho chúng ta chẳng thể lội ngược ḍng sanh tử, chỉ có cách thuận theo ḍng lục trần phàm phu. Từ vô lượng kiếp đến nay, chỉ v́ tham sân si nó che lấp cái ánh sáng tự tánh của chính ḿnh.
Tham, tức là chẳng biết chán. Sân, là do tham mà chẳng được nên nổi sân; chỉ v́ tham chẳng biết chán nên khi chẳng được ǵ cả bèn sanh sân hận. Sanh sân hận rồi, sau đó mới tiến đến cảnh giới ngu si, đi vào con đường ngu si. Sân là ngọn lửa vô minh, vô minh tức là có nóng giận. Một khi lửa vô minh bùng cháy th́ theo đó cơn sân bốc lên.
V́ sao có vô minh? Chỉ v́ tiền kiếp ḿnh tạo tội quá nặng. Do đó, tục ngữ có câu: "Lửa vô minh chẳng khác ǵ thần hổ, đó là do nghiệp căn từ tiền kiếp." Lửa vô minh là gốc rễ của nghiệp từ tiền kiếp.
Thế nào gọi là ngu si? Người ngu si toàn khởi những vọng tưởng ngông cuồng. Thí dụ con ếch muốn ăn thịt con ngỗng, đó là ngu si bởi v́ con ếch làm sao mà ăn ngỗng được? Lại nữa, không đi học mà muốn có mảnh bằng tiến sĩ, mạo nhận ta là học giả với phong độ của một tri thức, sống có vẻ như ta là một tiến sĩ. Chẳng đi học ǵ cả mà muốn có bằng tiến sĩ. Đó mới là ngu si. Lại có người chẳng hề mua vé số mà muốn trúng độc đắc, không vốn muốn sinh lời, th́ đó cũng là hạng người ngu si vậy. Không làm ruộng, nhưng vào mùa thu trông thấy người ta gặt lúa th́ cũng muốn có thu hoạch hoa lợi như họ, đó là việc tuyệt đối chẳng thể có được.
Cho nên Ông Hồ Đại Xuyên có làm bài thơ Huyễn Tưởng Thi diễn tả ư nghĩ của người ngu si như sau:
Háo hoa thường linh triều triều diễm,
Minh nguyệt hà phương dạ dạ viên,
Đại địa hữu tuyền giai hóa tửu,
Trường lâm vô thọ bất dao tiền.
"Háo hoa thường linh triều triều diễm." Người tham sắc muốn hoa ngày ngày tươi đẹp, chẳng bao giờ tàn. Cho nên họ ao ước hoa luôn tươi thắm, thậm chí muốn vợ ḿnh chẳng bao giờ già, cứ trẻ đẹp măi. Đó là ư nghĩ của người tham sắc.
C̣n người thích du ngoạn th́ nghĩ ǵ? "Minh nguyệt hà phương dạ dạ viên." Vào ngày rằm trăng tṛn và sáng, qua rằm th́ trăng khuyết một ít và càng ngày càng khuyết nhiều hơn. Người thích thưởng trăng bèn nghĩ rằng: "Nếu đêm nào trăng cũng tṛn như thế này th́ hay biết mấy!"
Người thích uống rượu, v́ hiện nay rượu quá đắt, tốn kém nhiều, bèn nghĩ rằng: "Ngày ngày ḿnh uống rượu, phải chi tất cả ḍng suối trên mặt đất biến thành rượu, đến nơi nào cũng có rượu uống, chẳng tốn tiền mua rượu mà vẫn có thể say sưa. Như vậy th́ hay biết mấy!" Khởi vọng tưởng như thế th́ thật là ngu muội.
C̣n người bị đồng tiền mê hoặc th́ sao? Người này cũng khởi vọng tưởng chẳng kém. Hắn nghĩ bụng: "Tiền! Hiện nay ḿnh phải làm lụng vất vả mới kiếm được tiền. Ước ǵ tất cả cây trong rừng đều biến thành tiền, chỉ đến lắc nhẹ là tiền rơi xuống tha hồ tiêu xài. Cây ở hai bên lề đường cũng thế. Quả là tốt lắm ư!"
Quư Phật tử nghĩ xem, trên đây là những thí dụ về vọng tưởng ngu si, làm không được mà cũng cố nặn óc nghĩ ra. Như vậy người sa môn th́ sao? Người sa môn chẳng có tâm si mê vọng tưởng, nhất tâm tu đạo. Sa Môn có bốn hạng:
1. Thắng Đạo Sa MônỐBậc Sa Môn tu đạo chứng quả, gia nhập hàng ngũ Thánh nhân, được gọi là "thắng đạo sa môn."
2. Thuyết Đạo Sa MônỐBậc Sa Môn giảng kinh thuyết pháp, giáo hóa chúng sanh, được gọi là "thuyết đạo sa môn.
3. Hoạt Đạo Sa MônỐBậc Sa Môn lấy pháp làm lẽ sống, lấy đạo làm lẽ sống. Trong Phật giáo hàng sa môn này có thể tu đạo lại vừa phát bồ đề tâm.
4. Ô Đạo Sa MônỐÔ là dơ bẩn. Đây là hạng Sa Môn chẳng giữ giới luật, chẳng tu giới định huệ, Chẳng đoạn trừ thâm sân si. Tuy cũng được gọi là sa môn, nhưng hàng sa môn này nên sanh tâm hổ thẹn, cần tự vấn lương tâm.
"Bát Lặc Mật Đế," là tên vị dịch giả bằng Phạn ngữ, dịch ra Hán Văn là "Cực Lượng," nghĩa là lượng của Ngài rất lớn, có thể nói: Kiến thức của Ngài bao trùm cả trời đất, tâm của Ngài trong sáng như mặt trời mặt trăng.
Lại có thể nói tâm Ngài bao trùm hư không, lượng của Ngài trải khắp thế giới nhiều như cát sông Hằng, cho nên gọi là cực lượng.
Vị Sa môn này rất thông minh, có trí tuệ. Ngài mang "Kinh Lăng Nghiêm" truyền sang Trung Quốc. "Kinh Lăng Nghiêm" vốn chẳng dễ ǵ truyền ra nước ngoài. Lần đầu tiên Ngài có ư định mang bộ Kinh này sang Trung Quốc, nhưng đến cửa ải th́ bị tra xét, và chẳng những nhà cầm quyền cấm mang bộ Kinh ra khỏi nước mà chính ngay cả Ngài cũng bị cấm xuất dương. Lần thứ hai, Ngài bèn chép bộ Kinh trên lụa rất mỏng với nét chữ cực nhỏ. Rồi Ngài tự rạch bắp tay đặt kinh vào rồi kéo da phủ kín vết thương, thoa thuốc cao lên, và bằng cách này Ngài đă thành công mang bộ Kinh Lăng Nghiêm ra khỏi nước.
Đối với người Trung Hoa Kinh Lăng Nghiêm rất lợi ích. Ngày xưa có nhiều vị tổ sư xuất gia cũng như cư sĩ, nhờ đọc tụng Kinh Lăng Nghiêm mà khai ngộ. Trong quá khứ, Kinh Lăng Nghiêm đă mang nhiều lợi ích đến cho rất nhiều người. Do đó công tác dịch Kinh Lăng Nghiêm của Ngài đối với chúng ta hiện tại và tương lai sẽ giúp ích rất nhiều. Cho nên những người nghiên cứu Kinh Lăng Nghiêm đều nên biết đến vị Sa-môn dịch giả này.
Vị Sa môn này thuộc ba hạng sa môn nói trên và không thuộc vào hạng thứ tư. Ngài đến Trung Quốc vào đời nhà Đường, Sau khi Vơ Tắc Thiên thoái vị. Ngài khởi sự dịch bộ Kinh này vào ngày 23 tháng 5 khi Ngài tới Quảng Châu.
Đối với Phật-pháp và Phật giáo, Kinh Lăng Nghiêm có tác dụng và uy lực rất lớn. Cho nên người nghiên cứu Phật-pháp trước tiên cần hiểu rơ đạo lư trong Kinh Lăng Nghiêm.
Ngày nay, chúng ta phải hộ tŕ bộ Kinh này, đừng để kinh bị mai một.
Nếu chúng ta không sinh vào thời điểm này th́ chúng ta chẳng có trách nhiệm ǵ cả. Chúng ta hiện ở trong đời này, vậy bổn phận chúng ta là phải dùng toàn lực và mọi khả năng để hộ tŕ bộ kinh này.
Khảo xét quá tŕnh lịch sử Phật giáo, bộ Kinh Lăng Nghiêm vốn xuất xứ từ Long Cung. Ngài Long Thọ Bồ Tát đă đọc bộ Long Tạng tại Long Cung. Lúc xem đến bộ Kinh này, Ngài dùng trí nhớ của Ngài ghi lại toàn bộ Kinh, do đó trên thế gian mới có bộ Kinh Lăng Nghiêm này. Nước Thiên Trúc xem bộ Kinh Lăng Nghiêm là quốc bảo, cấm truyền ra nước ngoài. V́ người Trung Hoa có nhân duyên lớn với Phật giáo, nên mới được một vị Thắng Đạo Sa Môn chẳng tiếc thân mạng mang bộ kinh này sang Trung Quốc. Hiện nay ai có thiện duyên xem được bộ Kinh Lăng Nghiêm đều nên đảnh lễ vị Sa môn này.
Trí Giả Đại Sư lúc chưa thấy bộ Kinh Lăng Nghiêm đă từng hướng về nước Ấn Độ ở phương tây rập đầu lạy tên bộ Kinh này. Ngài lạy như vậy trong mười tám năm, nhưng rất tiếc Ngài vẫn chưa được trông thấy tận mặt bộ Kinh. Như vậy chúng ta may mắn có thiện duyên hơn Trí Giả Đại Sư, chẳng cần lễ bái nhiều năm mà đă gặp được Kinh Lăng Nghiêm. Quư vị nghĩ xem, có phải nhân duyên của chúng ta hơn Trí Giả Đại Sư chăng?
Chánh Văn:
Đại Thế Chí Pháp Vương Tử, dữ kỳ đồng luân, ngũ thập nhị Bồ-tát, tức tùng tọa khởi, đảnh lễ Phật túc, nhi bạch Phật ngôn: Ngă ức văng tích, Hằng hà sa kiếp, hữu Phật xuất thế, danh Vô Lượng Quang, thập nhị Như Lai, tương kế nhất kiếp. Kỳ tối hậu Phật, danh Siêu Nhật Nguyệt Quang. Bỉ Phật giáo ngă niệm Phật tam muội. Tỷ như hữu nhân, nhất chuyên vi ức, nhất nhơn chuyên vọng. Như thị nhị nhơn, nhược phùng bất phùng, hoặc kiến phi kiến. Nhị nhơn tương ức, nhị ức niệm thâm. Như thị năi chí, tùng sanh chí sanh, đồng ư h́nh ảnh, bất tương thừa di. Thập phương Như Lai, lân niệm chúng sanh, như mẫu ức tử, nhược tử đào thệ, tuy ức hà vi? Tử nhược ức mẫu, như mẫu ức thời, mẫu tử lịch sanh, bất tương vi viễn. Nhược chúng sanh tâm, ức Phật niệm Phật, hiện tiền đương lai tất định kiến Phật. Khứ Phật bất viễn, bất giả phương tiện, tự đắc tâm khai. Như nhiễm hương nhơn, thân hữu hương khí, thử tắc danh viết, hương quang trang nghiêm. Ngă bản nhân địa, dĩ niệm Phật tâm, nhập vô sanh nhẫn, kim ư thủ giới, nhiếp niệm Phật nhơn, quy ư Tịnh Độ. Phật vấn Viên Thông, ngă vô tuyển trạch, đô nhiếp lục căn, tịnh niệm tương kế, đắc Tam Ma Địa, tư vi đệ nhất.
(Ngài Đại-thế-chí Pháp-vương-tử cùng với năm mươi hai vị Bồ-tát đồng tu một pháp môn, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: "Con nhớ hằng hà sa kiếp trước, có đức Phật ra đời, tên là Vô Lượng Quang; lúc ấy mười hai đức Như-lai kế nhau thành trong một kiếp, đức Phật sau hết, hiệu là Siêu Nhật Nguyệt Quang, dạy con pháp Niệm Phật Tam-muội. Ví như có người, một đằng chuyên nhớ, một đằng chuyên quên, th́ hai người ấy, dầu gặp cũng không là gặp, dầu thấy cũng là không thấy; nếu cả hai đều nhớ nhau, hai bên nhớ măi, khắc sâu vào tâm niệm, th́ đồng như h́nh với bóng, cho đến từ đời này sang đời khác, không bao giờ cách xa nhau. Thập phương Như-lai thương tưởng chúng sinh như mẹ nhớ con, nếu con trốn tránh, th́ tuy nhớ, nào có ích ǵ; nếu con nhớ mẹ như mẹ nhớ con, th́ đời đời mẹ con không cách xa nhau. Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật, tưởng Phật, th́ hiện nay hay về sau, nhất định thấy Phật; cách Phật không xa th́ không cần phương tiện, tâm tự khai ngộ như người ướp hương th́ thân thể có mùi thơm, ấy gọi là hương-quang trang-nghiêm. Bản nhân của con là dùng tâm niệm Phật mà vào Vô-sinh-nhẫn, nay ở cơi này tiếp dẫn những người niệm Phật về cơi Tịnh-độ. Phật hỏi về Viên thông, con thu nhiếp tất cả sáu căn, không có lựa chọn, tịnh niệm kế tiếp, được vào Tam-ma-đề, đó là thứ nhất".)
Lược giải:
Đại Thế Chí Pháp Vương Tử, dữ kỳ đồng luân, ngũ thập nhị Bồ-tát, tức tùng tọa khởi, đảnh lễ Phật túc, nhi bạch Phật ngôn:
"Đại Thế Chí" tức là vị đại Bồ-tát có uy lực lớn. Ngài c̣n có tên là "Vô Biên Quang Xí Thân Bồ Tát" v́ hào quang của Ngài tỏa khắp mười phương quốc độ. "Pháp Vương Tử": Phật là pháp vương, là vua các pháp. Quốc gia th́ có quốc vương, trên trời th́ có Ngọc Hoàng, tức là Thiên Vương. Phật là Pháp Vương, c̣n Bồ-tát th́ sao? Bồ-tát là đệ tử của Pháp Vương, cho nên Pháp Vương Tử có nghĩa là đệ tử của Pháp Vương. Do đó có câu rằng: "Phật là Pháp Vương, tự tại nơi pháp."
Bồ-tát là người học Phật-pháp, cho nên là đệ tử của Pháp Vương. Vị Đại Thế Chí Bồ Tát này là đệ tử của Pháp Vương. Chẳng những chỉ có Ngài mà c̣n có "dữ kỳ đồng luân, ngũ thập nhị Bồ-tát." "Dữ kỳ đồng luân" tức cũng là Bồ-tát như Ngài. "Luân" có nghĩa là loại, nghĩa là cũng y như Ngài. Tuy nói là Bồ-tát như Ngài nhưng ít nhiều cũng có điểm khác nhau, v́ có Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Điạ, tất cả là năm mươi vị. Lại có thêm Đẳng Giác và Diệu Giác Bồ Tát, cộng tất cả là năm mươi hai vị. Năm mươi hai vị Bồ-tát tức là năm mươi hai quả vị, và số Bồ-tát trong năm mươi hai quả vị th́ vô lượng vô biên.
Cho nên Ngài Đại Thế Chí Bồ Tát cùng với năm mươi hai vị Bồ-tát "tức tùng ṭa khởi." Lúc nói Viên Thông thứ hai mươi ba xong th́ những vị Bồ-tát bèn từ chỗ ngồi của ḿnh đứng dậy. Mỗi vị Bồ-tát đều có chỗ ngồi riêng của ḿnh. Bồ-tát có ư kiến cần phát huy, muốn tŕnh bày cái viên thông sở đắc của ḿnh nên mới từ chỗ ngồi đứng dậy. Đó cũng biểu thị:
Pháp chẳng tự khởi,
Theo cảnh mà sanh;
Đạo chẳng hư dối,
Gặp duyên tất ứng.
"Tức tùng ṭa khởi" cũng ám chỉ rằng Phật sắp nói pháp, và đồng thời cũng ám chỉ Bồ-tát cũng sẽ nói về đạo lư viên thông mà Ngài chứng đắc.
"Đảnh lễ Phật túc," đây muốn nói đảnh lễ bằng cách gieo năm vóc chạm mặt đất, biểu lộ hết ḷng cung kính. Lúc đảnh lễ Phật nên có một sự quán tưởng. Quán tưởng ǵ? Hăy quán tưởng rằng: "Năng lễ sở tánh không tịch," tức người lạy và người được lạy tự tánh cả hai đều rỗng lặng. "Cảm ứng đạo giao nan tư ngh́," tức là tuy rằng rỗng lặng nhưng lại có một thứ cảm ứng đạo giao, một thứ cảnh giới khó thể nghĩ bàn hiện ra. Quư vị lễ bái một vị Bồ-tát, hoặc một vị tôn Phật đều phải quán tưởng vị Phật hoặc vị Bồ-tát đó.
Như vậy Ngài Đại Thế Chí Bồ Tất và các vị Bồ-tát theo Ngài đều đảnh lễ Phật Thích Ca Mâu Ni, gieo năm vóc thân thể xuống đất, cúi đầu sát đất, hai tay chạm chân Phật để biểu lộ sự tôn kính tột độ.
"Nhi bạch Phật ngôn." Rồi mới thưa với Phật. Những câu Kinh văn nói trên là những lời lẽ được thêm vào lúc kết tập Kinh Tạng.
Ngă ức văng tích, hằng hà sa kiếp, hữu Phật xuất thế, danh vô Lượng Quang, Thập nhị Như Lai, tương kế nhất kiếp.
Đại Thế Chí Bồ Tát thưa rằng: Ngă ức văng tích tức là Ngài nhớ lại vào thời kỳ xa xưa trước kia, lúc Ngài mới bắt đầu phát tâm. Bồ-tát sơ phát tâm không nhất định thành công. Quan trọng nhất là sau khi sơ phát tâm phải "niệm luôn không thối chuyển" th́ mới có thể thành tựu Phật quả. Nếu ḿnh phát bồ đề tâm rồi sau đó lại thối chuyển th́ chẳng thể nào chứng được Phật quả. Ḿnh vẫn có thể chứng được Phật quả nếu trong tương lai ḿnh phát bồ đề tâm trở lại. Cho nên có bài kệ như sau:
Ngư tử am-ma-la
Bồ-tát sơ phát tâm
Tam sự nhân trung đa
Cập kỳ kết quả thiểu.
Ngư tử tức là trứng của con cá. Cá đẻ rất nhiều trứng, nhưng không nhất định mỗi cái trứng đều trở thành cá. Cây am-ma-la cũng vậy, trổ bông th́ sum sê mà đậu quả th́ chẳng bao nhiêu. Sơ phát tâm Bồ-tát th́ cũng y như vậy; số người sơ phát Bồ-tát tâm rất nhiều, nhưng thực sự chứng đắc quả vị Bồ-tát th́ rất ít. Sau đây là ư nghĩa của bốn câu trên: Trứng cá chẳng khác ǵ hoa am-ma-la và kẻ sơ phát tâm Bồ-tát: nhiều không thể kể xiết nhưng kết quả lại chẳng có là bao.
Vị Đại Thế Chí Bồ Tát này chẳng hề thối thất bồ đề tâm, cho nên Ngài nhớ được quá khứ, những việc từ xa xưa.
"Hằng hà sa kiếp:" Hằng hà tức sông Hằng ở Ấn Độ, chảy qua nước Xá Vệ, nơi Phật thuyết pháp. Ai ai cũng biết đến con sông này, v́ vậy khi nói đến một con số to tát, Phật thường đề cập tới số cát sông Hằng. Ngài Đại Thế Chí cũng dùng danh từ này để diễn tả thời gian lâu dài. "Kiếp," Phạn ngữ, gọi là "Kiếp ba" (kalpa), c̣n gọi là "trường thời phân" tức là một thời gian lâu dài.
"Hữu Phật xuất thế:" Thời đó có một vị Phật xuất thế. "Danh Vô Lượng Quang:" đức Phật xuất thế này danh hiệu là Vô Lượng Quang. Lại c̣n có các đức Phật Vô Biên Quang, Vô Ngại Quang, Vô Xưng Quang v.v...tổng cộng mười hai vị Như Lai, cho nên gọi là "Thập Nhị Như Lai."
"Tương Kế Nhứt Kiếp:" Trong đại kiếp ấy, liên tục trong một thời gian cực kỳ lâu dài như vậy, có 12 đức Như Lai kế tiếp nhau xuất thế.
Bây giờ c̣n một ít thời gian, tôi xin kể lại một chuyến hành hương lên Đại Tiên Tự ngày hôm nay, thăm Ngài "Bất Thị Lăo Ḥa Thượng." Ngài là một vị ḥa thượng không già.
Vị Ḥa thượng này là ai? Là "Khai Thiền Bất Thị Lăo Ḥa Thượng." V́ sao tôi gọi Ngài là chẳng phải lăo ḥa thượng?" V́ Ngài tuy tuổi trên tám mươi nhưng rất hăng say làm việc, thân thể tráng kiện, tay chân vẫn c̣n bắp thịt, có vẻ đầy sức lực. Thấy Ngài như vậy cho nên tôi mới cho Ngài cái tên "Bất Thị Lăo Ḥa Thượng" (chẳng phải lăo ḥa thượng). Tôi hy vọng Ngài măi măi không già.
Vị lăo ḥa thượng này rất vui tính, có thể nói Ngài có đại trí tuệ, biện tài vô ngại; Ngài thích nói những câu ẩn ư, và dùng trượng đánh phủ đầu. Ngài có một bài kệ như sau:
Thủy lưu b́nh địa bổn vô thanh,
Dạ hữu cao đê nhi hữu thanh,
Đại đạo vô ngôn chu Pháp Giới,
Nhân tham sân si nhi hữu tranh.
Nước chảy trên đất vốn không ra
tiếng,
Đất có cao thấp mới có tiếng,
Đại đạo không lời trong Pháp Giới
Bởi tham sân si mà có tranh.
Ngài vừa nói xong th́ có người lập tức lấy bút giấy ghi lại. Nhưng tôi nói với Ngài: "Bài kệ này vốn chẳng phải của Ngài. Tôi đă biết từ lâu và Ngài hăy nghe tôi đọc đây. Ngài đă đọc bài kệ này tôi." Tôi liền đọc bài kệ ấy, Ngài tỏ vẻ như hết sức kinh ngạc. Ngưng một lúc Ngài hỏi: "Như vậy Ngài đă sớm biết bài kệ này ư?
Tôi đáp: "Dĩ nhiên tôi đă biết từ lâu. Nếu không, th́ tại sao Ngài vừa thốt ra tôi liền nhớ được ngay?"
Sau đó tôi và Ngài đàm đạo rất lâu. Trước khi kiếu từ tôi đến ngồi trên ghế của Ngài, rồi ngồi trên giường của Ngài một lúc. Rồi nói: "Bây giờ tôi không về nữa. Ngài hăy rời khỏi nơi đây, Ngài chẳng thể ở đây được."
Ngài nói: "Vậy, tôi ra phía ngoài ở." Tôi nói: "Ngài cũng không được phép ở bên ngoài."
Vị ḥa thượng này rất vui tánh. Đă ba phen tôi có ư định ra về, và ba phen tôi quay trở lại. Tôi bèn nói: "Tôi rất thích túp lều tranh này. Trên thế gian này không có ǵ hơn nó được, chẳng những nó đứng hạng nhứt trên thế gian mà ngay trên trời cũng chẳng t́m ra. Cho nên lần này tôi nhất định muốn có túp lều tranh này. Vậy xin Ngài hăy rời nơi đây ngay!" Tôi muốn dời chăn mền của Ngài, nhưng Ngài vẫn không đi, rốt cuộc tôi phải ra về.
Tôi nói: "Tôi sẽ trở lại thiêu rụi túp lều này, thử xem Ngài sẽ ở đâu?"
Tôi và Ngài tranh luận rất lâu mà tôi vẫn không làm thế nào khiến Ngài rời khỏi túp lều tranh này được. Tôi muốn đón Ngài sang Mỹ. Tôi nói: "Ngài hăy mau sang Mỹ, chẳng nên ở đây."
Vừa rồi là những ǵ đă xảy ra cho tôi hôm nay.
Kỳ tối hậu Phật, danh Siêu Nhật Nguyệt Quang. Bỉ Phật giáo ngă niệm Phật tam muội. Tỷ như hữu nhân, nhất chuyên vi ức, nhất nhơn chuyên vọng. Như thị nhị nhơn, nhược phùng bất phùng, hoặc kiến phi kiến. Nhị nhơn tương ức, nhị ức niệm thâm. Như thị năi chí, tùng sanh chí sanh, đồng ư h́nh ảnh, bất tương thừa di.
"Kỳ tối hậu Phật, danh Siêu Nhật Nguyệt Quang." Đại Thế Chí Bồ Tát gặp mười hai vị Như Lai, đó là Vô Lượng Quang, Vô Biên Quang, Vô Ngại Quang, Vô Đối Quang, Diệm Vương Quang, Thanh Tịnh Quang, Hoan Hỷ Quang, Trí Huệ Quang, Nan Tư Quang, Bất Đoạn Quang, Vô Xưng Quang, và Siêu Nhật Nguyệt Quang. Đức Phật ban sơ có danh hiệu là Vô Lượng Quang. Phật A Di Đà cũng có danh hiệu là Vô Lượng Quang; nhưng 12 đức Như Lai này là kế tiếp nhau xuất thế trong một kiếp, cho nên tôi tin rằng đó là một vị cổ Di Đà. Thích Ca Mâu Ni Phật có cổ Thích Ca, kim Thích Ca. Đức Phật Vô Lượng Quang này có thể là cổ Di Đà. Như vậy đức Phật sau cùng hiệu là Siêu Nhật Quang, hào quang của Ngài sáng hơn ánh sáng của mặt trời và mặt trăng cả trăm ngàn lần.
"Bỉ Phật giáo ngă niệm Phật Tam muội." khởi đầu từ thời Đức Phật Vô Lượng Quang, và cho đến Đức Phật sau cùng là Siêu Nhật Nguyệt Quang Như Lai, tôi đều ở chốn nhân địa tu tập pháp môn Niệm Phật. Tôi đă từng theo học pháp môn Niệm Phật với mười hai đức Phật này, cho nên tôi nói rằng những đức Phật đó đă dạy tôi niệm Phật Tam muội. "Bỉ Phật" tức là chỉ mười hai đức Phật kể trên. Đại Thế Chí Bồ Tát tu pháp môn Niệm Phật đă phải trải qua một thời gian lâu dài đến một kiếp để học tập pháp môn Niệm Phật Tam muội. Tam muội là Phạn ngữ, phiên dịch ra Hán văn là "Chánh định" và "Chánh thọ."
Pháp môn niệm Phật tu tập như thế nào? Trước tiên đơn cử một thí dụ. "Tỷ như hữu nhơn, nhất chuyên vi ức, nhất nhân chuyên vong." Thí dụ có hai người, một người luôn luôn nhớ c̣n người kia th́ chuyên quên. Hai người này hoặc là bè bạn, hoặc là cha con, hoặc là có quan hệ thân thuộc với nhau. Nhưng hai người này th́ một người luôn nhớ người nọ, thí dụ ta nói ông A luôn nhớ ông B. C̣n ông B th́ sao? Ông B th́ chuyên quên, chẳng nhớ ǵ đến ông A gắn bó với ḿnh, ngay cả quên hẳn ông A là ai.
"Như thị nhị nhơn" Như hai kẻ này, ông A luôn nhớ, ông B lại chẳng hề nhớ chi cả, "nhược phùng bất phùng," tức là nếu có gặp nhau th́ y như chẳng gặp, v́ ông A th́ nhớ, ông B th́ quên mất. Trong trường hợp ông A gặp ông B th́ ông vẫn nhớ rơ ông B. Rất tiếc ông A chẳng gặp ông B. Nếu ông B thấy ông A th́ y như chẳng thấy v́ ông chẳng nhớ chi cả, không biết đó là cha, bạn bè hay thân quyến của ḿnh. V́ không c̣n nhớ nên nói có gặp như chẳng gặp.
"Hoặc kiến phi kiến" Hoặc thấy, th́ cũng như chẳng thấy. V́ chỉ có một người nhớ c̣n kẻ kia lại chẳng nhớ, chẳng khác ǵ x̣e một bàn tay vỗ trên hư không th́ không phát ra tiếng, phải cần đủ hai món nhân duyên phối hợp mới thành tựu được. Cho nên, hai người này dù có thấy nhau cũng như chẳng thấy.
"Nhị nhơn tương ức, nhị ức niệm thâm." Thí dụ hai người đều nhớ nhau, chẳng quên nhau -- Ông A nhớ ông B và ngược lại, người này gắn bó với người kia, th́ là hai mối nhớ nhung thâm sâu, ghi đậm vào tâm trí. "Như thị năi chí, tùng sanh chí sanh." Như vậy, từ đời này sang đời khác hai kẻ này vẫn nhớ nhau sau, ghi đậm vào tâm trí măi măi. Cũng như Phật nghĩ đến chúng sanh và ngược lại
|
| Quay trở về đầu |
|
| |
|
|